phần mở đầu và kết luận, nội dung chủ yếu của luận văn bao gồm 3 chƣơng: Chƣơng I: Cơ sở lý luận và thực tiễn về chính sách Marketing - Mix trong kinh doanh khách sạn Chƣơng II: Đánh giá thực trạng chính sách Marketing - Mix tại The LaBan Chƣơng III: Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách Marketing – Mix tại The LaBan 4 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHÍNH SÁCH MARKETING – MIX TRONG KINH DOANH KHÁCH SẠN 1. LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ MARKETING – MIX. Khái niệm Marketing, Marketing - Mix. +) Khái niệm marketing.
Marketing là một lĩnh vực có rất nhiều cách hiểu khác nhau. Hoạt động Marketing diễn ra hằng ngày xung quanh ta và đôi khi bản thân ta đang thực hiện các hoạt động Marketing nhƣng chúng ta lại không nhận thấy đƣợc điều đó. Vậy Marketing là gì? Trong quá trình hình thành và phát triển về lý thuyết nghiên cứu Marketing, có rất nhiều học giả đã đƣa ra một số định nghĩa khác nhau về Marketing nhƣ sau: - “Marketing là sự phân tích, kế hoạch hoá, tổ chức kiểm tra những khả năng câu khách của một công ty cũng như chính sách và hoạt động với quan điểm thoả mãn nhu cầu mong muốn của nhóm khách hàng mục tiêu”. (Philip Kotler, 2002) - “Marketing bao gồm mọi hoạt động mà công ty sử dụng để thích nghi với môi trường của mình một cách sáng tạo và có lợi”.
(Ray Corey, 2000) - “Marketing là một khoa học về sự trao đổi, nó nghiên cứu và giải quyết tất cả các quan hệ trao đổi của một tổ chức với môi trường bên ngoài, giúp cho tổ chức đó đạt được những mục tiêu của nó. Trong kinh doanh, marketing là tập hợp các hoạt động của doanh nghiệp nhằm thoả mãn những nhu cầu của thị trường mục tiêu thông qua quá trình trao đổi, giúp doanh nghiệp đạt mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận”. (Trƣơng Đình Chiến, 1999) - “Marketing là một quá trình hoạch định và quản lý thực hiện việc định giá, chiêu thị và phân phối các ý tưởng hàng hoá, dịch vụ nhằm mục đích tạo ra các giao dịch để thoả mãn những mục tiêu của cá nhân, tổ chức và của xã hội”.( Hiệp hội Marketing Hoa Kỳ, 2013) Từ các định nghĩa về Marketing kể trên, ta thấy rằng Marketing bao gồm rất nhiều dạng hoạt động nhƣ: nghiên cứu, sản xuất sản phẩm, tổ chức phân phối, xác 5 định giá cả, quảng cáo – khuyếch trƣơng và bán hàng cho ngƣời tiêu dùng. Cách hiểu này cũng thể hiện đƣợc một mô hình các thành phần của Marketing, đƣợc gọi là Marketing – Mix gồm 4P chính: Product (Sản phẩm); Price (giá cả); Place (Phân phối); Promotion (Xúc tiến).
4 thành phần này các doanh nghiệp có thể kiểm soát đƣợc nên có thể sử dụng mô hình 4P để thực hiện các mục tiêu Marketing phù hợp với thị trƣờng mục tiêu mà mình hƣớng tới, giúp doanh nghiệp có thể đối phó đƣợc với những chiến lƣợc kinh doanh sắc bén của đối thủ cạnh tranh, có thể giải quyết những bế tắc trong khâu bán hàng, tăng uy tín của doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp thu đƣợc nhiều lợi nhuận hơn. Ngày nay, khái niệm Marketing – Mix đƣợc mở rộng ra với thêm nhiều thành phần khác nhau, mở rộng lên thành 7P, bổ sung thêm 3P so với 4P cơ bản: Process (quy trình), People (con ngƣời), và Philosophy (triết lý và tƣ tƣởng văn hóa). Tuy nhiên mô hình McCathy là mô hình tồn tại lâu nhất vì nó dễ nhớ và bao phủ các thành phần rất cơ bản của Marketing (hình vẽ 1. Mỗi công cụ Marketing – Mix của ngƣời bán có mối quan hệ mật thiết tƣơng ứng với các lợi ích của ngƣời mua mà Robert Lauterborn gọi tắt là 4C 1.
