Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Ngành du lịch đóng vai trò quan trọng trong cơ cấu kinh tế Việt Nam với mức đóng góp trung bình khoảng 6,6% vào GDP hằng năm. Tỉnh Thừa Thiên Huế sở hữu hệ thống tài nguyên du lịch phong phú gồm 5 di sản văn hóa thế giới được UNESCO công nhận (Quần thể di tích Cố đô Huế, Nhã nhạc cung đình Huế, Mộc bản triều Nguyễn, Châu bản triều Nguyễn và Thơ văn trên kiến trúc cung đình Huế). Sau giai đoạn phục hồi hậu đại dịch, năm 2023, toàn tỉnh đón 3,2 triệu lượt khách (tăng 56% so với năm 2022), trong đó có 1,2 triệu lượt khách quốc tế (tăng 361%), mang lại doanh thu 6.606 tỷ đồng.
Tính đến tháng 12 năm 2022, toàn tỉnh có 853 cơ sở lưu trú; riêng khu vực vịnh Lăng Cô (huyện Phú Lộc) tập trung 45 khách sạn và nhà nghỉ dưỡng với 1.200 phòng và 1.800 giường, tạo nên áp lực cạnh tranh gay gắt. Nhà nghỉ dưỡng Lăng Cô thuộc Công an tỉnh Thừa Thiên Huế được phê duyệt chủ trương xây dựng từ năm 2007, khởi công năm 2010 và chính thức khánh thành, đưa vào vận hành từ tháng 9 năm 2015. Ban đầu, cơ sở được thành lập nhằm phục vụ nhu cầu nghỉ ngơi, điều dưỡng của cán bộ chiến sĩ trong lực lượng Công an nhân dân. Nhằm khai thác tối ưu công suất phòng và cơ sở vật chất sẵn có, đơn vị đã chuyển đổi mô hình kết hợp thực hiện nhiệm vụ chính trị nội bộ với kinh doanh dịch vụ lưu trú thương mại cho du khách ngoài ngành. Giai đoạn 2021 - 2022, cơ sở đã đón 30.567 lượt khách, trong đó khách ngoài ngành đạt 21.507 lượt (chiếm 70,3%). Trong bối cảnh yêu cầu về chất lượng dịch vụ của khách hàng ngày càng nâng cao, đơn vị cần xác định rõ mức độ cảm nhận và sự hài lòng của du khách để cải thiện năng lực cạnh tranh.
Khóa luận xác lập các mục tiêu nghiên cứu cụ thể:
- Mục tiêu chung: Phân tích sự hài lòng của khách du lịch về chất lượng dịch vụ lưu trú tại Nhà nghỉ dưỡng Lăng Cô – Bộ Công an, tỉnh Thừa Thiên Huế, từ đó đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng dịch vụ lưu trú của đơn vị trong thời gian tới.
- Mục tiêu cụ thể:
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về sự hài lòng của du khách đối với chất lượng dịch vụ lưu trú.
- Phân tích thực trạng sự hài lòng của khách du lịch về chất lượng dịch vụ lưu trú tại Nhà nghỉ dưỡng Lăng Cô – Bộ Công an, tỉnh Thừa Thiên Huế.
- Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao sự hài lòng của khách du lịch về chất lượng dịch vụ lưu trú tại đơn vị trong giai đoạn tiếp theo.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu được xác định rõ:
- Đối tượng nghiên cứu: Sự hài lòng của khách du lịch về chất lượng dịch vụ lưu trú tại Nhà nghỉ dưỡng Lăng Cô – Bộ Công an tỉnh Thừa Thiên Huế.
- Đối tượng điều tra: Khách du lịch đã và đang sử dụng dịch vụ lưu trú tại Nhà nghỉ dưỡng Lăng Cô.
- Phạm vi không gian: Nghiên cứu thực hiện tại Nhà nghỉ dưỡng Lăng Cô – Bộ Công an, địa chỉ tại số 495 đường Lạc Long Quân, thị trấn Lăng Cô, huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế.
