Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Chất lượng môi trường không khí tại thành phố Hà Nội trong giai đoạn 2017–2020 liên tục ghi nhận diễn biến phức tạp và ở ngưỡng báo động. Theo báo cáo hiện trạng môi trường, Hà Nội từng xếp trong nhóm 15 đô thị có mức độ ô nhiễm không khí cao nhất khu vực Đông Nam Á vào năm 2019 với nồng độ bụi mịn PM2.5 trung bình đạt 46,9 µg/m³; chỉ số này năm 2017 là 42,6 µg/m³. Nồng độ PM2.5 bình quân 4 năm (2017–2020) đạt 42,05 µg/m³, vượt gần gấp đôi giới hạn quy định tại Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng không khí xung quanh (QCVN 05:2013/BTNMT với ngưỡng 25 µg/m³) và cao gấp hơn 4 lần khuyến nghị của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO là 10 µg/m³). Ngay cả trong năm 2020, khi hoạt động giao thông và sản xuất gián đoạn do giãn cách xã hội phòng dịch COVID-19 làm nồng độ PM2.5 giảm 18% xuống mức 37,9 µg/m³, tỷ lệ số ngày có nồng độ bụi mịn vượt chuẩn QCVN vẫn chiếm tới 69,4%.

Thiệt hại do ô nhiễm không khí tại Việt Nam ước tính làm suy giảm khoảng 10,8 đến 13,2 tỷ USD mỗi năm, tương đương 5% GDP cả nước; riêng năm 2016 đã ghi nhận xấp xỉ 60.000 ca tử vong liên quan đến ô nhiễm không khí. Tại địa bàn Hà Nội, khoảng 3,5 triệu dân cư chịu tác động trực tiếp từ bụi mịn PM2.5, dẫn đến gia tăng tỷ lệ tử vong và mắc các bệnh lý nghiêm trọng như thiếu máu cơ tim cục bộ (IHD), đột quỵ, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD) và ung thư phổi. Mỗi năm thành phố ghi nhận bình quân 1.062 ca nhập viện do bệnh lý tim mạch phát sinh từ sự gia tăng ngắn hạn của PM2.5 (chiếm 1,2% tổng số ca tim mạch toàn thành phố), đồng thời phải tiêu tốn khoảng 7,74% tổng sản phẩm trên địa bàn cho các chi phí y tế và an sinh xã hội liên quan.

Bên cạnh khí thải từ phương tiện giao thông (chiếm 25%) và hoạt động đốt phụ phẩm nông nghiệp (chiếm 22%), việc sử dụng than tổ ong phục vụ sinh hoạt và kinh doanh dịch vụ ăn uống được xác định là nguồn phát thải nội tại nghiêm trọng, đóng góp từ 15% đến 20% tổng lượng bụi mịn PM2.5 toàn thành phố (báo cáo LEAP-IBC của Viện Môi trường Stockholm xác định tỷ lệ này là 15%). Trước tình hình đó, Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội đã ban hành nhiều chủ trương, định hướng: Nghị quyết số 05/NQ-HĐND ngày 03/8/2016 của Hội đồng nhân dân thành phố; Kế hoạch số 160/KH-UBND ngày 03/7/2017 nhằm triển khai Nghị quyết số 11/NQ-TU ngày 31/5/2017 của Thành ủy Hà Nội; và đặc biệt là Chỉ thị số 15/CT-UBND ngày 30/10/2019 đặt mục tiêu xóa bỏ hoàn toàn việc sử dụng bếp than tổ ong trên toàn địa bàn trước ngày 31/12/2020.

