Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA NGHIÊN CỨU, ĐÁNH GIÁ CẢNH QUAN PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN KINH TẾ 1. Cơ sở lí luận nghiên cứu, đánh giá cảnh quan phục vụ phát triển kinh tế 1. Lí luận chung về nghiên cứu cảnh quan 1. Quan niệm về cảnh quan Khái niệm CQ được sử dụng lần đầu tiên vào thế kỉ XIX, có nghĩa là phong cảnh (tiếng Đức- Landschaft).
Theo lịch sử phát triển của CQ học, nhiều tác giả nghiên cứu về nó, đưa ra nhiều định nghĩa khác nhau như: L. Cảnh quan là đối tượng nghiên cứu của Địa lý học hiện đại. Không kể quan niệm CQ là phong cảnh như trên, hiện nay trong khoa học địa lý cùng tồn tại 3 quan niệm khác nhau về CQ: CQ là một khái niệm chung (F.), đồng nghĩa với tổng thể địa lý thuộc các đơn vị khác nhau; CQ là đơn vị mang tính kiểu hình (B.); CQ là các cá thể địa lý không lặp lại trong không gian (N. Ixatxenko, Vũ Tự Lập.
Dù xét CQ theo khía cạnh nào thì CQ vẫn là một tổng thể TN. Sự khác biệt của các quan niệm trên ở chỗ coi CQ là đơn vị thuộc cấp phân vị nào, CQ được xác định và thể hiện trên bản đồ theo cách thức nào [10], [20]. Hai quan niệm sau (quan niệm kiểu loại và quan niệm cá thể) được các nhà nghiên cứu chuyên ngành CQ sử dụng. Trong đó, quan niệm kiểu loại phổ biến hơn.
Theo quan niệm này, CQ là sự phối hợp biện chứng như một tổng hợp thể lãnh thổ tự nhiên tương đối đồng nhất, không phụ thuộc vào phạm vi lãnh thổ phân bố. Quan niệm này rất có lợi thế cho thành lập bản đồ CQ phục vụ các mục đích thực tiễn. Vì khi có nhiều yếu tố chưa thể định lượng được một cách chính xác, cần phải công nhận tính đồng nhất tương đối để có thể ghép vào một nhóm, đưa ra các phương án tính toán, nhằm bố trí hợp lý sản xuất. Trong địa lý ứng dụng, NCCQ phục vụ sản xuất, CQ vẫn được xem xét ở 3 khía cạnh: đơn vị tổng thể (theo khái niệm chung), đơn vị phân kiểu (khái niệm loại hình) và đơn vị cá thể (khái niệm cá thể) (Shishenko P.
Như vậy, CQ trước hết như là một tổng hợp thể tự nhiên (khái niệm chung), vừa được xét như một đơn vị cá thể, vừa được xét như một đơn vị loại hình. Trong luận văn này chúng tôi sử dụng quan niệm CQ là đơn vị mang tính kiểu hình để thành lập bản đồ CQ vùng Đồng Tháp Mười của tỉnh Đồng Tháp. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Hướng NCCQ phục vụ phát triển kinh tế Cảnh quan học đã vận dụng những tri thức địa lý chung để nghiên cứu lãnh thổ cụ thể.
Học thuyết CQ cũng như khoa học địa lý, tuân thủ các giai đoạn phát triển: phân tích bộ phận, tổng hợp, tổng hợp bậc cao hơn và phát triển theo dạng xoắn ốc, ngày càng đi sâu vào bản chất sự vật, hiện tượng của lớp vỏ CQ. Cùng với sự phát triển khoa học địa lý bộ phận, thành tựu nghiên cứu địa lý sinh vật và phân hoá không gian của các hợp phần CQ, khoa học CQ xác định một thời kì nghiên cứu sự phân chia bề mặt Trái đất. CQ học là học thuyết về các quy luật phân hoá lãnh thổ của lớp vỏ địa lý; CQ là đơn vị cơ sở. Hệ thống phân vùng được xem như là nhóm các CQ vào các liên kết lãnh thổ bậc cao trên cơ sở các mối quan hệ liên CQ về mặt không gian và lịch sử [20].
Đây là giai đoạn nghiên cứu cấu trúc không gian của CQ. Hướng nghiên cứu cấu trúc xác định tính chất CQ. Do đó, các nghiên cứu hướng sâu vào chỉ tiêu định lượng tính chất CQ, sử dụng các biện pháp như: tiếp cận hệ thống, tiếp cận điều khiển, tiếp cận sinh thái, nghiên cứu tác động kĩ thuật (nhân tác) vào NCCQ. Điều này đánh dấu hướng chuyển từ nghiên cứu cấu trúc không gian sang nghiên cứu chức năng động lực của CQ và đây là cơ sở cho sự ra đời của nhiều bộ môn khoa học mới: địa vật lý CQ, địa hoá học CQ, vật hậu học CQ, sinh thái học CQ.
Cùng thời gian này, vấn đề “môi trường sống dựa trên các nguyên tắc sinh thái và CQ địa lý” góp phần tạo nên hướng NCCQ mới - hướng sinh thái CQ, nhưng nó ít có tiến bộ rõ rệt trong lĩnh vực lý thuyết. Việc sinh thái hoá CQ là sử dụng phương pháp nghiên cứu HST trong NCCQ, coi mỗi đơn vị CQ là một HST. Nghiên cứu thể tổng hợp ĐLTN hay hệ địa - sinh thái, nhằm nhấn mạnh vai trò của giới hữu sinh trong tổng thể. Tiếp cận hệ thống đối với hệ địa - sinh thái (hệ thống động lực hở tự điều chỉnh) đồng nghĩa với việc nghiên cứu các thành phần, các mối quan hệ tương hỗ giữa chúng.