- Phạm vi thời gian: Số liệu thứ cấp được thu thập trong giai đoạn 2019 – 2022; số liệu sơ cấp thông qua khảo sát thực tế được thu thập từ tháng 01 năm 2024 đến tháng 03 năm 2024.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu vận dụng các khái niệm nền tảng về du lịch và dịch vụ theo quy định pháp luật cùng các mô hình hành vi người tiêu dùng:
- Định nghĩa khách du lịch theo Điều 20 Luật Du lịch năm 2017 và cơ sở lưu trú du lịch theo Khoản 12 Điều 4 Luật Du lịch năm 2005.
- Khái niệm dịch vụ và đặc tính dịch vụ (tính vô hình, tính không thể tách rời, tính không thể cất trữ, tính đa dạng và sự tham gia của người dùng) theo luận điểm của Philip Kotler, Tôn Thất Nguyễn Thiêm (2003) và Lưu Văn Nghiêm (2008).
- Bản chất chất lượng dịch vụ lưu trú được lượng hóa theo công thức tâm lý của Donald M. Davidoff (2002): $S = P - E$ (với $S$ là mức độ thỏa mãn, $P$ là cảm nhận thực tế sau khi tiêu dùng, $E$ là kỳ vọng ban đầu).
- Khung lý thuyết chất lượng dịch vụ kế thừa từ mô hình 5 khoảng cách SERVQUAL của Parasuraman và cộng sự (1985, 1988) và mô hình cảm nhận kết quả thực hiện SERVPERF do Cronin và Taylor (1992) phát triển. Dựa trên ưu thế về tính súc tích của bảng hỏi và việc tránh sự mơ hồ khi đo lường kỳ vọng của khách hàng, tác giả chọn mô hình SERVPERF làm nền tảng chính. Mô hình điều chỉnh gồm 5 thành phần độc lập tác động đến 1 thành phần phụ thuộc: (1) Sự tin cậy (5 biến quan sát: TC1 - TC5), (2) Tính đáp ứng (4 biến quan sát: ĐU1 - ĐU4), (3) Bảo mật và an toàn (4 biến quan sát: BMAT1 - BMAT4), (4) Năng lực phục vụ (3 biến quan sát: NLPV1 - NLPV3), (5) Sự cảm thông (5 biến quan sát: CT1 - CT5), và biến phụ thuộc Sự hài lòng (3 biến quan sát: HL1 - HL3).
Phương pháp nghiên cứu định lượng được triển khai thông qua các kỹ thuật xử lý dữ liệu thống kê:
- Phương pháp thu thập dữ liệu: Dữ liệu sơ cấp được thu thập qua bảng hỏi thiết kế theo thang đo Likert 5 mức độ (từ 1: Rất không đồng ý đến 5: Hoàn toàn đồng ý).
- Chọn mẫu và kích thước mẫu: Sử dụng phương pháp chọn mẫu thuận tiện đối với khách hàng đang lưu trú tại cơ sở. Theo nguyên tắc của Hoàng Trọng và Chu Nguyễn Mộng Ngọc (2008), cỡ mẫu tối thiểu cho phân tích nhân tố khám phá EFA phải bằng ít nhất 5 lần số biến quan sát ($N_{min} = 24 \times 5 = 120$). Tác giả đã phát ra 160 bảng câu hỏi trực tiếp và thu về 160 phiếu hợp lệ đưa vào phân tích ($N = 160$).