Khóa luận xác định hai mục tiêu nghiên cứu cụ thể:

  1. Đánh giá hiện trạng sử dụng bếp than tổ ong trên địa bàn quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội.
  2. Đề xuất, kiến nghị các giải pháp quản lý, giảm thiểu hướng tới thay thế hoàn toàn bếp than tổ ong.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Hiện trạng sử dụng bếp than tổ ong trên địa bàn quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội.
  • Phạm vi không gian: Khảo sát thực địa tập trung tại 5 phường có mật độ sử dụng bếp than tổ ong lớn nhất trên địa bàn quận Hoàn Kiếm, bao gồm: Chương Dương, Phúc Tân, Trần Hưng Đạo, Hàng Trống và Đồng Xuân.
  • Phạm vi thời gian: Số liệu thứ cấp được tổng hợp trong giai đoạn 2017–2020; hoạt động điều tra, phỏng vấn thực địa sơ cấp được thực hiện từ tháng 02/2021 đến tháng 04/2021.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận vận dụng hệ thống cơ sở lý thuyết về hóa học môi trường, quản lý chất lượng môi trường không khí và khung văn bản pháp quy hiện hành:

  • Cơ sở lý thuyết về nhiên liệu than tổ ong: Khái quát nguồn gốc kỹ thuật (xuất hiện từ châu Âu, du nhập vào Nhật Bản cuối thế kỷ 18 qua thương nhân Hà Lan và Ý, hiện phổ biến tại Đông Á và Đông Nam Á). Về thành phần, than tổ ong được chế biến từ than cám chất lượng thấp chứa hàm lượng lưu huỳnh cao, phối trộn với đất bùn, tro xỉ và dầu nhớt thải để tăng khả năng bắt cháy; nhiệt lượng đạt khoảng 16.000–20.000 kJ/kg, thời gian cháy duy trì từ 4–8 giờ với chi phí 3.000–4.000 đồng/viên. Quá trình đốt cháy phát thải các khí độc hại gồm cacbon monoxit (CO), lưu huỳnh đioxit (SO2), các oxit nitơ (NOx), cacbon đioxit (CO2), các hợp chất hữu cơ bay hơi không chứa metan (NMVOCs), bụi mịn PM2.5, hợp chất hữu cơ mạch vòng và oxit kim loại độc hại (PbO, ZnO). Ngoài ra, cấu tạo vỏ bếp làm từ vật liệu cách nhiệt chứa bông thủy tinh hoặc amiang bị bong tróc theo thời gian phát tán bụi sợi vô cơ vào đường hô hấp người sử dụng.
  • Khung văn bản quy phạm pháp luật: Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia QCVN 05:2013/BTNMT về chất lượng không khí xung quanh; Chỉ thị số 15/CT-UBND ngày 30/10/2019 của UBND thành phố Hà Nội về việc thay thế và loại bỏ toàn bộ việc sử dụng than tổ ong làm nhiên liệu trong sinh hoạt, kinh doanh dịch vụ; Nghị định số 155/2016/NĐ-CP ngày 18/11/2016 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường.

Phương pháp nghiên cứu thực tế được triển khai bao gồm:

  • Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp: Tiếp cận và phân tích các báo cáo quan trắc định kỳ của Sở Tài nguyên và Môi trường Hà Nội; báo cáo mô hình hóa LEAP-IBC của Viện Môi trường Stockholm (Thụy Điển - SEI); dữ liệu đo đạc chỉ số ô nhiễm của IQAir-AirVisual (2020); các văn bản hành chính, báo cáo tiến độ thực hiện Chỉ thị 15/CT-UBND do UBND quận Hoàn Kiếm và Chi cục Bảo vệ Môi trường Hà Nội cung cấp.
  • Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp: Sử dụng bảng hỏi điều tra cấu trúc kết hợp phỏng vấn sâu trực tiếp. Mẫu khảo sát người dân được thiết kế theo phương pháp chọn mẫu tối thiểu với tổng cộng 150 phiếu chia đều cho 5 phường trọng điểm (30 phiếu/phường). Cơ cấu mẫu gồm: 50 phiếu phỏng vấn các hộ dân đang trực tiếp sử dụng bếp than tổ ong (tập trung tại các hàng quán ẩm thực vỉa hè và khu dân cư sâu trong ngõ hẻm) và 100 phiếu phỏng vấn các hộ gia đình đã chuyển đổi thành công sang các loại bếp thay thế. Đồng thời, tác giả thực hiện phỏng vấn sâu 6 cán bộ quản lý nhà nước (gồm bà Trịnh Minh Phương - Phó trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường quận Hoàn Kiếm cùng 5 cán bộ lãnh đạo đại diện UBND 5 phường nghiên cứu).
  • Phương pháp xử lý dữ liệu: Toàn bộ số liệu sơ cấp và thứ cấp được nhập liệu, phân loại, tính toán tỷ lệ phần trăm và tổng hợp thống kê bằng phần mềm Microsoft Excel, trình bày dưới dạng bảng so sánh và các biểu đồ chuyên đề.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan nghiên cứu

