Chương 1: TỔNG QUAN Chương 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT Chương 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Chương 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU Chương 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 123doc 5 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT Chương 2 này nhằm mục đích giới thiệu hệ thống cơ sở lý luận cho nghiên cứu. Trên cơ sở này, các mối quan hệ được xây dựng cùng với các giả thuyết. Chương này bao gồm những phần sau đây: (1) Nghiên cứu phương pháp giảng dạy (2) Nghiên cứu phong cách học tập (3) Nghiên cứu mối quan hệ giữa phương pháp giảng dạy và phong cách học tập (4) Khái niệm kiến thức thu nhận (5) Nghiên cứu mối quan hệ giữa phong cách học tập và kiến thức thu nhận (6) Mô hình lý thuyết về mối quan hệ giữa phương pháp giảng dạy, phong cách học tập ảnh hưởng đến kiến thức thu nhận 2. Phương pháp giảng dạy: 2.
Định nghĩa phương pháp giảng dạy: Theo Gutek (1988), phương pháp giảng dạy là cách thức được giảng viên tiến hành giúp sinh viên có kinh nghiệm, có kỹ năng hoặc kiến thức. Ngoài ra, phương pháp giảng dạy được định nghĩa là một cách tổ chức các hoạt động sư phạm được thực hiện phù hợp với một số quy tắc để đưa sinh viên đạt tới mục tiêu cụ thể (Prégent 1990, theo Pai & Juma & Peter 2007). Các phương pháp giảng dạy: Theo Henry (2000) đề nghị áp dụng một số phương pháp giảng dạy trong quá trình giảng dạy như như 1) thảo luận nhóm, 2) tình huống và 3) đóng vai 4) giải quyết vấn đề 5) diễn thuyết a. Phương pháp thảo luận nhóm: Theo Hải & ctg (2010) mô tả phương pháp thảo luận nhóm là lớp học được chia thành từng nhóm nhỏ từ 5 đến 7 sinh viên.
Tùy mục đích, yêu cầu của vấn đề học tập, các nhóm được phân chia ngẫu nhiên hay có chủ định, được duy trì ổn định hay thay đổi trong từng phần của môn học, được giao cùng một nhiệm vụ hay những nhiệm vụ khác nhau. Khi làm việc nhóm, các thành viên phải làm việc theo quy định do giảng viên đặt ra hoặc do chính nhóm đặt ra. Các thành viên đều phải làm việc chủ động, 123doc 6 không thể ỷ lại vào một vài người hiểu biết và năng động hơn. Các thành viên trong nhóm giúp đỡ nhau tìm hiểu vấn đề nêu ra trong không khí thi đua với các nhóm khác.
Phương pháp hoạt động nhóm giúp các thành viên trong nhóm chia sẻ các băn khoăn, kinh nghiệm của bản thân, cùng nhau xây dựng nhận thức mới. Bằng cách nói ra những điều đang nghĩ, mỗi người có thể nhận rõ trình độ hiểu biết của mình về chủ đề nêu ra, thấy mình cần học hỏi thêm những gì. Theo Henry (2000), phương pháp thảo luận nhóm có những ưu điểm như thành viên trong nhóm bị lôi cuốn, thành viên trong nhóm tham gia học tập và đánh giá ý tưởng của nhóm, thành viên trong nhóm linh hoạt vì nhóm có thể thay đổi, nhóm được chia theo sở thích, kiến thức hoặc kinh nghiệm, quan điểm khác nhau của thành viên được chia sẽ, thành viên tham gia trong nhóm trở nên thân thiện với nhau.Tuy nhiên, thành viên trong nhóm có thể bị động, giảng viên có thể mất kiểm soát, thành viên của nhóm không liên lạc với giảng viên là khuyết điểm. Phương pháp tình huống: Theo Henry (2000) mô tả phương pháp tình huống sử dụng trong giảng dạy là tình huống sử dụng kỹ thuật điều tra để phân tích tình huống thực tế hay giả định.