- Kỹ thuật phân tích dữ liệu: Dữ liệu được tổng hợp và phân tích bằng phần mềm Microsoft Excel và IBM SPSS 20 thông qua: thống kê mô tả (tần số, tỷ lệ phần trăm, giá trị trung bình); kiểm định độ tin cậy thang đo bằng hệ số Cronbach's Alpha (chấp nhận biến khi tương quan biến - tổng $\ge 0,3$ và hệ số Cronbach's Alpha $\ge 0,6$); phân tích nhân tố khám phá EFA (sử dụng phương pháp trích Principal Component Analysis, phép quay vuông góc Varimax, kiểm định KMO $\ge 0,5$, kiểm định Bartlett có ý nghĩa thống kê $p < 0,05$, hệ số tải nhân tố Factor Loading $> 0,5$, giá trị Eigenvalue $> 1$ và tổng phương sai trích $\ge 50%$); phân tích hồi quy tuyến tính bội để lượng hóa mức độ tác động của từng nhân tố; và phân tích One-way ANOVA để so sánh khác biệt về mức độ hài lòng giữa các nhóm nhân khẩu học.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Cơ sở khoa học về sự hài lòng của khách du lịch về chất lượng dịch vụ lưu trú
Chương này tập trung hệ thống hóa cơ sở lý luận về kinh doanh lưu trú và hành vi khách hàng. Tác giả phân tích các thuộc tính đặc trưng của dịch vụ khách sạn, làm rõ cơ chế hình thành sự hài lòng thông qua việc đối chiếu giữa nhận thức trải nghiệm thực tế với mong đợi của khách hàng. Chương 1 tổng thuật các công trình nghiên cứu tiêu biểu: nghiên cứu nước ngoài của Babak Sohrabi và cộng sự (2011) về khách sạn Tehran tại Iran xác định 5 nhân tố ảnh hưởng (trong đó Độ tin cậy có tác động mạnh nhất với $\beta = 0,339$); các nghiên cứu trong nước của Võ Đại Nhã (2019) tại khách sạn Mondial Huế và Trần Phương Thanh (2022) tại khách sạn Duy Tân Huế. Trên cơ sở so sánh giữa mô hình SERVQUAL và SERVPERF, tác giả lập luận việc lựa chọn thang đo cảm nhận SERVPERF giúp tối ưu hóa số lượng câu hỏi, tránh quá tải thông tin cho khách lưu trú và phản ánh chính xác kết quả trải nghiệm thực tế. Tác giả thiết lập hệ thống 5 giả thuyết nghiên cứu từ H1 đến H5 tương ứng với 5 nhân tố chất lượng dịch vụ ảnh hưởng cùng chiều đến sự hài lòng chung.
Chương 2: Đánh giá sự hài lòng của khách du lịch đối với chất lượng dịch vụ lưu trú tại Nhà nghỉ dưỡng Lăng Cô – Bộ Công an tỉnh Thừa Thiên Huế
Chương 2 trình bày tổng quan về lịch sử hình thành, chức năng, bộ máy quản lý và phân tích thực trạng hoạt động kinh doanh lưu trú của cơ sở giai đoạn 2019 – 2022, kết hợp xử lý số liệu điều tra mẫu 160 khách hàng.
Về tổ chức bộ máy và cơ sở vật chất:
Nhà nghỉ dưỡng hoạt động theo mô hình quản lý trực tuyến gồm Ban Giám đốc (Giám đốc và Phó Giám đốc) phụ trách điều hành chung 5 tổ chuyên môn: Tổ kế toán; Tổ lễ tân; Tổ bếp, nhà hàng; Tổ buồng phòng; Tổ bảo trì điện nước, sân vườn, cây cảnh; và Tổ bảo vệ, cứu hộ cứu nạn. Khuôn viên cơ sở bao gồm 4 phân khu tách biệt với hơn 100 phòng nghỉ đạt diện tích 40 $m^2$/phòng (khu nhà đa năng, khu nhà B, khu nhà C và khu biệt thự), cùng hệ thống hội trường sức chứa 300 khách, nhà hàng và hồ bơi hướng biển. Mức giá phòng công bố năm 2020 dao động từ 700.000 đồng/đêm đến 1.000.000 đồng/đêm.