Chương 1 hệ thống hóa cơ sở thực tiễn và lý luận liên quan đến chất lượng không khí và tác nhân bếp than tổ ong. Tác giả phân tích hiện trạng không khí Hà Nội giai đoạn 2017–2020 dựa trên chuỗi số liệu PM2.5, chỉ ra quy luật gia tăng ô nhiễm vào mùa đông (tháng 11 đến tháng 1 năm sau) do hiện tượng nghịch nhiệt ngăn cản sự khuếch tán chất ô nhiễm. Về nguồn thải, việc sử dụng than tổ ong sinh hoạt đóng góp 15% tổng lượng PM2.5 toàn thành phố, phát sinh lượng xỉ than hàng trăm tấn mỗi ngày gây quá tải hạ tầng thu gom chất thải rắn. Đốt than tổ ong sinh ra nồng độ CO cao gây thiếu oxy mô, tổn thương hệ thần kinh trung ương; khí SO2 và NOx gây tổn thương phế quản và biến chứng đường thở; nguy cơ sảy thai, dị tật thai nhi ở phụ nữ mang thai khi tiếp xúc thường xuyên; bụi amiang từ vỏ lò gây xơ hóa phổi. Chương này cũng phân tích tiến trình chính sách của Hà Nội từ Kế hoạch 160/KH-UBND (2017) với mức giảm bếp ban đầu chỉ đạt 30% sau 2 năm, dẫn tới việc ban hành Chỉ thị số 15/CT-UBND (2019) xác định 4 nhóm giải pháp trọng tâm: truyền thông, hỗ trợ kỹ thuật chuyển đổi, kiểm tra điều kiện sản xuất kinh doanh than và xử phạt vi phạm hành chính theo Nghị định 155/2016/NĐ-CP từ ngày 01/01/2021.

Chương 2: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Chương này xác lập quy chuẩn kỹ thuật cho việc triển khai đề tài. Nội dung nghiên cứu được chia tách thành 4 hợp phần logic: phân tích biến động số lượng bếp than toàn thành phố giai đoạn 2017–2020; đánh giá hiện trạng chi tiết tại quận Hoàn Kiếm; khảo sát công tác tổ chức quản lý giảm thiểu tại cấp quận/phường; và xây dựng giải pháp khả thi. Tác giả trình bày tường minh cấu trúc phiếu điều tra xã hội học, tiêu chí phân bổ 150 mẫu tại 5 phường khảo sát (Chương Dương, Phúc Tân, Trần Hưng Đạo, Hàng Trống, Đồng Xuân) và quy trình phỏng vấn chuyên gia với 6 cán bộ phụ trách công tác tài nguyên và môi trường, đảm bảo độ tin cậy của các phát hiện thực địa.

