mở đầu hướng nghiên cứu sinh thái trong cảnh quan học Việt Nam với bài “Tiếp cận sinh thái trong nghiên cứu cảnh quan” [37]. Năm 1994, ông và Huỳnh Nhung hoàn thành “Quan niệm về cảnh quan, hệ sinh thái, 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com sự phát triển của cảnh quan học và sinh thái học cảnh quan” - làm rõ hơn mối quan hệ giữa cảnh quan và sinh thái học [49]. Cũng năm này, ông và Nguyễn Văn Nhưng báo cáo về “Chu trình vật chất, trao đổi năng lượng trong một số cảnh quan Việt Nam” - cho thấy quan điểm sinh thái được vận dụng linh hoạt hơn trong nghiên cứu cảnh quan Việt Nam. Ngoài các hướng nghiên cứu truyền thống, Việt Nam cũng tiếp cận rất nhanh các hướng nghiên cứu cảnh quan có ứng dụng thành tựu của công nghệ thông tin.
Có thể kể đến là Nguyễn Thành Long với công trình “Nghiên cứu cảnh quan Tây Nguyên trên cơ sở ảnh vệ tinh Landsat” (1987) [36] ; Phạm Hoàng Hải và nhiều người khác với công trình “Xây dựng bản đồ cảnh quan sinh thái tỉnh Thanh Hoá tỉ lệ 1 : 200.000 trên cơ sở sử dụng các tư liệu viễn thám” (1990) [13]; Nguyễn Văn Vinh và Nguyễn Cẩm Vân với “Thành lập bản đồ cảnh quan đồng bằng Nam Bộ tỉ lệ 1/250.000 bằng tư liệu viễn thám” (1992). Một trong những hướng nghiên cứu được tiến hành rất mạnh thời gian gần đây là hướng nghiên cứu, đánh giá cảnh quan phục vụ mục đích phát triển bền vững lãnh thổ, mà tiêu biểu là các công trình của Phạm Hoàng Hải. Năm 1988, ông hoàn thành công trình “Vấn đề lí luận và phương pháp đánh giá tổng hợp tự nhiên cho mục đích sử dụng lãnh thổ - ví dụ vùng Đông Nam Bộ”. Kế đến vào năm 1990, trong Chương trình 48B, ông cùng Nguyễn Trọng Tiến và nnk đã tiến hành “Đánh giá tổng hợp điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên dải ven biển Việt Nam cho phát triển sản xuất nông - lâm” [14].
Năm 1993, ông thực hiện “Đánh giá tổng hợp các điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên lãnh thổ nhiệt đới ẩm gió mùa Việt Nam cho mục đích phát triển sản xuất và bảo vệ môi trường” [15]. Vào 1997, Nhà xuất bản Giáo dục đã công bố “Cơ sở cảnh quan học của việc sử dụng hợp lí tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường lãnh thổ Việt Nam” của ông cùng Nguyễn Thượng Hùng và Nguyễn Ngọc Khánh - công trình được đánh giá cao bởi những miêu tả chi tiết các quy luật và đặc trưng của các cảnh quan nhiệt đới gió mùa Việt Nam trên cơ sở một hệ thống phân loại tương đối thống nhất cho toàn lãnh thổ và theo các miền, các vùng cảnh quan riêng biệt ; đồng thời công trình cũng đề cập một cách khá đầy đủ, sâu sắc những biến đổi của tự nhiên nói chung và cảnh quan nói riêng dưới tác động của con người, từ đó đưa 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com ra các giải pháp, các hướng tiếp cận khoa học tin cậy nhằm sử dụng hợp lí tài nguyên, bảo vệ môi trường [16]. Ngoài ra còn có thể kể đến một số công trình khác được thực hiện ở các vùng, miền của đất nước và có những đóng góp nhất định vào sự phát triển chung của cảnh quan học, như : Nguyễn Thế Thôn với “Tổng luận phân tích nghiên cứu và đánh giá cảnh quan cho việc quy hoạch và phát triển kinh tế” (1993) và “Tổng luận phân tích những vấn đề cảnh quan sinh thái ứng dụng trong quy hoạch và quản lí môi trường” (1995) ; Trần Văn Thành với “Phân vùng địa sinh thái đất ngập nước Đồng Tháp Mười” (1993); Nguyễn Cao Huần với Đánh giá cảnh quan theo quan điểm tiếp cận kinh tế sinh thái (2005) [23]; Trương Quang Hải, Nguyễn An Thịnh, Nguyễn Thị Thúy Hằng với “Mô hình sinh thái cảnh quan nhiệt đới gió mùa Việt Nam và ứng dụng nghiên cứu đa dạng cảnh quan” (2008) [20]. Đó là chưa nói đến một loạt các bản đồ cảnh quan và đánh giá cảnh quan đã được các nhà cảnh quan học và các nhà địa lí tổng hợp xây dựng nên trong hơn 30 năm qua, giúp cho lĩnh vực nghiên cứu cảnh quan của nước ta ngày càng có những bước phát triển mạnh mẽ và vững chắc.