Về tình hình lao động (2019 – 2022):
Quy mô nhân sự có sự biến động mạnh do ảnh hưởng của đại dịch Covid-19 và phục hồi nhanh chóng trong năm 2022.
| Chỉ tiêu phân loại |
Năm 2019 |
Năm 2020 |
Năm 2021 |
Năm 2022 |
Cơ cấu năm 2022 (%) |
So sánh 2022/2021 (%) |
| Tổng số lao động (người) |
50 |
42 |
35 |
61 |
100,0 |
+74,29 |
| Theo giới tính: |
|
|
|
|
|
|
| - Nam |
32 |
32 |
27 |
28 |
46,0 |
+3,70 |
| - Nữ |
18 |
10 |
8 |
33 |
54,0 |
+312,50 |
| Theo trình độ chuyên môn: |
|
|
|
|
|
|
| - Đại học |
21 |
19 |
19 |
22 |
36,0 |
+15,79 |
| - Trung cấp |
15 |
13 |
10 |
18 |
30,0 |
+80,00 |
| - Sơ cấp |
14 |
10 |
6 |
21 |
34,0 |
+250,00 |
| Theo tính chất công việc: |
|
|
|
|
|
|
| - Lao động trực tiếp |
41 |
33 |
27 |
53 |
87,0 |
+96,30 |
| - Lao động gián tiếp |
9 |
9 |
8 |
8 |
13,0 |
0,00 |
| Theo hình thức sử dụng lao động: |
|
|
|
|
|
|
| - Biên chế |
7 |
7 |
7 |
9 |
15,0 |
+28,57 |
| - Hợp đồng lao động |
43 |
35 |
28 |
52 |
85,0 |
+85,71 |
Về kết quả kinh doanh dịch vụ lưu trú (2019 – 2022):
Năm 2021, hoạt động kinh doanh thương mại tạm dừng hoàn toàn để trưng dụng cơ sở phục vụ công tác phòng chống dịch Covid-19. Đến năm 2022, đơn vị ghi nhận mức tăng trưởng vượt bậc so với năm 2019.
| Chỉ tiêu kinh doanh |
Đơn vị tính |
Năm 2019 |
Năm 2020 |
Năm 2021 |
Năm 2022 |
So sánh 2022/2019 (%) |
| Tổng lượt khách |
Lượt khách |
15.385 |
9.421 |
0 |
30.567 |
+98,68 |
| - Khách trong ngành |
Lượt khách |
4.060 |
3.460 |
0 |
9.060 |
+123,15 |
| - Khách ngoài ngành |
Lượt khách |
11.325 |
5.961 |
0 |
21.507 |
+89,91 |
| Số ngày khách lưu trú |
Ngày |
18.179 |
10.370 |
0 |
45.284 |
+149,10 |
| Thời gian lưu trú bình quân |
Ngày/khách |
1,18 |
1,10 |
0 |
1,48 |
+25,42 |
| Công suất sử dụng phòng |
% |
26 |
22 |
0 |
35 |
- |
| Doanh thu dịch vụ lưu trú |
Triệu đồng |
6.152 |
3.310 |
0 |
12.226 |
+98,73 |
Đặc điểm mẫu khảo sát ($N = 160$):
- Về giới tính: Nữ chiếm 57,5% (92 người), Nam chiếm 42,5% (68 người).
- Về độ tuổi: Nhóm 18 - 40 tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất với 41,9% (67 người); nhóm trên 60 tuổi chiếm 20,6% (33 người); nhóm 41 - 60 tuổi chiếm 20,0% (32 người); nhóm dưới 18 tuổi chiếm 17,5% (28 người).
- Về nghề nghiệp: Nhân viên văn phòng chiếm 31,3% (50 người); công chức, viên chức chiếm 20,0% (32 người); kinh doanh chiếm 17,5% (28 người); cán bộ chiến sĩ chiếm 16,9% (27 người); hưu trí chiếm 11,9% (19 người); nhóm khác chiếm 2,5% (4 người).
- Về thu nhập: Mức 10 - 15 triệu đồng/tháng chiếm 42,5% (68 người); mức trên 5 triệu đồng chiếm 30,6% (49 người); trên 15 triệu đồng chiếm 19,4% (31 người); dưới 5 triệu đồng chiếm 7,5% (12 người).
- Về số lần đến lưu trú: Khách đến lần thứ hai chiếm tỷ trọng cao nhất 47,5% (76 người); lần thứ ba chiếm 40,0% (64 người); trên 4 lần chiếm 7,5% (12 người); lần đầu tiên chỉ chiếm 5,0% (8 người).