Chương 3: Kết quả nghiên cứu

Chương 3 trình bày các phát hiện định lượng và định tính thu được từ nghiên cứu:

  • Biến động bếp than tổ ong toàn thành phố: Số lượng bếp toàn Hà Nội giảm từ 54.492 chiếc (tháng 01/2017) xuống còn 4.571 chiếc (tháng 12/2020), đạt tỷ lệ cắt giảm 91,7% (tương đương giảm gần 50.000 bếp). Tỷ lệ hộ gia đình sử dụng than tổ ong giảm từ 2,8% xuống 0,23%. 29/30 quận, huyện có tỷ lệ hộ sử dụng than dưới 1% (chỉ riêng huyện Đan Phượng còn 2%). Ba địa phương còn tồn đọng số lượng bếp nhiều nhất tính đến quý IV/2020 là Đan Phượng (875 bếp, giảm 59% so với 2017), Ba Đình (664 bếp, giảm 92%) và Bắc Từ Liêm (524 bếp, giảm 81%).
  • Suy giảm tải lượng ô nhiễm và lợi ích sức khỏe: Nhờ giảm 91,7% số bếp, tải lượng khí CO giảm từ 25.000 tấn/năm (2017) xuống 5.000 tấn/năm (2020); phát thải PM2.5 giảm từ 2.228 tấn/năm xuống 503 tấn/năm (giảm 1.728 tấn/năm); lượng khí nhà kính CO2 giảm từ 26.000 tấn/năm xuống 6.000 tấn/năm (giảm 77%). Toàn bộ các tiền chất bụi mịn, PM2.5 và CO2 giảm bình quân khoảng 80%. Theo phương pháp tính của Viện Môi trường Stockholm (dựa trên quy mô hộ 3,9 người), việc giảm hơn 50.000 bếp đã giúp bảo vệ khoảng 195.000 người dân Thủ đô khỏi phơi nhiễm khí độc từ than tổ ong.
  • Hiện trạng thực tế tại quận Hoàn Kiếm: Theo báo cáo hành chính của Chi cục Bảo vệ Môi trường và Phòng Tài nguyên và Môi trường quận, số bếp trên địa bàn quận giảm từ 3.357 chiếc (2017) xuống 2.525 chiếc (2018), 871 chiếc (2019), 315 chiếc (quý I/2020) và chính thức báo cáo đạt mốc 0 bếp từ quý II/2020. Tuy nhiên, khảo sát thực địa của tác giả tại 5 phường trong quý I/2021 phát hiện vẫn còn 50 hộ đang sử dụng than tổ ong. Cơ cấu mục đích sử dụng gồm: 58% phục vụ kinh doanh ăn uống (29/50 hộ), 32% phục vụ sinh hoạt hộ gia đình có hoàn cảnh khó khăn (16/50 hộ), và 10% phục vụ đun nước bán (5/50 hộ). So với năm 2018 (khi mục đích sinh hoạt chiếm tới 60%, kinh doanh chỉ chiếm 30%), mục đích sử dụng đã dịch chuyển chủ yếu sang khu vực dịch vụ thương mại vỉa hè. 80% hộ duy trì sử dụng vì lý do giá thành rẻ, 20% cho rằng các bếp thay thế chưa đáp ứng được tính tiện lợi; thời gian sử dụng bình quân đạt 5,5 năm (chiếm 90% mẫu), thậm chí 10% số hộ đã dùng trên 10 năm.
  • Cơ cấu thiết bị thay thế của 100 hộ đã chuyển đổi: Bếp gas công nghiệp chiếm 50% (chủ yếu tại các cơ sở kinh doanh nhờ nhiệt lượng cao, nấu khối lượng lớn); bếp điện hoặc bếp từ chiếm 30% (dùng trong sinh hoạt gia đình, an toàn, không phát thải CO2, SO2 nhưng chi phí vận hành cao); bếp than sạch chiếm 20% (nguồn gốc mùn cưa, xơ cây tự nhiên, tận dụng được vỏ bếp cũ).
  • Thực trạng công tác quản lý: Quận Hoàn Kiếm đã thành lập mô hình quản lý liên ngành, trao đổi thông tin điều hành qua ứng dụng mạng xã hội (Zalo) kết nối lãnh đạo quận, Phòng Tài nguyên và Môi trường, Công an quận và UBND 18 phường. Các hoạt động gồm tuyên truyền đa phương tiện, phát hành áp phích, tổ chức "Ngày hội đổi bếp", hướng dẫn tái chế vỏ bếp cũ thành chậu cây cảnh. Tuy nhiên, tồn tại bất cập lớn: Nghị định 155/2016/NĐ-CP chưa quy định phương pháp đo đếm tải lượng phát thải từ việc đun bếp than quy mô hộ gia đình, thiếu khung định mức xử phạt cụ thể cho hành vi này; đặc thù địa bàn phố cổ với nhà tập thể chật hẹp, ngõ sâu gây khó khăn cho việc phát hiện các hộ lén lút sản xuất, đun nấu vào khung giờ vắng người (sáng sớm, buổi trưa).