Các nghiên cứu về huyện M’Đrắk: Cho đến nay các nghiên cứu về huyện M‟Đrắk đã và đang tập trung theo hướng nghiên cứu về tài nguyên thiên nhiên và phát kinh tế xã hội: Đã có một số công trình nghiên cứu về đất đai và tình hình kinh tế xã hội như “Nghiên cứu đặc điểm tài nguyên đất và hiện trạng sử dụng đất huyện M’Đrăk - tỉnh Đăk Lăk” của Phạm Thế Trịnh, Y Ghi Niê [45], các báo cáo thường niên của huyện, báo cáo quy hoạch sử dụng đất đai huyện M‟Đrăk - tỉnh Đăk Lăk đến năm 2020, một số đề tài nghiên cứu phát triển cây công nghiệp có giá trị trên địa bàn như cây cà phê, hồ tiêu… Nhìn chung, các nghiên cứu trên đây về huyện M‟Đrắk đều chưa thể hiện được nguồn lực tổng hợp về tài nguyên thiên nhiên cũng như mối quan hệ giữa các hoạt động sử dụng tài nguyên đối với các vấn đề môi trường nảy sinh trong khu vực, chính vì vậy trong thời gian tới cần phải có những điều tra và nghiên cứu sâu hơn về khu vực. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Những vấn đề lí luận nghiên cứu cảnh quan: 1. Quan niệm cảnh quan: “Cảnh quan” là thuật ngữ bắt nguồn từ ngôn ngữ Đức - “landschaft”, với nghĩa là nước, miền, địa phương, khu vực, đã bắt đầu được sử dụng trong các sách vở địa lí từ năm 1805.
Tuy nhiên, đến cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX thì nền móng của cảnh quan học mới được xây dựng trong các công trình nghiên cứu về bề mặt Trái Đất của các nhà địa lí kinh điển Nga, Đức, Anh, Mĩ, Pháp. Trong quá trình phát triển của cảnh quan học, đã có rất nhiều tác giả đưa ra các quan điểm, học thuyết khác nhau về cảnh quan, thể hiện qua hàng loạt các định nghĩa về cảnh quan với nội dung và cách diễn đạt không giống nhau. Có thể gộp các định nghĩa ấy vào ba nhóm quan niệm cơ bản như sau : Quan niệm coi cảnh quan là một khái niệm chung đồng nghĩa với tổng thể thiên nhiên ở các cấp phân vị khác nhau. Ủng hộ quan điểm này có D.
Lukasov,… Quan niệm coi cảnh quan là một đơn vị phân loại trong hệ phân vị tổng thể tự nhiên, trong đó cảnh quan là đơn vị chủ yếu được xem xét về những biến đổi do tác động của con người. Theo cách hiểu này thì cảnh quan là một trong những đơn vị thấp nhất trong hệ thống phân vùng tổng hợp. Tiêu biểu theo xu hướng này là A. Isachenko [27], Vũ Tự Lập [31],… Quan niệm coi cảnh quan là một khái niệm có tính chất kiểu (loại hình) của những tổng thể địa lí tự nhiên.
