Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIEN CUA DE TÀI 1.1 Những khái niệm công cụ 1.1 Khai niệm định hướng Định hướng là xác định phương hướng là việc chủ thể hành động đưa ra một hướng di cho hoạt động nào đó trên cơ sở cân nhắc kỹ khả năng, tài chính của từng đối tượng. Mục đích cuối cùng của định hướng là có được một hướng đi phù hợp với mọi điều kiện, hoàn cảnh khách quan và chủ quan của chủ thể. Trong nghiên cứu này, tác giả quan tâm đến việc những học sinh THPT dựa trên cơ sở, điều kiện, năng lực sẵn có của bản thân như thế nào để chọn cho mình một ngành nghề tốt nhất cho ban thân.2 Nghề nghiệp và định hướng nghề nghiệp Nghề hay nghiệp, đại từ tiếng Việt (Nguyễn Như Ý chủ biên, NXB văn hóa thông tin - 1998) định nghĩa: “Nghề” là công việc chuyên làm theo sự phan công của xã hội. Còn nghề nghiệp là nghề nói chung.
Nghé nghiệp trong xã hội không phải là cái gì cố định cứng nhắc mà phải coi nghề nghiệp như một cơ thê song có sự hình thành, phát triển va thay đôi. Nghề là một lĩnh vực hoạt động lao động ma trong đó, nhờ được dao tạo, con người có được những tri thức, những kỹ năng dé làm ra các loại sản phẩm vật chất hay tinh thần nào đó.TSKH Nguyễn Văn Hộ “Nghề nghiệp như một dang lao động vừa mang tính xã hội (sự phân công xã hội) vừa mang tính cá nhân (nhu cầu bản thân)”. Trong đó con người với tư cách là chủ thể hoạt động đòi hỏi để thỏa mãn những nhu cầu nhất định của xã hội và của cá nhân. Nghề nghiệp của con người có thé do được đào tạo chính thức về nghề đó vì nghề đòi hỏi một trình độ tri thức, kỹ năng, kỹ xảo nhất định.
Cũng có nghề được hình thành tự phát do tích lũy kinh nghiệm xã hội hoặc do truyền và học nghề theo cách kèm cặp giữa người biết nghề và chưa biết nghề. Các nghề này 17 chưa có quá trình đào tạo rõ rệt. Nghề được đảo tạo có đặc trưng là người làm nghề phải được cung cấp trình độ tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, làm ra sản phẩm dé trao đôi trên thị trường và thu nhập của người lao động chính là nguồn sống của họ. Chính vì vậy mà họ trở thành đối tượng hoạt động cơ bản, lâu dài của lý tưởng nghề nghiệp từ đó hình thành nhân cách nghề nghiệp.
Nghề được dao tạo đòi hỏi người học nghề phải có trình độ học van, sức khỏe, yêu cầu tâm lý phù hợp với nghề. Sau quá trình đào tạo, người đó phải đạt được tiêu chuẩn cơ bản về kiến thức, kĩ năng, kỹ xảo, tay nghề theo mục tiêu xã hội đòi hỏi, được cấp bằng hay chứng chỉ về nghề.3 Hướng nghiệp Theo các nhà tâm lý học thì hướng nghiệp được hiểu là hệ thống các biện pháp sư phạm, y học giúp cho thế hệ trẻ chọn nghề có tính đến nhu cầu của xã hội và năng lực của bản thân. Các nhà kinh tế học thì cho rằng đó là những mối quan hệ kinh tế giúp cho mỗi thành viên trong xã hội phát triển năng lực đối với lao động và đưa họ vào một lĩnh vực hoạt động cụ thể, phù hợp với việc phân tích lao động xã hội. Nhà tâm lý học K.