Kết quả và đóng góp

Nghiên cứu tổng hợp các chỉ số định lượng then chốt về tiến trình loại bỏ bếp than tổ ong trên địa bàn thành phố Hà Nội và quận Hoàn Kiếm giai đoạn 2017–2020 thông qua bảng số liệu sau:

Chỉ số / Địa bàn Toàn thành phố Hà Nội (2017) Toàn thành phố Hà Nội (2020) Quận Hoàn Kiếm (2017) Quận Hoàn Kiếm (Quý I/2020) Quận Hoàn Kiếm (Báo cáo Quý IV/2020) Khảo sát thực địa Hoàn Kiếm (2021)
Số lượng bếp than tổ ong (chiếc) 54.492 4.571 3.357 315 0 Phát hiện tồn tại 50 hộ (tại 5 phường khảo sát)
Tỷ lệ giảm số lượng bếp (%) - 91,7% - 87,52% (so với 2018) 100% Tái sử dụng cục bộ
Tải lượng phát thải CO (tấn/năm) 25.000 5.000 - - - -
Tải lượng phát thải PM2.5 (tấn/năm) 2.228 503 - - - -
Tải lượng phát thải CO2 (tấn/năm) 26.000 6.000 - - - -
Số dân thoát phơi nhiễm ô nhiễm - 195.000 người - - Khoảng 15.000 người -

Hệ thống giải pháp tác giả đề xuất:

  1. Giải pháp truyền thông: Chuyển dịch công tác tuyên truyền từ diện rộng sang chuyên sâu; đưa nội dung giáo dục tác hại của khói than tổ ong vào trường học; duy trì kiểm tra thường xuyên tại các tổ dân phố thay vì thực hiện theo đợt cao điểm.
  2. Giải pháp kỹ thuật - công nghệ: Khuyến khích doanh nghiệp nghiên cứu và cải tiến các dòng bếp thay thế (đặc biệt là bếp than sinh học sạch từ mùn cưa, phế phẩm nông nghiệp) nhằm đảm bảo tiêu chí giá rẻ, nhiệt lượng cao và thời gian giữ nhiệt lâu, đáp ứng nhu cầu đun nấu thể tích lớn của các quán ăn bình dân.
  3. Giải pháp chính sách và chế tài quản lý: Kiến nghị cấp có thẩm quyền bổ sung hướng dẫn thực thi Nghị định 155/2016/NĐ-CP, ban hành quy định và mức phạt tiền cụ thể đối với hành vi sử dụng than tổ ong; thiết lập cơ chế hỗ trợ tài chính trực tiếp cho hộ nghèo và chính sách chuyển đổi ngành nghề kinh doanh cho các cơ sở gia công, bán lẻ than tổ ong trên địa bàn.