Nhu cầu và ƣớc muốn của khách 1. Chi phí đối với khách hàng (Cost to 3. Thông tin (Communication) Hình vẽ 1.1: Mô hình 4P của McCathy và 4C của Lauterborn (Nguồn: Dựa theo McCathy (1960) và Lauterborn (1990)) 6 Phần bên ngoài của 4P, 7P là môi trƣờng Marketing. Môi trƣờng Marketing là các biến mà doanh nghiệp không thể kiểm soát đƣợc, môi trƣờng Marketing bao gồm môi trƣờng vi mô và vĩ mô.
Môi trƣờng vi mô gồm đối thủ cạnh tranh, nhà cung cấp (cung cấp đầu vào cho công ty và cả cho đối thủ cạnh tranh), marketing trung gian (bao gồm các tổ chức trung gian phục vụ cho quá trình marketing nhƣ nhà bán buôn, bán lẻ, đơn vị nghiên cứu thị trƣờng, quảng cáo, ngân hàng…) và cuối cùng là cộng đồng. Môi trƣờng vĩ mô bao gồm môi trƣờng dân số, kinh tế, văn hoá xã hội, luật pháp, chính trị, thiên nhiên và công nghệ. Môi trƣờng vĩ mô marketing tạo nên nhiều cơ hội và đe doạ cho công ty (cũng nhƣ cho các đối thủ cạnh tranh). Nhà marketing phải biết tận dụng các cơ hội cũng nhƣ khắc phục đƣợc các đe doạ để xây dựng kế hoạch marketing phù hợp, giúp doanh nghiệp đạt đƣợc mục tiêu marketing đề ra.
Hiện nay, định nghĩa Marketing của Hiệp hội Marketing Hoa Kỳ và của Philip Kotler đƣợc xem là hoàn chỉnh nhất và đang đƣợc thừa nhận rộng rãi trên toàn thế giới. Từ những định nghĩa trên, có thể hiểu “Marketing – mix là tập hợp những yếu tố biến động kiểm soát được của marketing mà doanh nghiệp phối hợp sử dụng để cố gắng gây được phản ứng mong muốn từ phía thị trường mục tiêu”. Quá trình kinh doanh của mọi doanh nghiệp luôn chịu nhiều biến động. Không chỉ các yếu tố đến từ nền kinh tế, nhu cầu tiêu dùng phức tạp cũng là nguyên nhân dẫn tới việc gặp nhiều rủi ro trong kinh doanh.
Ngày nay lĩnh vực nào cũng có thể ứng dụng marketing, miễn là nó xác lập sứ mệnh phục vụ con ngƣời và vì sự phát triển của loài ngƣời. Marketing giúp hình thành sản phẩm hay cách thức để thỏa mãn nhu cầu ngày càng phức tạp lên của con ngƣời. Vào năm 1953, thuật ngữ về marketing mix lần đầu tiên đƣợc sử dụng khi Neil Borden – chủ tịch hiệp hội Marketing Hoa Kỳ lấy ý tƣởng công thức thêm một bƣớc nữa và đặt ra thuật ngữ Marketing hỗn hợp. “Marketing hỗn hợp (marketing mix) là tập hợp các công cụ tiếp thị đƣợc doanh nghiệp sử dụng để đạt đƣợc trọng tâm tiếp thị trong thị trƣờng 7 mục tiêu”.
Jerome McCarthy, đề nghị phân loại theo 4Ps năm 1960, mà nay đã đƣợc sử dụng rộng rãi. Khái niệm 4Ps đƣợc giải thích phần lớn trong sách giáo khoa về marketing và trong các lớp học. Marketing Mix cơ bản thƣờng xoay quanh bốn yếu tố chủ chốt hay đƣợc gọi là 4Ps (product, price, place, promotion). Tùy vào thực tế thực trạng hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp mà các nhà quản trị lựa chọn thêm nhiều yếu tố khác trong các chiến lƣợc Marketing của họ.
