CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ SỰ HÀI LÒNG TRONG CÔNG VIỆC CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG TỔ CHỨC 1. Khái niệm và vai trò của sự hài lòng trong công việc của người lao động 1. Khái niệm Theo khoản 1 Điểu 3 Bộ luật lao động 2012,1 “người lao động là người từ đủ 15 tuổi trở lên, có khả năng lao động, làm việc theo hợp đồng lao động, được trả lương và chịu sự quản lý, điều hành của người sử dụng lao động”. Về sự hài lòng trong công việc của người lao động, Smith (2007) quan niệm công việc giữ vai trò trung tâm trong cuộc sống của nhiều người.
Do đó, sự hài lòng với công việc của một người là một thành phần quan trọng trong tổng thể hạnh phúc của người lao động. Lee (2007) định nghĩa sự hài lòng trong công việc là trạng thái mà người lao động cảm nhận và thỏa mãn khi thực hiện công việc có mục tiêu và định hướng hiệu quả rõ ràng. Ông cũng cho rằng sự hài lòng trong công việc được tác động bởi ba nhân tố kết hợp, đó là giá trị kỳ vọng từ công việc, phương tiện làm việc và sự đãi ngộ từ thành quả lao động trong tổ chức. Sự hài lòng trong công việc còn là sự phản ánh về thái độ đối với công việc mà người lao động yêu thích thể hiện qua các yếu tố đánh giá: tiền lương, cơ hội thăng tiến, giám sát cấp trên, mối quan hệ với đồng nghiệp, hài lòng với công việc bản thân (Patricia & James, 1969) và được đánh giá thông qua các chỉ số mô tả công việc (JDI, 2009).
Sự hài lòng của người lao động là mức độ yêu thích công việc hay cố gắng duy trì làm việc của người lao động (Herzberg, 1959) thể hiện qua sự nhận thức tích cực hay tiêu cực hoặc kết hợp tích cực và tiêu cực về các khía cạnh khác nhau trong công việc ảnh hưởng đến bản thân họ. Hackman và Oldham (1975) định nghĩa sự hài lòng trong công việc là chuỗi giá trị trải nghiệm và nhận thức từ sự kết hợp 5 đặc điểm cốt lõi như sự đa dạng kỹ năng, xác định tính chất công việc, tầm quan trọng công việc, quyền quyết định và phản hồi tạo động lực làm việc, hiệu suất công việc cao. 1 Bộ luật lao động Việt Nam, 2012 11 Nhiều nghiên cứu khác định nghĩa sự hài lòng trong công việc dựa trên thang đo nhân tố thỏa mãn người lao động. Sự hài lòng được đánh giá trên cả hai cấp độ là hài lòng với công việc xét về tổng thể và hài lòng với các khía cạnh khác nhau của công việc.
Từ đó mà các tác giả đưa ra các định nghĩa sự hài lòng trong công việc được thể hiện qua các nhóm nhân tố thỏa mãn đo lường. Smith, Kendall và Hulin (1969) cho rằng sự HL của NLĐ được thể hiện qua 5 yếu tố: công việc, tiền lương, đào tạo và cơ hội thăng tiến, sự giám sát và đồng nghiệp. Như vậy, có rất nhiều định nghĩa khác nhau về sự hài lòng trong công việc của người lao động. Luận văn sẽ kế thừa có chọn lọc một số thang đo nhân tố của các nhà nghiên cứu trước trên cơ sở phù hợp với mục tiêu nghiên cứu của đề tài về sự hài lòng của đội ngũ giáo viên giảng dạy tại Công ty Trách nhiệm hữu hạn giáo dục Tháng Năm.