Đóng góp của khóa luận: Khóa luận đã phát hiện và phản ánh khách quan khoảng cách giữa số liệu hành chính và thực tế quản lý: trong khi báo cáo chính thức của cơ quan quản lý ghi nhận quận Hoàn Kiếm đã hoàn thành 100% mục tiêu xóa bỏ bếp than từ quý II/2020, điều tra thực địa đã chỉ ra hiện tượng tái sử dụng ngầm tại 5 phường trung tâm với 50 hộ vi phạm. Nghiên cứu cung cấp bức tranh thực tế về cơ cấu sử dụng than tổ ong năm 2021 (chuyển dịch mạnh sang khu vực dịch vụ ẩm thực vỉa hè) và làm rõ những khoảng trống pháp lý của Nghị định 155/2016/NĐ-CP trong xử lý vi phạm môi trường quy mô dân sinh.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận còn một số hạn chế gắn liền với phạm vi và điều kiện nghiên cứu:

  • Giới hạn mẫu điều tra sơ cấp: Khảo sát thực địa mới chỉ triển khai trên 150 đối tượng tại 5 phường trong tổng số 18 phường của quận Hoàn Kiếm, trong khoảng thời gian 3 tháng (tháng 02/2021 đến tháng 04/2021), chưa bao quát toàn diện các điểm nóng vi phạm ở các phường còn lại.
  • Phương pháp đánh giá phát thải: Tác giả chủ yếu khai thác các hệ số phát thải từ mô hình LEAP-IBC và số liệu thứ cấp của Viện Môi trường Stockholm, chưa có điều kiện trang bị máy đo chuyên dụng để quan trắc nồng độ khí thải vi khí hậu tức thời tại các bếp than đang hoạt động thực tế.

Hướng nghiên cứu mở rộng:

  • Mở rộng phạm vi điều tra xã hội học và kiểm kê nguồn thải trên toàn bộ 18 phường của quận Hoàn Kiếm và các quận nội thành lân cận (như Ba Đình, Đống Đa).
  • Nghiên cứu thực nghiệm đo đạc nồng độ phát thải thực tế của các loại bếp than sạch thay thế so với than tổ ong truyền thống để xây dựng cơ sở khoa học hoàn thiện chính sách hỗ trợ chuyển đổi năng lượng sạch cấp cơ sở.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tư liệu thực chứng hữu ích cho các nhóm đối tượng:

  • Sinh viên, học viên cao học và cán bộ nghiên cứu chuyên ngành Khoa học Môi trường, Quản lý Môi trường, Đô thị học: Có thể tham khảo phương pháp kết hợp giữa dữ liệu kiểm kê phát thải vĩ mô với kỹ thuật điều tra xã hội học thực địa nhằm đánh giá hiệu quả thực thi chính sách bảo vệ môi trường.
  • Cơ quan quản lý nhà nước (Sở Tài nguyên và Môi trường Hà Nội, Phòng Tài nguyên và Môi trường cấp quận, UBND các phường): Cung cấp các luận cứ thực tế về rào cản kinh tế - kỹ thuật của người dân khi chuyển đổi bếp đun, từ đó hoàn thiện cơ chế kiểm tra, bổ sung quy định xử phạt vi phạm hành chính và xây dựng gói hỗ trợ an sinh xã hội phù hợp cho nhóm đối tượng yếu thế.
  • Phần đáng tham khảo nhất của tài liệu là Chương 3, đặc biệt là các phân tích đối sánh giữa báo cáo quản lý nhà nước với thực tế sử dụng than tổ ong tại 5 phường quận Hoàn Kiếm và cơ cấu lựa chọn các loại bếp thay thế.

Câu hỏi thường gặp

  1. Tỷ lệ cắt giảm bếp than tổ ong trên toàn địa bàn thành phố Hà Nội giai đoạn 2017–2020 đạt kết quả như thế nào? Theo số liệu của Sở Tài nguyên và Môi trường Hà Nội, số lượng bếp than tổ ong toàn thành phố đã giảm 91,7%, từ 54.492 chiếc vào tháng 01/2017 xuống còn 4.571 chiếc vào tháng 12/2020. Tỷ lệ hộ dân sử dụng than tổ ong giảm từ 2,8% xuống 0,23%. 29/30 quận, huyện có tỷ lệ hộ sử dụng dưới 1%, trong đó Đan Phượng là huyện còn tồn đọng nhiều bếp nhất (875 bếp).