- Kênh thông tin tiếp cận: Qua bạn bè/người thân giới thiệu chiếm số lượng cao nhất (71 khách), qua hướng dẫn viên du lịch (52 khách), qua kênh khác (19 khách) và qua Internet chiếm thấp nhất (18 khách).
Kết quả kiểm định độ tin cậy thang đo và phân tích nhân tố khám phá:
Tất cả 6 thang đo đều đạt độ tin cậy cao qua kiểm định Cronbach's Alpha, các biến quan sát đều có hệ số tương quan biến - tổng lớn hơn 0,3 (dao động từ 0,482 đến 0,708), không có biến nào bị loại:
- Sự tin cậy: $\alpha = 0,814$ (5 biến quan sát)
- Tính đáp ứng: $\alpha = 0,813$ (4 biến quan sát)
- Bảo mật và an toàn: $\alpha = 0,768$ (4 biến quan sát)
- Năng lực phục vụ: $\alpha = 0,712$ (3 biến quan sát)
- Sự cảm thông: $\alpha = 0,862$ (5 biến quan sát)
- Sự hài lòng chung: $\alpha = 0,771$ (3 biến quan sát)
Kiểm định EFA đối với 21 biến quan sát của các biến độc lập cho thấy: chỉ số KMO đạt 0,757 ($0,5 < KMO < 1$); kiểm định Bartlett có giá trị thống kê Chi-Square = 1278,650 với mức ý nghĩa $Sig. = 0,000 < 0,05$. Phân tích trích xuất được 5 nhân tố với giá trị Eigenvalues nhỏ nhất là 1,586 ($> 1$), tổng phương sai trích lũy kế đạt 63,570% ($> 50%$), khẳng định 5 nhóm biến độc lập giải thích được 63,570% sự biến thiên của chất lượng dịch vụ lưu trú.
Chương 3: Một số giải pháp nâng cao sự hài lòng của khách du lịch về chất lượng dịch vụ lưu trú tại Nhà nghỉ dưỡng Lăng Cô – Bộ Công an, tỉnh Thừa Thiên Huế
Dựa trên mục tiêu phát triển và kết quả khảo sát thực tế, tác giả đề xuất hệ thống giải pháp tương ứng với 5 khía cạnh chất lượng dịch vụ:
- Nhóm giải pháp về mức độ tin cậy: Đảm bảo thực hiện nghiêm túc và đồng nhất các dịch vụ lưu trú đã giới thiệu, duy trì cam kết hợp đồng buồng phòng, công khai minh bạch bảng kê chi phí phụ trợ và duy trì quy trình phục vụ thông suốt 24/24 giờ.
- Nhóm giải pháp về mức độ đáp ứng: Rút ngắn thời gian tiếp nhận thông tin và xử lý thủ tục nhận phòng (check-in), trả phòng (check-out) tại quầy lễ tân; nâng cao khả năng linh hoạt giải quyết kịp thời các phát sinh của du khách.
- Nhóm giải pháp về bảo mật và an toàn: Tiếp tục duy trì hệ thống kiểm soát an ninh nghiêm ngặt, nâng cấp hệ thống camera giám sát khu vực công cộng; bảo mật tuyệt đối dữ liệu cá nhân của khách lưu trú; kiểm tra định kỳ hệ thống phòng cháy chữa cháy, bảo trì các trang thiết bị tiện nghi trong phòng ở.
- Nhóm giải pháp về năng lực phục vụ: Chuẩn hóa quy trình phục vụ theo tiêu chuẩn ngành du lịch; tổ chức các lớp tập huấn kỹ năng giao tiếp, ngoại ngữ và nghiệp vụ chuyên môn cho đội ngũ nhân viên hợp đồng và lao động trực tiếp; xây dựng phong cách phục vụ nhã nhặn, chuyên nghiệp.
- Nhóm giải pháp về sự cảm thông: Đào tạo nhân viên tinh thần chủ động lắng nghe phản hồi, chăm sóc khách hàng cá nhân hóa, sẵn sàng hướng dẫn du khách tham quan các điểm du lịch tại địa phương và ưu tiên lợi ích chính đáng của khách hàng.