Mục đích của phương pháp tình huống giúp thành viên tham gia suy nghĩ và hợp tác. Tất cả thành viên tham gia vào tình huống, được khuyến kích phát triển cách tiếp cận linh hoạt về tổ chức vấn đề. Thường không có “trả lời đúng” mà có nhiều kết quả giải thích khác nhau. Một tình huống thường có thể được sử dụng cho hầu hết các vấn đề, gồm nhiều chi tiết và được sắp xếp theo dạng đoạn văn, gồm khoảng 50 trang.
Một tình huống thường kích thích sự động não của người học, sáng tạo, thích thú và kiến thức tích lũy. Mọi thành viên đóng góp ý kiến, nhóm đánh giá và kết luận. Tình huống được thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau như văn bản (thông báo, thư, đoạn văn, đoạn văn đối thoại, độc thoại, tình huống suy đoán,.); phim; trò chuyện. Những tình huống dành cho cá nhân trong một chủ đề cụ thể có thể được thực hiện dựa vào những cá nhân cụ thể.
Những tình huống này trình bày làm cho vấn đề mang tính thực tế hơn tình huống cơ bản đã được viết trước. Tình huống cũng có thể đơn 123doc 7 giản hóa sự kiện và ý tưởng. Thời gian đọc tình huống giảm vì vậy sẽ nhanh hơn. Có thể kết hợp nhiều hình thức hỗ trợ khác, ví dụ như giáo trình được biên soạn dùng cho các thông tin của tình huống và âm thanh của máy cát sét dùng cho tình huống đàm thoại.
Tình huống giúp cho các thành viên hiểu về tình huống và mối quan hệ, các thành viên hình thành thảo luận cơ bản. Theo Henry (2000), phương pháp tình huống có những ưu điểm như hoạt động năng động kích thích sở thích của người học, nhiều tình huống được xây dựng trên những sự kiện thực, hấp dẫn thành viên, tạo cơ hội cho người học phân tích, thảo luận nhóm hoặc cá nhân nghiên cứu, người học được hình thành quan điểm và phán đoán cá nhân, người tham gia thấy được có nhiều cách nhìn khác nhau để hiểu tình huống và nhiều giải pháp cho cùng một vấn đề. Và người học thu được kinh nghiệm và hiểu biết. Người học sử dụng kỹ năng giao tiếp, giảm thái độ cố chấp của người học.
Tuy nhiên, phương pháp tình huống cũng có một số khuyết điểm như nhiều thành viên trong nhóm thể hiện sự tự tin thái quá trong thảo luận, người tham gia tình huống không thực sự có kinh nghiệm trong tình huống và tình huống có thể không được thích nghi với tất cả chủ đề hoặc người học, có nhiều khó khăn đối với nhóm lớn hoặc tình huống quá đơn giản. Phương pháp đóng vai: Theo Henry (2000) mô tả phương pháp đóng vai trong đóng vai là hình thức năng động của tình huống và được thiết kế để thể hiện lại thế giới thật. Đóng vai thường dựa vào hướng dẫn hoặc những khó khăn về mối quan hệ của con người. Có 2 dạng đào tạo chính, phương pháp đóng vai được sử dụng cho: (1) Kỹ năng tương tác giữa những cá nhân trong trường hợp cụ thể, ví dụ như kỹ năng phỏng vấn.
Đây là phương pháp đào tạo được xây dựng ở mức độ cao. (2) Kỹ năng tương tác giữa các cá nhân cho từng cá nhân, có thể giúp cho giảng viên phát hiện kỹ năng cần cải thiện. Dạng đào tạo này rất linh hoạt, tuy nhiên mất nhiều thời gian và có sự nguy cơ của những vai trò mới hoặc chưa được thử nghiệm không hoạt động tốt. Tình huống có thể là thật hay giả định.