Cách hiểu này được phát triển trong các công trình của B. Nhìn chung, về cơ bản thì cả ba quan niệm trên vẫn có điểm chung, đó là việc xem cảnh quan là một tổng thể lãnh thổ thiên nhiên. Sự khác nhau thể hiện ở chỗ cảnh quan được dùng để chỉ những tổng thể kiểu nào và ở cấp phân vị nào, hoặc cảnh quan được xác định và thể hiện trên bản đồ theo cách thức nào, theo cách quy nạp hay diễn giải. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trong đó quan niệm kiểu loại được nhiều nhà nghiên cứu cảnh quan sử dụng phổ biến.
Trong quan niệm này cảnh quan được coi là đơn vị cơ sở, là một cấp phân vị, đơn vị phân loại thể hiện rõ nét nhất cả hai quy luật địa đới và phi địa đới, đồng thời là địa hệ tự nhiên cấp cơ sở có cấu trúc hình thái riêng. Trong NCCQ có nhiều hướng khác nhau, cần phải hiểu cảnh quan theo đúng bản chất của nó, không thể hiểu theo tên gọi vì chưa có một định nghĩa cảnh quan thống nhất [27]. Hệ thống phân loại cảnh quan trên thế giới và Việt Nam Một địa tổng thể bất kì luôn có đặc tính là vừa mang tính chất cá thể, vừa mang tính chất kiểu loại, tức là giữa các cá thể địa tổng thể đồng cấp vừa có những điểm khác nhau, vừa có những điểm giống nhau nhất định. Chính vì thế các nhà địa lí tổng hợp thường phối hợp phân vùng với phân loại.
Phân loại trên cơ sở phân vùng xuất phát từ bản đồ các địa tổng thể, như thế vừa không cho phép có những lỗ hổng trong khi tiến hành phân loại, vừa có thể phân loại chi tiết do không có sự trùng lặp giữa hai đơn vị phân vị và phân loại, đồng thời phạm vi phân bố của các đơn vị phân loại được hạn chế. Khi phân loại, có nguyên tắc chung áp dụng cho mọi hệ thống của mọi cấp, lại có nguyên tắc và chỉ tiêu riêng cho từng hệ thống của từng cấp. Các nguyên tắc chung có thể đề cập đến gồm : Hệ thống phân loại phải bao quát được đầy đủ các cá thể, không thể có tình trạng một cá thể không thuộc bậc phân loại nào, và ngược lại cũng không có tình huống một cá thể lại nằm ở nhiều bậc phân loại. Mỗi bậc phân loại chỉ được dùng một chỉ tiêu phân loại.
Tuy nhiên, có thể dùng nhiều chỉ tiêu phân loại cho một bậc khi biết kết hợp chúng một cách hợp lí, hoặc khi phân nhánh hệ thống phân loại, mỗi nhánh có một chỉ tiêu riêng. Do đó nếu dùng nhiều chỉ tiêu thì phải thêm bậc phân loại, là nguyên nhân làm cho hệ thống phân loại thêm cồng kềnh. Vì thế phải thận trọng khi chọn chỉ tiêu phân loại, nên chọn những tính chất quan trọng, có thể đại diện cho nhiều tính chất khác, đó là tính chất chỉ thị hoặc là tính chất quyết định quá trình hình thành địa tổng thể. Dùng chỉ tiêu có khả năng bao quát được nhiều cá thể làm chỉ tiêu bậc trên, còn chỉ tiêu bao gồm ít cá thể thì dùng cho bậc dưới.
Đây là nguyên tắc dễ bị các nhà địa lí vi phạm nhất, vì họ 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thường vịn vào tính chất tổng hợp của địa tổng thể mà đưa nhiều chỉ tiêu vào một bậc phân loại, làm cho dễ nhầm lẫn giữa phân loại và phân vùng. Số bậc trong hệ thống phân loại phải hợp lí và phải phụ thuộc vào tính chất của đối tượng phân loại nhưng không nên quá nhiều, đồng thời không được bỏ những bậc cần thiết. Bỏ bậc cần thiết sẽ làm cho mối liên hệ giữa các bậc trở nên khó hiểu.