Điển hình là các doanh nghiệp cung cấp sản phẩm bao gồm cả dịch vụ thì mô hình 4Ps đƣợc triển khai lên thành 7Ps để phản ánh những yếu tố đặc thù khác của dịch vụ. Mô hình Marketing 7Ps là một trong những lý thuyết theo xu hƣớng nâng cao vị thế của marketing trong quản trị doanh nghiệp và quản trị tổ chức. Mô hình 7Ps gồm có ba cấp độ.2 Mô hình Marketing mix 7P (Nguồn: Võ Văn Quang) 8 1. Nội dung cơ bản của các chính sách Marketing – Mix 1.1 Chính sách sản phẩm Sản phẩm là mọi thứ có thể bán trên thị trƣờng để khách hàng chú ý, mua, sử dụng hay tiêu dùng, có thể thoả mãn đƣợc mong muốn hay nhu cầu.
Sản phẩm bao gồm 5 mức độ khác nhau: ích lợi cốt lõi, sản phẩm chung, sản phẩm mong đợi, sản phẩm hoàn thiện và sản phẩm tiềm ẩn. Sản phẩm là yếu tố đầu tiên và quan trọng nhất của marketing – mix. Chính sách sản phẩm đòi hỏi phải đƣa ra các quyết định sau: * Quyết định về danh mục sản phẩm, loại sản phẩm: bao gồm các quyết định liên quan đến chiều rộng, chiều sâu của các loại sản phẩm, tức là doanh nghiệp nên kinh doanh bao nhiêu loại sản phẩm, tổng số các loại mặt hàng trong các loại sản phẩm, số lƣợng các loại mặt hàng khác nhau có trong từng nhãn hiệu của từng loại sản phẩm, tính đồng nhất của từng loại sản phẩm. Từ đó doanh nghiệp có thể đẩy mạnh hoạt động kinh doanh của mình theo 4 hƣớng: đƣa ra thêm loại sản phẩm mới để mở rộng danh mục sản phẩm đồng thời lợi dụng danh tiếng của loại sản phẩm hiện có; cố gắng hoàn thiện chất lƣợng sản phẩm hiện có nhằm phục vụ khách hàng tốt nhất; bổ sung thêm những mặt hàng khác nhau về kích cỡ, công dụng, màu sắc… cho từng loại sản phẩm; cố gắng giữ tính đồng nhất nhiều hay ít tuỳ theo họ muốn có uy tín vững chắc trong một số lĩnh vực khác nhau [2,113-114].
* Quyết định về dịch vụ khách hàng: Dịch vụ có thể hết sức quan trọng đối với ngƣời tiêu dùng, tuy nhiên không phải là yếu tố quyết định khi lựa chọn ngƣời cung ứng nếu tất cả những ngƣời cung ứng hiện có đều cung ứng nó ở mức chất lƣợng ngang nhau. Chính vì vậy mỗi công ty cần phải thƣờng xuyên xem xét lại hệ thống cung cấp dịch vụ của mình để đảm bảo khả năng cạnh tranh của nó trƣớc các đối thủ khác. Công ty cũng quyết định cần phải chào mời những dịch vụ quan trọng nào, mức độ chất lƣợng của từng loại và hình thức cung ứng dịch vụ đó ra sao. Hoạt động cung ứng dịch vụ có thể giao cho bộ phận làm dịch vụ khách hàng.
Bộ phận này sẽ giải quyết những đơn khiếu nại và ý kiến nhận xét của khách hàng, giải quyết vấn đề bán chịu, đảm bảo vật tƣ kỹ thuật, phục vụ kỹ thuật và thông tin để phổ biến cho khách hàng [2, 116-117]. 9 * Quyết định về việc phát triển sản phẩm mới: sản phẩm mới ở đây có rất nhiều loại nhƣ sản phẩm mới hoàn toàn, sản phẩm cải tiến, sản phẩm có sự định vị mới, sản phẩm mới đối với phân khúc thị trƣờng mới. Những sản phẩm mới có thể thất bại, mức rủi ro liên quan đến việc đổi mới rất lớn nhƣng lợi ích vật chất gắn liền với nó cũng rất lớn. Sự đảm bảo thành công cho hoạt động đổi mới là việc xây dựng một cơ cấu tổ chức lành mạnh để nghiên cứu những ý tƣởng về hàng hoá mới, tiến hành nghiên cứu nghiêm túc và thông qua những quyết định có căn cứ cho từng giai đoạn sáng tạo ra sản phẩm mới.
Quá trình tạo ra sản phẩm mới gồm 7 giai đoạn. Mục đích của từng giai đoạn là thông qua quyết định nên hay không nên tiếp tục nghiên cứu các ý tƣởng.