Phương pháp có thể được sử dụng như sự chứng minh nhằm 123doc 8 minh họa một vấn đề hoặc phát sinh nhằm thảo luận nhóm. Chính người tham gia đóng vai hoặc tham gia những tính cách khác biệt hoặc quan sát người tham gia thực hiện. Người đóng vai mô tả vai trò cụ thể và giải quyết vai trò đó; giải pháp được thực hiện bởi quan điểm của người được đóng vai. Phương pháp đóng vai chuẩn bị thành những tình huống thông qua thảo luận và hỗ trợ người học nhận thức vai trò và vấn đề của người khác.
Tình huống có thể thay đổi cho phù hợp, từ thấp đến cao. Người học có kinh nghiệm qua bài tập tình huống bởi những hoạt động đóng vai, suy nghĩ và bình luận hoạt động người khác. Theo Henry (2000), phương pháp đóng vai có những ưu điểm như đóng vai thể hiện được thông tin, thể hiện giao tiếp thái độ, đóng vai được xem như là môi trường đào tạo an toàn, đóng vai có thể thay đổi thái độ người học, giúp phát triển kỹ năng thực tế cho người học, đóng vai kiểm tra hiệu quả của kỹ thuật, đóng vai đạt được sự phản hồi từ người học, đóng vai xác định những vấn đề khác ngoài việc học và đóng vai giúp người học học cách người khác suy nghĩ và cảm nhận. Ngoài ra, đóng vai thay đổi hành vi và chuẩn bị kinh nghiệm mới cho người học.
Tuy nhiên, người học xem đóng vai như hoạt động trẻ con nên hành động thái quá, người tham gia đóng vai cần tập trung vào vấn đề và người đóng vai thường mắc lỗi hỗ thẹn. Và sự bất lợi thực tập kỹ năng tương tác giữa các cá nhân trong đời thường rất thiếu, đặc biệt là cho người học chưa có kinh nghiệm là những khuyết điểm này. Phương pháp giảng quyết vấn đề: Theo Kevin & ctg (2010) cho rằng phương pháp giải quyết vấn đề được sử dụng vì sinh viên phát huy tinh thần ham học hỏi. Theo Henry (2000) mô tả phương pháp giải quyết vấn đề trong giảng dạy là cung cấp chỉ dẫn để người tham gia giải quyết vấn đề.
Người học cần phải thực hiện những bước như sau (a) Xác định vấn đề: để nhận diện vấn đề, người học sử dụng một số kỹ thuật như biểu đồ Pareto, động não, thống kê, biểu mẫu (b) Thu thập dữ liệu: người học có thể thu thập dữ liệu từ nhiều phương pháp như động não, phân tích giá trị (c) Ý tưởng giải quyết vấn đề: người học sử dụng phương pháp động não hoặc kỹ thuật thảo luận (d) Chọn giải pháp: người học sử dụng 123doc 9 một số kỹ thuật bình chọn, tiên đoán thành công hoặc thất bại và phân tích rủi ro nhằm hỗ trợ ra quyết định (e) Thực hiện giải pháp: người học thường câu hỏi thông dụng như (Khi nào thực hiện? Thực hiện ở đâu? Tại sao phải thực hiện? Giải quyết cái gì? Ai thực hiện ? Cách nào để giải quyết?. Động não là kỹ thuật hữu dụng nhất. Những câu hỏi quá khứ hoặc hiện tại hoặc tương lai được sử dụng. Những chiến thuật cơ bản nhưng hiệu quả đối với phương pháp giải quyết vấn đề như tiếp tục giải quyết từng phần vấn đề tại một thời điểm, tập trung lợi ích và hiệu quả, sử dụng luận chứng và sử dụng lưu đồ để thực hiện mục tiêu.
Phương pháp diễn thuyết: Diễn thuyết là phương pháp giảng dạy truyền thống và được sử dụng rộng rãi (Henry, 2000). Theo Osborne (1996) định nghĩa phương pháp diễn thuyết là cuộc thảo được sắp xếp có cấu trúc, thường sử dụng sự trợ giúp của thị giác, hoặc không có sự tham gia của nhóm. Tác giả Eitinggon (1989) định nghĩa phương pháp diễn thuyết là sự truyền tải thông tin đến khán giả có số lượng lớn.