Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp "Nghiên cứu sinh trưởng và tình hình sâu bệnh hại một số loài cây thuộc họ Đay (Tiliaceae); họ Dầu (Dipterocarpaceae Blume) tại mô hình vườn thực vật Khoa Lâm nghiệp" do sinh viên Hoàng Văn Điều thực hiện thuộc chuyên ngành Lâm nghiệp, Khoa Lâm nghiệp, Trường Đại học Nông Lâm – Đại học Thái Nguyên, dưới sự hướng dẫn của TS. Lê Sỹ Hồng và TS. Đỗ Hoàng Chung.

Mô hình vườn thực vật tại Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên được xây dựng từ tháng 03/2017 đến tháng 03/2018 theo đề tài "Nghiên cứu xây dựng mô hình bảo tồn chuyển vị thực vật tại trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên". Giai đoạn đầu, mô hình đã gây trồng thành công 406 cá thể thuộc 25 loài cây bản địa khác nhau thuộc các họ: họ Thông tre (Podocarpaceae), họ Mộc lan (Magnoliaceae), họ Đậu (Fabaceae), họ Xoan (Meliaceae), họ Long não (Lauraceae), họ Quả hai cánh hay họ Dầu (Dipterocarpaceae) và họ Đay (Tiliaceae). Trong số các loài được trồng, các loài cây thân gỗ thuộc họ Đay và họ Dầu có số lượng loài nguy cấp cao nhất. Đây là những loài cây gỗ lớn có giá trị kinh tế rất cao, thường bị khai thác để làm đồ mỹ nghệ và gia dụng cao cấp, dẫn đến nguy cơ tuyệt chủng ngoài tự nhiên. Do đó, việc theo dõi, đánh giá khả năng sinh trưởng và tình hình sâu bệnh hại của các loài cây này tại vườn thực vật là yêu cầu cần thiết nhằm phục vụ công tác bảo tồn nguồn gen chuyển vị, đồng thời tạo cơ sở khoa học để nhân rộng mô hình ra các vùng lân cận.

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài được xác định gồm 5 nội dung chính:

  1. Đánh giá tình hình sinh trưởng đường kính gốc của 5 loài cây thuộc họ Đay (Tiliaceae) và họ Dầu (Dipterocarpaceae Blume) trồng trong mô hình Vườn thực vật tại Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên.
  2. Đánh giá tình hình sinh trưởng chiều cao vút ngọn của 5 loài cây thuộc họ Đay (Tiliaceae) và họ Dầu (Dipterocarpaceae Blume) trồng trong mô hình.
  3. Đánh giá tình hình sinh trưởng đường kính tán lá và sinh trưởng lá của 5 loài cây thuộc hai họ trên trong mô hình.
  4. Đánh giá tình hình sâu bệnh hại của 5 loài cây thuộc hai họ trên trong mô hình.
  5. Đề xuất một số biện pháp nhằm tăng cường khả năng sinh trưởng của các loài cây nghiên cứu trong mô hình.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: 5 loài cây gỗ bản địa trồng trong mô hình, bao gồm 1 loài thuộc họ Đay là cây Nghiến (Burretiodendron hsienmu) và 4 loài thuộc họ Dầu là cây Chò Chỉ (Parashorea chinensis), Sao Đen (Hopea odorata Roxb), Táu Mật (Vatica tonkinensis A.Chev), Táu Muối (Vatica odorata subsp).
  • Phạm vi không gian: Khu đất mô hình Khoa Lâm nghiệp thuộc khuôn viên Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên (xã Quyết Thắng, thành phố Thái Nguyên). Diện tích khu vực nghiên cứu chiếm 0,26 ha trong tổng diện tích 0,8 ha của toàn mô hình.
  • Phạm vi thời gian: Điều tra thực địa định kỳ hàng tháng qua 5 đợt thu thập số liệu liên tiếp trong năm 2019: Đợt 1 (15/01/2019), Đợt 2 (15/02/2019), Đợt 3 (15/03/2019), Đợt 4 (15/04/2019) và Đợt 5 (15/05/2019).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Về mặt lý luận lâm sinh, sinh trưởng của cây rừng là sự biến đổi theo tuổi của các nhân tố điều tra (đường kính, chiều cao, tán lá), phản ánh sự tích lũy sinh khối từ quá trình đồng hóa. Quá trình sinh trưởng là kết quả tổng hợp giữa tiềm năng di truyền nội tại của loài và điều kiện hoàn cảnh bên ngoài (tiểu khí hậu, tính chất lý hóa của đất và sự tương tác giữa các loài trong quần xã). Việc xây dựng các vườn thực vật chuyển vị (ex-situ) đóng vai trò bảo tồn nguồn gen các loài nguy cấp, đồng thời cung cấp môi trường thực nghiệm để nghiên cứu quy luật thích ứng của cây bản địa khi đưa ra khỏi sinh cảnh tự nhiên.

