Chương 1: Cơ sở lý luận và mô hình nghiên cứu - Chương 2: Sự hài lòng của khách hàng về dịch vụ tiền gửi tại Agribank - Chi nhánh Tây Sài Gòn. - Chương 3: Giải pháp nâng cao sự hài lòng của khách hàng về dịch vụ tiền gửi tại Agribank - Chi nhánh Tây Sài Gòn. 1 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 1. DỊCH VỤ TIỀN GỬI CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.
Khái niệm ngân hàng thƣơng mại Theo Luật các Tổ chức Tín dụng được Quốc hội nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam thông qua ngày 12/12/1997 và được sửa đổi bổ sung ngày 16/06/2010, ngân hàng thương mại (NHTM) là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận. Luật này còn định nghĩa, ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng có thể được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật này. Hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số các nghiệp vụ như nhận tiền gửi, cấp tín dụng và cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản. Như vậy, NHTM là một tổ chức tín dụng, kinh doanh tiền tệ dưới hình thức nhận tiền gửi, cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản và các hoạt động kinh doanh khác nhằm mục tiêu lợi nhuận.
Dịch vụ tiền gửi của ngân hàng thƣơng mại 1. Khái niệm dịch vụ tiền gửi Dịch vụ tiền gửi là hoạt động nhận tiền của tổ chức, cá nhân dưới hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm, phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu và các hình thức nhận tiền gửi khác theo nguyên tắc có hoàn trả đầy đủ tiền gốc, lãi cho người gửi tiền theo thỏa thuận. Phân loại dịch vụ tiền gửi Trong thực tiễn, dịch vụ tiền gửi của NHTM thường bao gồm các hình thức sau đây: Tiền gửi không kỳ hạn Để sử dụng các dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt qua ngân hàng, các khách hàng phải mở tài khoản tiền tửi thanh toán tại ngân hàng và có số dư nhất định để sẵn sàng đáp ứng nhu cầu chi tiêu của mình. Như vậy, xét về bản chất, khi mở và gửi tiền vào tài khoản này, mục tiêu của khách hàng không phải là tìm kiếm các khoản lãi từ số dư tài khoản.
Tài khoản này mở cho các đối tượng khách hàng cá nhân hoặc tổ chức, có nhu cầu thực hiện thanh toán qua ngân hàng. Do tài khoản tiền gửi này là loại tài khoản không kỳ hạn, khách hàng có thể rút tiền bất cứ lúc nào mà không cần báo trước cho ngân hàng, nên ngân hàng rất khó kế hoạch hóa việc sử dụng loại tiền gửi này. Chính vì vậy, đối với loại 2 tiền gửi này, ngân hàng thường trả lãi suất rất thấp cho khách hàng, hay nói cách khác, chi phí cho nguồn vốn huy động theo hình thức này là rất rẻ. Ngoài ra, việc thanh toán qua tài khoản tiền gửi không kỳ hạn còn giúp ngân hàng tăng nguồn thu phí dịch vụ và giảm thiểu rủi ro trong hoạt động thanh toán của nền kinh tế.
Tiền gửi có kỳ hạn Đây là loại tiền gửi mà đối tượng khách hàng chủ yếu là các doanh nghiệp, về tính chất thì giống tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn nhưng về mục đích và đối tượng cũng khác nhau. Tiền gửi có kỳ hạn có thể được phân thành nhiều loại kỳ hạn ngày, tuần, tháng. Tiền gửi có kỳ hạn thường có quy mô số dư trung bình lớn hơn so với các khoản tiền gửi tiết kiệm, tạo nguồn vốn tương đối lớn cho hoạt động ngân hàng. Tuy nhiên, nguồn vốn này thường không ổn định và tạo sức ép cho ngân hàng nếu khách hàng rút tiền với số lượng lớn.
Tiền gửi tiết kiệm Tiền gửi tiết kiệm là khoản tiền của khách hàng cá nhân được gửi vào tài khoản tiền gửi tiết kiệm, được xác nhận trên sổ tiết kiệm, được hưởng lãi theo quy định của tổ chức nhận tiển gửi tiết kiệm và được bảo hiểm theo quy định của pháp luật về bảo hiểm tiền gửi. Tài khoản tiền gửi tiết kiệm không được sử dụng để phát hành séc và thực hiện các giao dịch thanh toán. Nhìn chung, tiền gửi tiết kiệm là nguồn vốn tương đối ổn định, cho phép ngân hàng chủ động trong việc sử dụng vốn để cấp tín dụng, đầu tư. Tuy nhiên, lãi suất áp dụng cho các khoản tiền gửi tiết kiệm thường cao hơn và quy mô số dư trung bình của những khoản tiền gửi này thường có giá trị không lớn.
Thông qua các hình thức tiền gửi tiết kiệm khác nhau, các NHTM có thể đáp ứng nhu cầu đa dạng của khách hàng, thông thường có 02 loại cơ bản sau: Một là, tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn. Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn là loại tiền gửi mà người gửi tiền có thể rút theo yêu cầu mà không cần báo trước cho ngân hàng. Đối với khách hàng khi chọn lựa hình thức tiền gửi này thì mục tiêu an toàn và tiện lợi quan trọng hơn là mục tiêu sinh lợi. Đối với ngân hàng, vì loại tiền gửi này khách hàng muốn rút bất cứ lúc nào cũng được nên ngân hàng phải đảm bảo tồn quỹ để chi trả và khó lên kế hoạch sử dụng tiền gửi để cấp tín dụng.