Vai trò của sự hài lòng của người lao động trong tổ chức 1. Ảnh hưởng của sự hài lòng trong công việc với hành vi ứng xử của người lao động Theo Timothy A. Judge và Ryan Klinger (2008), sự hài lòng trong công việc có ảnh hưởng đến hành vi của người lao động như là: sự có mặt tại nơi làm việc; quyết định bỏ việc; quyết định nghỉ hưu; các hành vi rút lui do tâm lý ngại những người, những địa điểm, các hoàn cảnh lạ; các hành vi tự nguyện mang lại lợi ích cho người khác như làm tình nguyện, từ thiện, chia sẻ, giúp đỡ người khác trong tổ chức và xã hội; các hoạt động ủng hộ công đoàn; thực hiện công việc và thái độ khiếm nhã tại nơi làm việc. Nhóm người lao động có mức độ hài lòng cao với công việc thì họ có ít các biểu hiện về các hành vi không tốt so với nhóm lao động bất mãn với công việc.
Ảnh hưởng của sự hài lòng trong công việc đến lòng trung thành của người lao động đối với tổ chức Sau khi khi khảo sát 100 chuyên gia trong lĩnh vực dịch vụ thông tin trong 5 tháng, nghiên cứu của Vanderberg và Lance (1992) đã chỉ ra mối quan hệ chặt chẽ giữa sự hài lòng trong công việc và lòng trung thành của người lao động. Nghiên cứu cho thấy mức độ hài lòng tỷ lệ thuận với mức độ trung thành với tổ chức. Ảnh hưởng của sự hài lòng trong công việc đến sự vắng mặt của người lao động 12 Theo (Aziri B, 2011), giống như các mối quan hệ khác, mối quan hệ giữa sự vắng mặt với sự hài lòng trong công việc có thể thay đổi phụ thuộc vào mức độ hài lòng của người lao động đối với công việc. Hơn nữa, điều quan trọng là sự hài lòng cao trong công việc không nhất thiết là nguyên nhân của sự vắng mặt ít đi, tuy nhiên sự bất mãn trong công việc lại dẫn đến sự vắng mặt nhiều hơn.
Ảnh hưởng của sự hài lòng trong công việc với sự hài lòng trong cuộc sống Theo Judge và Klinger (2008) nhiều nghiên cứu đã chứng minh mối quan hệ có ý nghĩa giữa sự hài lòng trong công việc và sự hài lòng trong cuộc sống. Các nhà nghiên cứu đã dự đoán về ba mô hình của mối quan hệ này có thể xảy ra: (1) mô hình lan tỏa: khi các kinh nghiệm trong công việc có ảnh hưởng đến kinh nghiệm sống và ngược lại; (2) mô hình tách biệt: khi kinh nghiệm trong công việc và trong cuộc sống ít có ảnh hưởng đến nhau; (3) mô hình đền bù: khi người lao động tìm kiếm những thú vui ngoài công việc để bù đắp cho những bất mãn nảy sinh từ công việc và ngược lại. Như vậy, chúng ta có thể thấy sự hài lòng trong công việc và cuộc sống có ảnh hưởng lớn đến nhau. Về cơ bản thì mức độ hài lòng trong cuộc sống là tổng hợp của mức độ hài lòng với các thành phần tạo nên cuộc sống của một con người trong đó có công việc.
Nếu một người bất mãn với công việc thì khó có thể hài lòng với cuộc sống. Một số lý thuyết nghiên cứu về sự hài lòng của người lao động 1. Lý thuyết Thứ bậc nhu cầu của Maslow (1943) 13 (Nguồn:Bùi Anh Tuấn, 2013) Hình 1. Tháp thứ bậc nhu cầu của Maslow Thuyết thứ bậc nhu cầu của Maslow là một trong các lý thuyết đầu tiên nghiên cứu các đóng góp quan trọng đối với sự hài lòng trong công việc.