Tác giả đã tổng thuật các nghiên cứu về vườn thực vật trên thế giới (với khoảng 1.800 vườn bách thảo tại 150 quốc gia, tiêu biểu như vườn bách thảo lâu đời Arboretum von Trsteno năm 1492 ở châu Âu; Jardim Botânico ở Brazil; Kirstenbosch ở Nam Phi; Kew ở Anh; Berlin-Dahlem ở Đức; cùng hệ thống vườn thực vật tại Trung Quốc, Ấn Độ, Singapore, Malaysia, Thái Lan) và tại Việt Nam (Thảo Cầm Viên Sài Gòn, Vườn Bách Thảo Hà Nội, Vườn thực vật Cúc Phương, Vườn thực vật Phong Nha - Kẻ Bàng, Vườn thực vật Bảo tàng Tài nguyên rừng Việt Nam). Khóa luận cũng tổng quan các công trình trồng cây bản địa: dự án xây dựng rừng nhiều tầng tại Malaysia (1999); nghiên cứu về mật độ và hình số thân cây của Vanlaar (1976); nghiên cứu của Phạm Văn Bốn (2009) về cây Lim xanh tại Bình Phước; Thẩm Đức Thuận (2017) về Lim xanh, Re hương, Lim xẹt tại Hòa Bình; Triệu Văn Hùng (1993) về Trám trắng, Lim xẹt; Chương trình 327; và danh mục hơn 100 loài cây bản địa do Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam đề xuất (2000).

Về điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu: Khu đất thuộc xã Quyết Thắng, thành phố Thái Nguyên, mang đặc trưng khí hậu nhiệt đới gió mùa phân chia thành mùa mưa (tháng 4 đến tháng 10) và mùa khô (tháng 11 đến tháng 3 năm sau). Đất đai khu vực mô hình chủ yếu là đất feralit phát triển trên nền đá sa thạch và phù sa cổ, đất dốc tụ pha cát lẫn đá nhỏ, màu xám đen, độ pH thấp, nghèo mùn và hàm lượng dinh dưỡng thấp do đã canh tác nhiều năm, khiến cây con sinh trưởng ở mức trung bình.

Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm và thu thập số liệu:

  • Phương pháp điều tra: Thực hiện điều tra toàn diện trên toàn bộ các cá thể của 5 loài cây nghiên cứu trong mô hình. Mỗi cây được gắn mã số thẻ định danh và mỗi hàng cây được gắn biển tên để phục vụ theo dõi định kỳ.
  • Đo đường kính sát gốc ($D_{00}$): Sử dụng thước kẹp cơ khí đo sát gốc cây theo hai chiều trực giao Đông – Tây và Nam – Bắc, sau đó tính trị số trung bình.
  • Đo chiều cao vút ngọn ($H_{vn}$): Sử dụng thước dây. Tại gốc mỗi cây, tác giả dùng bút xóa trắng kẻ vạch mốc cố định làm chuẩn, sau đó đo từ điểm chuẩn đến đỉnh chồi ngọn sinh trưởng cao nhất của cây.
  • Đánh giá tán lá, đặc điểm lá và sâu bệnh: Quan sát, đo đạc kích thước tán và kiểm tra trực quan các biểu hiện gây hại của sâu bệnh trên thân, cành, lá.
  • Phương pháp xử lý số liệu: Số liệu được nhập và tính toán trên phần mềm Microsoft Excel 2013 bằng các công thức thống kê sinh học lâm nghiệp:
    • Tỷ lệ sống: $C% = \frac{N_s}{N} \times 100$ (với $N_s$ là số cây sống, $N$ là tổng số cây trồng).
    • Giá trị trung bình mẫu ($\bar{X}$ gồm $D_{00TB}$ và $H_{vnTB}$): $\bar{X} = \frac{\sum x_i}{M}$.
    • Sai tiêu chuẩn mẫu: $S = \sqrt{\frac{1}{n-1} \sum_{i=1}^n (x_i - \bar{X})^2}$.
    • Hệ số biến động: $S% = \frac{S}{\bar{X}} \times 100$.
    • Lượng tăng trưởng tuyệt đối giữa các đợt đo: $\Delta = X_{t} - X_{t-1}$.