Kết quả và đóng góp
Nghiên cứu mang lại các kết quả định lượng cụ thể phản ánh hoạt động thực tiễn của đơn vị:
- Đã phân tích bức tranh kinh doanh của Nhà nghỉ dưỡng Lăng Cô trong 4 năm: sự sụt giảm sâu trong giai đoạn dịch Covid-19 (năm 2020 giảm 38,77% lượng khách; năm 2021 dừng đón khách thương mại) và sự phục hồi ấn tượng trong năm 2022 với 30.567 lượt khách, mang lại doanh thu 12.226 triệu đồng (tăng 98,73% so với năm 2019).
- Lượng hóa các đặc trưng của khách lưu trú: tỷ lệ khách quay lại rất cao (khách đến từ lần thứ 2 trở lên chiếm 95,0% mẫu điều tra); phương thức tiếp cận chủ yếu dựa vào truyền miệng (bạn bè/người thân chiếm 44,38%) và liên kết công ty du lịch (hướng dẫn viên chiếm 32,5%), trong khi kênh trực tuyến (Internet) chỉ chiếm 11,25%.
- Kiểm định thành công bộ thang đo SERVPERF gồm 24 biến quan sát với độ tin cậy Cronbach's Alpha từ 0,712 đến 0,862 và tổng phương sai trích EFA đạt 63,570%.
- Về giải pháp và đóng góp thực tiễn: Khóa luận đóng góp giải pháp quản lý thực tế cho một đơn vị lưu trú đặc thù thuộc lực lượng vũ trang đang vận hành mô hình kinh tế kép (vừa phục vụ nhiệm vụ điều dưỡng nội bộ vừa kinh doanh dịch vụ thương mại). Kết quả nghiên cứu chỉ ra những điểm nghẽn của đơn vị về thời gian lưu trú ngắn (bình quân 1,48 ngày) và công suất phòng còn thấp (35% năm 2022), làm căn cứ để đưa ra 5 nhóm giải pháp cải thiện cụ thể gắn liền với từng nhân tố chất lượng dịch vụ.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận tồn tại một số hạn chế gắn liền với phạm vi nghiên cứu do tác giả trình bày:
- Phạm vi thu thập dữ liệu thứ cấp chỉ dừng lại ở giai đoạn 2019 – 2022, chưa cập nhật số liệu hoạt động trọn vẹn của năm 2023.
- Phương pháp chọn mẫu là chọn mẫu thuận tiện với kích thước 160 khách hàng tại một thời điểm khảo sát (tháng 01/2024 đến tháng 03/2024), chưa bao quát hết sự biến động theo mùa vụ du lịch biển tại miền Trung (đặc biệt là mùa cao điểm du lịch hè từ tháng 5 đến tháng 8).
- Hướng nghiên cứu tiếp theo: Mở rộng cỡ mẫu điều tra; áp dụng phương pháp chọn mẫu phân tầng theo các nhóm khách (khách nội bộ ngành Công an và khách ngoài ngành); thu thập số liệu đa dạng qua các mùa trong năm; đồng thời phân tích sâu hơn tác động điều tiết của các biến nhân khẩu học và các yếu tố như chính sách giá, tiện ích bổ sung đối với sự gắn kết lâu dài của du khách.
Giá trị tham khảo
Tài liệu có giá trị tham khảo thiết thực cho các nhóm đối tượng học thuật và ứng dụng thực tiễn:
- Sinh viên và học viên chuyên ngành Thống kê kinh doanh, Quản trị dịch vụ du lịch và lữ hành, Quản trị kinh doanh: Cung cấp nghiên cứu điển hình về quy trình ứng dụng mô hình SERVPERF và công cụ phân tích định lượng (Cronbach's Alpha, EFA, ANOVA) trên phần mềm SPSS để đo lường chất lượng dịch vụ khách sạn.