Do vậy, ngân hàng thường trả lãi thấp cho loại tiền gửi này. Hai là, tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn. Đối với khách hàng khi lựa chọn hình thức tiền gửi này là vì mục tiêu an toàn và sinh lợi. Đối tượng khách hàng chủ yếu là các cá nhân muốn có thu nhập ổn định và thường xuyên, đáp ứng cho việc chi tiêu hàng tháng hoặc 3 hàng quý.
Mục tiêu quan trọng của họ khi chọn lựa hình thức tiền gửi này là lợi tức có được theo định kỳ. Do vậy, lãi suất đóng vai trò quan trọng để thu hút được đối tượng khách hàng này. Dĩ nhiên, lãi suất trả cho loại tiền gửi này cao hơn nhiều so với lãi suất cho loại tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn. Ngoài ra, mức lãi suất còn thay đổi tùy theo loại kỳ hạn gửi, tùy theo loại đồng tiền gửi tiết kiệm (VND, USD hay EUR), và tùy theo uy tín và rủi ro của ngân hàng nhận tiền gửi.
Đối với loại tiền gửi này, khách hàng chỉ được rút tiền theo đúng định kỳ như đã cam kết, không được phép rút trước hạn. Tuy nhiên, để khuyến khích và thu hút khách hàng gửi tiền đôi khi ngân hàng cho phép khách hàng được rút tiền gửi trước hạn nếu có nhu cầu, nhưng khi đó khách hàng bị mất tiền lãi hoặc chỉ được trả lãi theo lãi suất tiền gửi không kỳ hạn. Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn có thể phân chia thành nhiều loại. Căn cứ vào thời hạn có thể chia thành tiền gửi kỳ hạn 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12 và 13 tháng hoặc lâu hơn đến 36 tháng.
Căn cứ vào phương thức trả lãi có thể chia thành tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn lĩnh lãi đầu kỳ, cuối kỳ hoặc lĩnh lãi theo định kỳ. Việc phân chia loại tiền gửi này thành nhiều loại khác nhau làm cho sản phẩm tiền gửi của ngân hàng trở nên đa dạng và phong phú, có thể đáp ứng được nhu cầu gửi tiền đa dạng của khách hàng. Ba là, tiền gửi tiết kiệm có mục đích đặc biệt. Ngoài hai loại tiền gửi tiết kiệm chính là tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn và có kỳ hạn, hầu hết các NHTM đều có thiết kế những loại tiền gửi tiết kiệm khác như tiết kiệm tiện ích, tiết kiệm dự thưởng, tiết kiệm an khang,….
với nét đặc trưng riêng nhằm làm cho sản phẩm của ngân hàng luôn được đổi mới theo nhu cầu khách hàng và tạo ra sự khác biệt để tránh sự bắt chước của các ngân hàng khác. Phát hành giấy tờ có giá Giấy tờ có giá là chứng nhận của ngân hàng phát hành để huy động vốn trong đó xác nhận nghĩa vụ trả nợ một khoản tiền trong một thời hạn nhất định, điều kiện trả lãi và các điều khoản cam kết khác giữa ngân hàng và khách hàng. Căn cứ vào thời hạn, giấy tờ có giá được chia thành 02 loại: Một là, giấy tờ có giá ngắn hạn. Đây là loại giấy tờ có giá có thời hạn dưới một năm, bao gồm kỳ phiếu, chứng chỉ tiền gửi ngắn hạn, tín phiếu và các giấy tờ có giá ngắn hạn khác.
Hai là, giấy tờ có giá dài hạn: Đây là loại giấy tờ có giá có thời hạn từ một năm trở lên, bao gồm trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi dài hạn và các giấy tờ có giá dài hạn khác. Huy động vốn qua phát hành giấy tờ có giá của NHTM được thực hiện tập trung theo từng đợt, phục vụ nhu cầu vốn theo mục tiêu của từng ngân hàng, ổn định hơn so với nguồn 4 vốn huy động dưới hình thức tiền gửi. Tuy nhiên, hình thức huy động vốn này thường có lãi suất và chi phí phát hành cao. Ngoài ra, việc phát hành giấy tờ có giá dài hạn phải được sự chấp thuận của Thống đốc NHNN, căn cứ trên các điều kiện về thời gian hoạt động, lợi nhuận và phương án sử dụng vốn thu được từ phát hành giấy tờ có giá dài hạn.
Tóm lại, tiền gửi là nguồn vốn lớn nhất của các NHTM. Việc duy trì và nâng cao nguồn tiền gửi có ý nghĩa đặc biệt quan trọng việc mở rộng kinh doanh và gia tăng lợi nhuận của ngân hàng. Vì lý do đó, các ngân hàng tập trung nỗ lực khai thác mọi nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội. Tuy nhiên, hoạt động của ngân hàng là hoạt động dịch vụ nên khả năng huy động được nhiều nguồn vốn hay không là thể hiện ở chất lượng dịch vụ của mỗi ngân hàng.
SỰ HÀI LÒNG CỦA KHÁCH HÀNG 1. Khái niệm sự hài lòng của khách hàng Theo Philip Kotler, sự hài lòng của khách hàng là mức độ của trạng thái cảm giác của một người bắt nguồn từ việc so sánh kết quả thu được từ việc tiêu dùng sản phẩm dịch vụ với kỳ vọng của họ. Như vậy, mức độ hài lòng là hàm của sự khác biệt giữa kết quả nhận được và kỳ vọng. Khách hàng có thể có cảm nhận một trong ba mức độ hài lòng sau.
Nếu kết quả thực tế thấp hơn so với kỳ vọng thì khách hàng sẽ không hài lòng. Nếu kết quả thực tế tương xứng với kỳ vọng thì khách hàng sẽ hài lòng.