Nội dung chính theo từng chương

Phần 1: Mở đầu

Phần này trình bày tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ việc bảo tồn chuyển vị các nguồn gen nguy cấp thuộc họ Đay và họ Dầu tại mô hình vườn thực vật Khoa Lâm nghiệp, Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên. Tác giả xác định 5 mục tiêu nghiên cứu cụ thể, đồng thời khẳng định ý nghĩa học tập, nghiên cứu khoa học và ý nghĩa thực tiễn trong việc cung cấp cơ sở lâm sinh phục vụ quản lý, phát triển cây bản địa.

Phần 2: Tổng quan vấn đề nghiên cứu

Chương này hệ thống hóa các tài liệu khoa học trong và ngoài nước liên quan đến chức năng, lịch sử phát triển của các vườn thực vật và kỹ thuật gây trồng các loài cây gỗ bản địa. Tác giả khái quát các đặc điểm tự nhiên về địa hình, đất đai và khí hậu thời tiết tại xã Quyết Thắng, thành phố Thái Nguyên; đồng thời mô tả chi tiết đặc điểm nhận biết hình thái, đặc tính sinh học, sinh thái, vùng phân bố địa lý và giá trị sử dụng của 5 loài cây nghiên cứu:

  • Cây Nghiến (Burretiodendron hsienmu): Cây gỗ lớn, vỏ xám vàng sau xám nâu, lá hình trứng tròn có 3 gân gốc, quả nang 5 cánh rộng; ưa sáng nhưng 1-2 năm đầu cần che bóng nhẹ, ưa đất núi đá vôi.
  • Cây Chò Chỉ (Parashorea chinensis): Cây gỗ lớn cao 35-40 m, thân tròn thẳng, lá kèm phủ lông hình sao, quả có 5 cánh không đều; cây tầng vượt tán, ưa sáng, mọc trên đất đá vôi hoặc đất cát ven sông suối.
  • Cây Táu Muối (Vatica odorata subsp): Thân thẳng vỏ trắng xù xì, cành non phủ lông hình sao màu gỉ sắt, mặt dưới lá có vảy nhỏ trắng như muối; cây chịu bóng khi nhỏ, sinh trưởng chậm.
  • Cây Táu Mật (Vatica tonkinensis A.Chev): Cây gỗ thuộc nhóm "Tứ thiết", vỏ xám nhạt, thịt vỏ có nhựa dầu thơm, quả có 2 cánh lớn và 3 cánh nhỏ; cây ưa sáng, sống lâu, mọc được ở địa hình đồi núi dốc.
  • Cây Sao Đen (Hopea odorata Roxb): Cây gỗ lớn cao 30-40 m, vỏ ngoài nâu đen nứt dọc sâu, quả mang 2 cánh phát triển; cây non ưa bóng sau chuyển sang ưa sáng. Chương này cũng giới thiệu sơ lược về mô hình vườn thực vật Khoa Lâm nghiệp được thiết lập tháng 3/2017 trên diện tích 0,8 ha với 406 cá thể của 25 loài cây bản địa.

Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Chương này quy định rõ đối tượng gồm 5 loài cây bản địa thuộc họ Đay và họ Dầu trong mô hình vườn thực vật Khoa Lâm nghiệp. Nội dung nghiên cứu bám sát 5 mục tiêu đã đề ra. Phương pháp luận dựa trên mối quan hệ giữa sinh trưởng và tiểu hoàn cảnh lập địa. Phương pháp thu thập dữ liệu chỉ rõ quy trình đánh số cây, kẻ vạch chuẩn đo chiều cao bằng bút xóa, đo đường kính gốc bằng thước kẹp theo hai chiều Đông – Tây và Nam – Bắc qua 5 đợt định kỳ từ tháng 1 đến tháng 5 năm 2019. Toàn bộ công thức tính toán toán học thống kê mô tả ($D_{00TB}$, $H_{vnTB}$, $S$, $S%$, $\Delta$, $C%$) trên Excel 2013 được trình bày chi tiết.

Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Chương này trình bày các phát hiện thực nghiệm qua hệ thống bảng biểu và phân tích số liệu:

  • Bố trí phân lô: Toàn bộ 406 cây (25 loài) trên diện tích nghiên cứu 0,26 ha được bố trí theo từng hàng riêng biệt; khoảng cách hàng cách hàng là 3 m và cây cách cây là 2 m, tạo điều kiện thuận lợi cho việc theo dõi, quản lý và chăm sóc.
  • Sinh trưởng đường kính gốc ($D_{00}$): Báo cáo chi tiết qua 5 bảng số liệu từ Bảng 4.1 đến Bảng 4.5. Kết quả lần đo thứ 5 cho thấy:
    • Cây Nghiến: $D_{00}$ tăng từ 0,885 cm (đợt 1) lên 1,001 cm (đợt 5), lượng tăng trưởng đạt 0,116 cm, sai tiêu chuẩn dao động từ 0,0492 đến 0,0498 cm.
    • Cây Chò Chỉ: $D_{00}$ tăng từ 2,33 cm lên 2,75 cm, lượng tăng trưởng đạt 0,42 cm, sai tiêu chuẩn từ 0,1495 đến 0,1516 cm.
    • Cây Sao Đen: $D_{00}$ tăng từ 2,36 cm lên 2,67 cm, lượng tăng trưởng đạt 0,31 cm, sai tiêu chuẩn từ 0,1267 đến 0,1365 cm.
    • Cây Táu Mật: $D_{00}$ tăng từ 1,024 cm lên 1,386 cm, lượng tăng trưởng đạt 0,361 cm, sai tiêu chuẩn từ 0,0683 đến 0,0732 cm.
    • Cây Táu Muối: $D_{00}$ tăng từ 0,670 cm lên 1,037 cm, lượng tăng trưởng đạt 0,367 cm, sai tiêu chuẩn từ 0,0399 đến 0,0599 cm.
  • Đánh giá sinh trưởng chiều cao vút ngọn ($H_{vn}$), đường kính tán lá và đặc điểm hình thái lá: Được phản ánh qua các Bảng từ 4.6 đến 4.20, thể hiện sự gia tăng kích thước của các loài qua các tháng mùa khô chuyển sang đầu mùa mưa.
  • Tình hình sâu bệnh hại: Bảng 4.21 và Hình 4.2 ghi nhận hiện tượng sâu bệnh hại lá xuất hiện trên các loài Táu Mật, Nghiến và Sao Đen.
  • Đề xuất giải pháp kỹ thuật: Tác giả đề xuất 2 giải pháp cụ thể: (1) Rải lớp màng nilon trắng không màu xung quanh gốc cây nhằm giữ ẩm đất và ngăn ngừa cỏ dại; (2) Xây dựng thêm hàng rào bảo vệ bao quanh vườn thực vật để tránh gia súc và tác động cơ học từ bên ngoài.

Phần 5: Kết luận, tồn tại và kiến nghị

Tổng kết các kết quả đạt được về khả năng sinh trưởng đường kính, chiều cao của 5 loài cây bản địa trong mô hình; nêu lên những tồn tại về mặt thời gian theo dõi và đề xuất các kiến nghị kỹ thuật lâm sinh nhằm duy trì, phát triển vườn thực vật.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã cung cấp chuỗi số liệu thực nghiệm đo đạc chính xác về sự sinh trưởng đường kính sát gốc ($D_{00}$) của 5 loài cây bản địa qua 5 đợt điều tra trong giai đoạn từ tháng 1 đến tháng 5 năm 2019:

Tên loài cây $D_{00}$ Lần 1 (cm) $D_{00}$ Lần 2 (cm) $D_{00}$ Lần 3 (cm) $D_{00}$ Lần 4 (cm) $D_{00}$ Lần 5 (cm) Lượng tăng trưởng $\Delta$ Lần 1 - 5 (cm) Biên độ sai tiêu chuẩn $S$ (cm)
Nghiến 0,885 0,911 0,941 0,968 1,001 0,116 0,0492 – 0,0498
Chò Chỉ 2,330 2,430 2,530 2,640 2,750 0,420 0,1495 – 0,1516
Sao Đen 2,360 2,490 2,540 2,600 2,670 0,310 0,1267 – 0,1365
Táu Mật 1,024 1,125 1,222 1,304 1,386 0,361 0,0683 – 0,0732
Táu Muối 0,670 0,739 0,828 0,934 1,037 0,367 0,0399 – 0,0599