Platônôp cho răng: “Hướng nghiệp đó là hệ thống các biện pháp tâm lý, giáo dục, y học nhằm giúp cho con người đi vào cuộc sống thông qua việc lựa chọn cho mình một nghề nghiệp vừa đáp ứng nhu cầu xã hội vừa phù hợp với hứng thú, năng lực của bản thân. Những biện pháp nảy sẽ tạo nên sự thống nhất giữa quyền lợi của xã hội và quyền lợi của cá nhân”.TS Phạm Tat Dong thì khái niệm hướng nghiệp được hiểu trên hai bình diện: - _ Về bình diện xã hội: hướng nghiệp là một hệ thống tác động của xã hội về giáo dục, y học, xã hội học, kinh tế học giúp cho thế hệ trẻ chọn được nghề vừa phủ hợp với năng lực, nhu cầu, hứng thú, nguyện vọng và vừa phải đáp ứng được nhu câu nhân lực của các lĩnh vực sản xuât trong nên kinh tê quôc dân. 18 - Vé bình diện trường phổ thông: Thì hướng nghiệp được coi là công việc tập thé giáo viên, tap thể sư phạm, có mục đích giáo dục học sinh trong việc lựa chọn nghề, giúp cho các em tự quyết định nghề nghiệp tương lai trên cơ sở phân tích khoa học về năng lực, hứng thú của bản thân và nhu cầu nhân lực của xã hội. Hội nghị lần thứ XI bao gồm những người đứng đầu cơ quan giáo dục nghề nghiệp của các nước XHCN họp tại Cuba đã thống nhất về khái niệm hướng nghiệp như sau: “Hướng nghiệp là hệ thống những biện pháp dựa trên cơ sở tâm lý học, sinh lý học, y học và nhiều khoa học khác để học sinh chọn nghề phù hợp với nhu cầu của xã hội.
Đồng thời thỏa mãn tối đa nguyện vọng, thích hợp với những năng lực, sở trường và tâm sinh lý của cá nhân, nhằm mục đích phân bô và sử dụng hợp lý có hiệu quả lực lượng lao động dự trữ có săn của đất nước.2 Các lý thuyết vận dụng trong nghiên cứu đề tài 12.1 Lý thuyết xã hội hóa Theo G.Andreeva thì “Xã hội hóa là quá trình hai mặt. Một mặt cá nhân tiếp nhận kinh nghiệm xã hội bằng cách thâm nhập vào môi trường xã hội vào hệ thống các quan hệ xã hội. Mặt khác cá nhân tái sản xuất một cách chủ động hệ thống các mối quan hệ xã hội thông qua chính việc họ tham gia vào các hoạt động và thâm nhập vào các mối quan hệ xã hội” [6, tr. Theo nhà xã hội học người Pháp Sabran: “Xã hội hóa như một con tàu, cá nhân phải bước lên con tàu xã hội mới trở thành con người xã hội, nếu không cứ phải đứng ở bên tàu”.
Theo quan điểm của nhà xã hội học người Mỹ Neil Smelser: “Xã hội hóa là quá trình mà trong đó cá nhân học cách thức hành động tương ứng với vai trò của mình dé phục vụ tốt cho việc thực hiện các mô hình hành vi tương ứng với hệ thống vai trò của minh dé phục vụ tốt cho việc thực hiện các mô hình hành vi tương ứng với hệ thống vai trò mà cá nhân phải đóng trong cuộc đời mình”. Theo định nghĩa này, vai trò của cá nhân trong xã hội hóa chỉ giới hạn trong việc 19 tiếp nhận các kinh nghiệm, các giá trị, chuan mực, chứ chưa dé cập tới khả năng cá nhân có thé tạo ra những giá trị, kinh nghiệm, chuan mực. Như vậy, cá nhân trong quá trình xã hội hóa không đơn thuần thu nhận kinh nghiệm xã hội, mà còn chuyên hóa nó thành những giá trị, tam thế, xu hướng của cá nhân dé tham gia tái tạo, “tái sản xuất” chúng trong xã hội. Mặt thứ nhất của quá trình xã hội hóa là sự thu nhận kinh nghiệm xã hội thể hiện sự tương tác của con người trở lại môi trường thông qua hoạt động của mình.