Lý thuyết này chỉ ra rằng nhu cầu cơ bản của con người được chia thành 5 cấp bậc tăng dần (hình 1.2), bao gồm: các nhu cầu sinh lý (thở, thức ăn, nước uống,…), nhu cầu an toàn (an toàn, việc làm, gia đình,…), nhu cầu xã hội (gia đình, đồng nghiệp, bạn bè, giao tiếp,…nhu cầu tự trọng (thành tựu, địa vị, trách nhiệm, v.) và nhu cầu tự thể hiện bản thân. Khi một nhu cầu bậc thấp nào đó được thỏa mãn thì nhu cầu ở bậc cao hơn kế tiếp sẽ xuất hiện. Lý thuyết nhu cầu của Maslow được phát triển để giải thích động lực của con người nói chung. Tuy nhiên, lý thuyết này cũng được ứng dụng để bố trí công việc và giải thích sự thỏa mãn trong công việc.
Trong một tổ chức, thu nhập tài chính và chăm sóc sức khỏe là các lợi ích giúp người lao động thỏa mãn các nhu cầu sinh lý cơ bản. Các nhu cầu an toàn được thể hiện qua cảm giác của người lao động về sự an toàn thân thể trong môi trường làm việc, cũng như là sự đảm bảo công việc và/ hoặc có các cơ cấu, chính sách công ty phù hợp. Khi những nhu cầu này được thỏa mãn, người lao động cảm thấy họ thuộc về nơi làm việc. Điều này có thể nhận thấy qua các mối quan hệ tích cực với đồng nghiệp và cấp trên tại nơi làm việc, cho dù họ có cảm 14 thấy hay không họ là một phần của nhóm/ tổ chức.
Một khi được thỏa mãn, người lao động sẽ tìm kiếm cảm giác họ được đánh giá và ghi nhận bởi đồng nghiệp và tổ chức của mình. Cuối cùng, người lao động tìm kiếm nơi mà họ được thể hiện, nơi mà họ cần trưởng thành và phát triển để trở thành mọi thứ mà họ có khả năng để trở thành. Lý thuyết Hai nhân tố (Two – factor theory) Trong các thuyết về tạo động lực, thuyết hai nhân tố của Frederick Herzberg giả định rằng các nhân tố bên trong liên quan đến sự thỏa mãn công việc và động cơ, còn các nhân tố bên ngoài có liên quan đến sự bất mãn trong công việc. Nghiên cứu của ông đã chỉ ra hai nhóm yếu tố: nhóm các nhân tố động viên (thành tích, trách nhiệm với công việc, sự công nhận, công việc có tính thử thách, sự thăng tiến, sự trưởng thành trong công việc) và nhóm các nhân tố duy trì (chính sách của công ty, cách quản trị của công ty, sự giám sát của cấp trên, lương bổng, mối quan hệ giữa các cá nhân, điều kiện làm việc, đời sống cá nhân, sự đảm bảo công việc).
Ngoài ra, Herzberg còn chỉ ra rằng đối lập với sự thỏa mãn chưa hẳn là sự bất mãn như trước đây người ta vẫn nghĩ. Việc loại bỏ các nhân tố dẫn đến sự bất mãn trong công việc thật ra là không chắc chắn sẽ tạo ra sự thỏa mãn trong công việc. Do đó, nhà quản trị không thể mong đợi sự thỏa mãn người lao động chỉ bằng cách đơn giản là xóa bỏ các nguyên nhân gây ra sự bất mãn. Vậy nên, việc động viên nhân viên đòi hỏi phải giải quyết thỏa đáng và đồng thời cả hai nhóm nhân tố duy trì và đông viên, không thể chỉ chú trọng và một nhóm nào cả.
Thuyết mong đợi của Vroom Victor Vroom (1964) cho rằng mức độ hành động và động lực của một cá nhân phụ thuộc vào: - Mức độ mà cá nhân kỳ vọng về kết quả đạt được khi đã nỗ lực thực hiện công việc. - Mối liên hệ giữa phần thưởng của tổ chức với kết quả đạt được. - Tính hấp dẫn của phần thưởng đó đối với cá nhân. Lý thuyết này gồm có các mối liên hệ sau: 15 Mối liên hệ giữa nỗ lực và kết quả: Khả năng mà một cá nhân nhận thức được rằng bỏ ra một nỗ lực nhất định sẽ đem lại kết quả.