Về mức sinh trưởng đường kính gốc tuyệt đối, Chò Chỉ đạt kích thước lớn nhất (từ 2,33 cm đến 2,75 cm) và có lượng tăng trưởng cao nhất qua 5 tháng (0,42 cm). Sao Đen xếp thứ hai về đường kính gốc (từ 2,36 cm đến 2,67 cm; tăng 0,31 cm). Nhóm cây có đường kính nhỏ hơn gồm Táu Mật (từ 1,024 cm đến 1,386 cm; tăng 0,361 cm), Táu Muối (từ 0,670 cm đến 1,037 cm; tăng 0,367 cm) và cây Nghiến có mức sinh trưởng đường kính thấp nhất (từ 0,885 cm đến 1,001 cm; tăng 0,116 cm). Các số liệu cho thấy ở giai đoạn đầu sau khi gây trồng, cả 5 loài cây họ Đay và họ Dầu đều thể hiện khả năng thích nghi và sinh trưởng ổn định trong điều kiện lập địa của mô hình.

Về giải pháp phát triển mô hình, tác giả đề xuất 2 biện pháp kỹ thuật:

  • Biện pháp rải lớp nilon không màu trắng xung quanh gốc cây: Áp dụng quanh vùng rễ nhằm hạn chế sự bốc thoát hơi nước trong mùa khô, giữ ẩm cho đất và ngăn cản cỏ dại cạnh tranh ánh sáng, dinh dưỡng với cây non.
  • Biện pháp xây dựng thêm hàng rào bảo vệ: Thiết lập hệ thống bảo vệ vật lý kiên cố bao quanh khu vực 0,26 ha nhằm ngăn ngừa gia súc phá hoại và các tác động tiêu cực của con người đến cây trồng.

Đóng góp của khóa luận: Cung cấp dẫn liệu thực tế về khả năng sinh trưởng ban đầu của các loài cây bản địa quý hiếm thuộc họ Đay và họ Dầu trên nền đất feralit nghèo dinh dưỡng tại Thái Nguyên; kiểm chứng tính khả thi của mô hình bảo tồn chuyển vị trong khuôn viên trường đại học, phục vụ công tác giảng dạy thực hành cho sinh viên Khoa Lâm nghiệp.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận có một số giới hạn dựa trên phạm vi nghiên cứu và điều kiện thực hiện được văn bản ghi nhận:

  • Phạm vi thời gian nghiên cứu ngắn: Việc theo dõi chỉ diễn ra trong vòng 5 tháng (từ tháng 01/2019 đến tháng 05/2019), chưa đủ bao quát toàn bộ chu kỳ sinh trưởng của cây qua các mùa trong năm, đặc biệt là giai đoạn cao điểm mùa mưa và mùa đông lạnh tiếp theo.
  • Điều kiện lập địa hạn chế: Khu vực nghiên cứu là đất dốc tụ pha cát lẫn đá nhỏ, nghèo mùn và dinh dưỡng do sử dụng nhiều năm, làm ảnh hưởng đến tốc độ phát triển tối ưu của cây non.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Cần tiếp tục duy trì việc đo đạc, theo dõi định kỳ các chỉ tiêu sinh trưởng ($D_{00}$, $H_{vn}$, đường kính tán) và tỷ lệ sống của các loài cây qua các năm tiếp theo; mở rộng nghiên cứu về diễn biến sâu bệnh hại theo mùa và thử nghiệm các biện pháp kỹ thuật lâm sinh bổ sung như bón phân cải tạo đất và che bóng nhân tạo cho từng loài.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho:

  • Sinh viên, học viên chuyên ngành Lâm nghiệp, Quản lý tài nguyên rừng, Sinh thái học thực vật tham khảo phương pháp điều tra thực địa, phương pháp đánh dấu thẻ cây và quy trình tính toán các chỉ tiêu sinh trưởng cây rừng bằng Microsoft Excel.
  • Cán bộ kỹ thuật tại các vườn thực vật, trung tâm bảo tồn nguồn gen, ban quản lý rừng đặc dụng và rừng phòng hộ có định hướng đưa các loài cây gỗ bản địa thuộc họ Đay (Nghiến) và họ Dầu (Chò Chỉ, Sao Đen, Táu Mật, Táu Muối) vào trồng rừng bảo tồn chuyển vị hoặc làm giàu rừng.
  • Các phần đáng tham khảo nhất trong văn bản gồm: Phương pháp đo đạc chuẩn hóa ngoài thực địa (sử dụng vạch chuẩn gốc và thước kẹp cơ khí hai chiều); bảng dữ liệu chi tiết về biến động đường kính gốc của 5 loài cây quý hiếm; và phần tổng thuật hệ thống các vườn thực vật trên thế giới và tại Việt Nam.