- Cán bộ quản lý tại các đơn vị nhà nghỉ, nhà khách công vụ hoặc cơ sở lưu trú của các cơ quan nhà nước, lực lượng vũ trang: Cung cấp nguồn số liệu thực tế về cơ cấu chi phí, định giá phòng, quản lý lao động biến động mùa vụ/dịch bệnh, và phương thức chuyển đổi khai thác cơ sở vật chất từ phục vụ nội bộ sang kinh doanh cạnh tranh trên thị trường du lịch.
- Nội dung đáng tham khảo nhất: Hệ thống 24 biến quan sát đo lường cụ thể cho cơ sở lưu trú bán công; phương pháp xử lý kiểm định thống kê thang đo; và bảng phân tích cơ cấu nhân sự, tình hình kinh doanh lưu trú chi tiết qua 4 năm.
Câu hỏi thường gặp
1. Khóa luận sử dụng mô hình gốc nào để đánh giá chất lượng dịch vụ và gồm những thành phần nào?
Nghiên cứu sử dụng mô hình cảm nhận chất lượng dịch vụ SERVPERF (Cronin & Taylor, 1992) được điều chỉnh gồm 5 thành phần: Sự tin cậy (5 biến quan sát), Tính đáp ứng (4 biến quan sát), Bảo mật và an toàn (4 biến quan sát), Năng lực phục vụ (3 biến quan sát), và Sự cảm thông (5 biến quan sát).
2. Kích thước mẫu khảo sát thực tế là bao nhiêu và được thu thập trong khoảng thời gian nào?
Kích thước mẫu khảo sát hợp lệ là 160 khách du lịch đang sử dụng dịch vụ tại Nhà nghỉ dưỡng Lăng Cô, được thu thập trực tiếp bằng bảng hỏi từ tháng 01 năm 2024 đến tháng 03 năm 2024.
3. Cơ cấu khách lưu trú tại Nhà nghỉ dưỡng Lăng Cô năm 2022 có đặc điểm gì nổi bật?
Năm 2022, tổng lượt khách đạt 30.567 lượt, trong đó khách ngoài ngành chiếm tỷ trọng vượt trội với 70,3% (21.507 lượt khách), trong khi khách nội bộ ngành Công an chiếm 29,7% (9.060 lượt khách).
4. Kết quả phân tích nhân tố khám phá (EFA) các biến độc lập đạt các chỉ số kỹ thuật như thế nào?
Phân tích EFA đạt hệ số KMO = 0,757; kiểm định Bartlett có mức ý nghĩa $Sig. = 0,000$; trích xuất được 5 nhân tố với giá trị Eigenvalue nhỏ nhất là 1,586 và tổng phương sai trích lũy kế đạt 63,570%.
5. Điểm hạn chế chính trong hoạt động khai thác buồng phòng tại Nhà nghỉ dưỡng Lăng Cô năm 2022 được chỉ ra là gì?
Thời gian lưu trú bình quân của khách tại đơn vị còn ngắn, chỉ đạt 1,48 ngày/khách và công suất sử dụng phòng bình quân mới đạt 35%, cho thấy khách chỉ dừng chân trong thời gian ngắn và cơ sở chưa thu hút được du khách nghỉ dưỡng dài ngày.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Phan Thị Thùy Trang đã giải quyết trọn vẹn mục tiêu đánh giá sự hài lòng của du khách đối với chất lượng dịch vụ lưu trú tại Nhà nghỉ dưỡng Lăng Cô – Bộ Công an, tỉnh Thừa Thiên Huế bằng phương pháp định lượng bài bản. Thông qua việc phân tích thực trạng kinh doanh giai đoạn 2019 – 2022 và kiểm định độ tin cậy thang đo SERVPERF trên cỡ mẫu 160 du khách, tác giả đã làm rõ các thuộc tính chất lượng dịch vụ tại đơn vị. Các giải pháp đề xuất theo 5 nhóm nhân tố có tính khả thi cao, góp phần hỗ trợ ban lãnh đạo nhà nghỉ dưỡng tối ưu hóa hoạt động vận hành và nâng cao năng lực cạnh tranh trong thị trường du lịch địa phương.