Như vậy, một cá nhân không thê trưởng thành, không có nhân cách hoàn thiện nếu không thu nhận được hệ thống các quan hệ, liên kết xã hội, nếu không thâm nhập vào xã hội. Quá trình xã hội hóa diễn ra trong suốt cuộc đời của mỗi con người. Có 4 nhân tổ chính tác động đến quá trình xã hội hóa của cá nhân đó là gia đình, nhà trường, bạn bè và các phương tiện truyền thông đại chúng. Ngoài các yếu tố cơ bản ở trên thì còn có rất nhiều nhân tố tác động đến quá trình xã hội hóa của cá nhân như: các chính sách của Đảng và nhà nước, dư luận xã hội, tôn giáo.
Trong phạm vi dé tài này tác giả chi xem xét đến khía cạnh là 4 nhân tố tác động chính lên đối tượng nghiên cứu đó là gia đình, nhà trường, bạn bè, truyền thông. + Gia đình Gia đình là tác nhân xã hội hóa đầu tiên và quan trọng đối với cá nhân. Đối với hầu hết các cá nhân thì gia đình là môi trường xã hội hóa đầu tiên của cá nhân, đó là day cho trẻ những kinh nghiệm xã hội, các giá tri, tiêu chuẩn văn hóa và dần dần trẻ em sẽ đưa nó vào sâu trong ý thức của cá nhân. Thông qua quá trình đó gia đình không chỉ đưa trẻ em đến với thế giới hữu hình mà còn đặt chúng vào trong xã hội.
Mỗi gia đình là một mô hình văn hóa thu nhỏ với những giá trị truyền thống riêng, lối sông riêng. Trong gia đình các cá nhân sẽ lựa chọn dé tiếp nhận những giá tri, cách xử sự, hành vi ứng xử của ông bà, cha mẹ. Và gia đình cũng là nơi dau tiên truyền cho những thành viên mới sinh ra của xã hội những ý niệm 20 về giới tính và trong gia đình trong hầu hết các nền văn hóa trẻ nhỏ được dạy rằng con trai cần phải mạnh mẽ, bản lĩnh còn con gái sẽ phải nhỏ nhẹ, dịu dàng. Như vậy có thé khang định vai trò của gia đình là rất lớn trong quá trình xã hội hóa của con người.
+ Nhà trường Nhà trường là nơi con người bắt đầu được tiếp xúc với tính đa dạng xã hội tương tác với những thành viên không phải trong tập thể cơ bản là gia đình mình. Nhà trường sẽ cung cấp cho trẻ những kiến thức từ tự nhiên, văn hóa và xã hội. Những kiến thức này sẽ là nền tảng cho những chặng đường sau này của trẻ. Và ở nhà trường trẻ sẽ có nhiều tương tác với các cá nhân khác, điều này sẽ giúp trẻ nhận biết thêm những khía cạnh mới như chủng tộc, giới tính.
Nhà trường sẽ có những quy định nội quy mà trẻ cần phải tuân thủ, điều này sẽ hình thành dần trong trẻ ý thức về quy tắc, chuân mực. Tính đa dạng xã hội của nhà trường thường tạo ra nhận thức rõ ràng hơn về vị trí của mình trong cau trúc xã hội đã hình thành trong quá trình xã hội hóa ở gia đình. Nhà trường cũng giúp cho các cá nhân định hướng lại những tác động từ nhóm bạn bè hay những ảnh hưởng khác từ các quá trình hoc hoi phi chính thúc. Trường học không chỉ là một thiết chế xã hội hóa hay một thiết chế giáo dục mà còn là một cơ chế sảng lọc, lựa chọn và định hướng cá nhân phát triển theo những con đường phù hợp với khả năng và những điều kiện năng lực sẵn có của bản thân.