Câu hỏi thường gặp

1. Mô hình vườn thực vật Khoa Lâm nghiệp tại Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên có quy mô và cơ cấu cây trồng ban đầu như thế nào?
Mô hình được xây dựng từ tháng 03/2017 đến tháng 03/2018 trên tổng diện tích 0,8 ha, trong đó khu vực thực hiện nghiên cứu của đề tài chiếm 0,26 ha. Giai đoạn đầu, mô hình đã trồng thành công 406 cá thể cây thuộc 25 loài bản địa khác nhau thuộc các họ: Podocarpaceae, Magnoliaceae, Fabaceae, Meliaceae, Lauraceae, Dipterocarpaceae và Tiliaceae. Cây được trồng theo hàng, cự ly hàng cách hàng 3 m và cây cách cây 2 m.

2. Năm loài cây bản địa được tác giả lựa chọn để nghiên cứu gồm những loài nào?
Năm loài cây được chọn gồm 1 loài thuộc họ Đay (Tiliaceae) là Nghiến (Burretiodendron hsienmu) và 4 loài thuộc họ Dầu (Dipterocarpaceae Blume) là Chò Chỉ (Parashorea chinensis), Sao Đen (Hopea odorata Roxb), Táu Mật (Vatica tonkinensis A.Chev) và Táu Muối (Vatica odorata subsp).

3. Trong 5 loài cây nghiên cứu, loài nào có đường kính gốc lớn nhất và tốc độ tăng trưởng đường kính cao nhất qua 5 đợt đo?
Loài Chò Chỉ đạt sinh trưởng đường kính gốc ($D_{00}$) lớn nhất và tốc độ tăng trưởng cao nhất, với $D_{00}$ tăng từ 2,33 cm ở lần đo 1 lên 2,75 cm ở lần đo 5, đạt tổng lượng tăng trưởng là 0,42 cm.

4. Loài cây nào có mức sinh trưởng đường kính gốc thấp nhất trong số 5 loài?
Cây Nghiến có đường kính gốc và lượng tăng trưởng thấp nhất trong 5 loài nghiên cứu, với $D_{00}$ lần 1 đạt 0,885 cm và lần 5 đạt 1,001 cm, tổng lượng tăng trưởng qua 5 tháng chỉ đạt 0,116 cm.

5. Quy trình kỹ thuật đo đường kính gốc và chiều cao cây ngoài thực địa được thực hiện như thế nào?
Để đo đường kính sát gốc ($D_{00}$), tác giả dùng thước kẹp cơ khí đo sát gốc cây theo hai chiều vuông góc Đông – Tây và Nam – Bắc rồi lấy trung bình. Để đo chiều cao vút ngọn ($H_{vn}$), tác giả dùng bút xóa trắng kẻ một đường mốc cố định tại gốc cây làm chuẩn, sau đó dùng thước dây đo khoảng cách từ mốc chuẩn đến đỉnh sinh trưởng cao nhất của cây.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Hoàng Văn Điều đã phản ánh đầy đủ quá trình điều tra thực nghiệm về tình hình sinh trưởng và sâu bệnh hại của 5 loài cây bản địa quý hiếm thuộc họ Đay và họ Dầu tại mô hình vườn thực vật Khoa Lâm nghiệp, Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên. Kết quả theo dõi qua 5 đợt định kỳ trong năm 2019 cho thấy các loài cây đều có khả năng sinh trưởng ổn định trên nền đất feralit nghèo dinh dưỡng, trong đó Chò Chỉ và Sao Đen thể hiện ưu thế sinh trưởng đường kính vượt trội so với Táu Mật, Táu Muối và Nghiến. Công trình cung cấp các giải pháp kỹ thuật lâm sinh cụ thể như rải nilon giữ ẩm quanh gốc và dựng hàng rào bảo vệ, đóng góp dẫn liệu thực tế quan trọng cho công tác bảo tồn chuyển vị và phục vụ học tập, nghiên cứu lâm nghiệp.