  2. Khảo sát thực địa năm 2021 của tác giả tại quận Hoàn Kiếm cho thấy kết quả gì khác biệt so với báo cáo chính thức của cơ quan quản lý? Báo cáo của UBND quận Hoàn Kiếm gửi Sở Tài nguyên và Môi trường ghi nhận quận đã loại bỏ hoàn toàn (đưa số lượng về 0 bếp) từ quý II/2020. Tuy nhiên, điều tra thực tế của tác giả từ tháng 2 đến tháng 4/2021 tại 5 phường trọng điểm phát hiện vẫn còn 50 hộ gia đình và cơ sở tiếp tục sử dụng bếp than tổ ong phục vụ đun nấu sinh hoạt và kinh doanh.

  3. Nhóm đối tượng nào tại quận Hoàn Kiếm hiện chiếm tỷ lệ sử dụng than tổ ong cao nhất và với mục đích gì? Khảo sát 50 hộ đang sử dụng than tổ ong cho thấy 58% sử dụng cho mục đích kinh doanh dịch vụ ăn uống vỉa hè (29 hộ, tập trung quanh chợ Đồng Xuân, ngõ Huyện, chân cầu Chương Dương), 32% phục vụ nấu ăn sinh hoạt của các hộ nghèo sống trong nhà tập thể cũ (16 hộ), và 10% phục vụ đun nước bán vỉa hè (5 hộ).

  4. Đâu là rào cản chính khiến người dân tại 5 phường khảo sát chưa từ bỏ bếp than tổ ong? Có 80% người được hỏi (40/50 người) khẳng định chi phí nhiên liệu rẻ (chỉ 3.000–4.000 đồng/viên) là lý do chính khiến họ tiếp tục sử dụng; 20% cho rằng tính tiện lợi và khả năng duy trì nhiệt lượng lâu chưa có loại bếp thay thế nào đáp ứng tương đương; ngoài ra diện tích nhà ở chật hẹp và gánh nặng chi phí mua sắm thiết bị thay thế mới cũng là những trở ngại lớn đối với các hộ có thu nhập thấp.

  5. Vì sao các cấp chính quyền cơ sở gặp khó khăn khi áp dụng Nghị định 155/2016/NĐ-CP để xử phạt hành vi sử dụng than tổ ong? Nghị định 155/2016/NĐ-CP chưa quy định phương pháp đo kiểm tải lượng và nồng độ phát thải đối với hoạt động đốt than quy mô hộ gia đình nhỏ lẻ, dẫn đến việc thiếu khung chế tài định lượng cụ thể để thiết lập biên bản vi phạm hành chính, khiến lực lượng chức năng cấp phường lúng túng trong khâu xử phạt và chủ yếu dừng lại ở mức độ nhắc nhở, vận động.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Xuân Nhật Nam đã phác họa bức tranh toàn diện về hiện trạng kiểm soát và loại bỏ bếp than tổ ong tại thành phố Hà Nội nói chung và quận Hoàn Kiếm nói riêng giai đoạn 2017–2020. Công trình chỉ ra thành tựu giảm thiểu vượt bậc về số lượng bếp (91,7%) và tải lượng chất ô nhiễm toàn thành phố, đồng thời làm rõ hiện tượng tái sử dụng than tổ ong cục bộ tại các cơ sở kinh doanh ăn uống thông qua điều tra thực chứng tại 5 phường thuộc quận Hoàn Kiếm. Các phát hiện về rào cản kinh tế của người dân cùng những khoảng trống pháp lý trong Nghị định 155/2016/NĐ-CP cung cấp cơ sở thực tiễn quan trọng để các cơ quan chức năng hoàn thiện chính sách hỗ trợ chuyển đổi năng lượng sạch và nâng cao hiệu lực quản lý chất lượng môi trường không khí đô thị.