Để hiểu mối cân bằng của một hệ địa - sinh thái cần hiểu mối liên hệ nội tại giữa các thành phần thuộc hai nhóm vật chất vô cơ và hữu cơ [6], [26]. Hướng sinh thái hoá CQ là hướng ứng dụng với mục đích nghiên cứu trao đổi và chuyển hoá vật chất của vòng tuần hoàn sinh vật trong CQ, bảo vệ và làm tốt hơn môi trường sống. Qua đó, con người có thể điều chỉnh hoạt động của hệ theo hướng mong muốn. Hướng “CQ sinh thái” - một nhánh khác của khoa học CQ, được nảy sinh trong sự tiếp xúc và liên kết nghiên cứu giữa CQ học và sinh thái học.
Nó hoàn toàn khác “sinh thái hoá CQ” cả về đối tượng, nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu. CQ sinh thái kế thừa và phát triển kết quả NCCQ và HST. CQ sinh thái nghiên cứu sự phân hoá của các LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đơn vị CQ sinh thái theo hệ thống phân bậc. Tiếp cận sinh thái vào NCCQ không có nghĩa là đưa hoàn toàn các phương pháp HST vào NCCQ như trong sinh thái CQ.
Cùng với sự phát triển của khoa học - kỹ thuật và những ngành liên quan, NCCQ đã đi sâu vào hướng nghiên cứu bản chất xu thế phát triển, mối quan hệ nhiều chiều giữa các thành phần tự nhiên, đặc biệt là xu thế phát triển của CQ hiện đại dưới tác động kĩ thuật của con người. Hiện nay, xu hướng NCCQ trên thế giới và ở Việt Nam là dựa vào kết quả nghiên cứu ở phạm vi toàn cầu. Các nhà CQ học tiếp tục đi sâu vào hướng tiếp cận khoa học tổng hợp - NCCQ vùng. Quan trọng hơn là ứng dụng kết quả nghiên cứu đó cho các mục đích thực tiễn: ĐGCQ cho mục đích phát triển sản xuất, KT – XH và bảo vệ môi trường lãnh thổ trên quan điểm PTBV [10, tr.
Lý luận và phương pháp luận NCCQ Theo GS. Nguyễn Thượng Hùng: “NCCQ thực chất là nghiên cứu về các mối quan hệ tương hỗ giữa các hợp phần TN, nguồn gốc phát sinh, quá trình phát triển và quy luật phân hóa của TN nhằm phát hiện và phân chia các thể tổng hợp TN - các đơn vị CQ có tính đồng nhất tương đối trong lãnh thổ đánh giá làm cơ sở đánh giá tổng hợp các ĐKTN-TNTN và KT-XH để lập quy hoạch sử dụng hợp lý, phát triển kinh tế và BVMT” [49, tr. NCCQ nói chung hay phân tích, đánh giá tính đa dạng CQ một lãnh thổ là dựa vào tiếp cận hệ thống để nghiên cứu mối quan hệ tương tác giữa các yếu tố thành phần trong địa tổng thể và giữa các địa tổng thể TN với nhau. Để xác định cơ sở lý luận, phương pháp luận cần xác định đối tượng nghiên cứu, những nguyên tắc cơ bản, cơ sở khoa học thực hiện nội dung và đề xuất các bước nghiên cứu cụ thể.
nhằm giải quyết mục tiêu và nhiệm vụ đặt ra: + Đối tượng NCCQ là các đơn vị CQ, gồm đơn vị phân loại CQ (các cấp như: hệ, lớp, kiểu, loại, dạng.) và đơn vị phân vùng CQ (các cấp như: địa ô, miền, vùng, xứ. Việc lựa chọn, sử dụng đối tượng nghiên cứu (đơn vị CQ) theo đơn vị phân loại hay đơn vị phân vùng phụ thuộc vào mục tiêu nghiên cứu, đặc biệt là phụ thuộc vào tỉ lệ các bản đồ sẽ xây dựng. + Những nguyên tắc nghiên cứu mang tính đặc trưng trong NCCQ là nguyên tắc phát sinh, đồng nhất tương đối. + Từ những nguyên tắc cơ bản cùng với mục đích và đối tượng nghiên cứu, lựa chọn phương pháp nghiên cứu phù hợp.
Sử dụng các phương pháp này làm rõ tính chất LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đặc thù của TN và các đơn vị CQ nhằm tiến hành bước nghiên cứu tiếp theo: đánh giá tính đa dạng, phức tạp mỗi CQ; xác lập quy trình nghiên cứu. + Các bước NCCQ gồm: xây dựng bản đồ CQ lãnh thổ nghiên cứu; xây dựng bản đồ phân vùng CQ; phân tích cụ thể tính đa dạng về cấu trúc, chức năng và động lực theo từng đơn vị CQ (theo đơn vi phân loại hoặc theo đơn vị phân vùng). Theo lý luận chung, nghiên cứu đặc điểm CQ cần nghiên cứu về cấu trúc, chức năng và động lực của CQ, cụ thể: + Về cấu trúc CQ: bao gồm cấu trúc đứng và cấu trúc ngang. Đặc trưng của CQ thể hiện rõ nhất trong cấu trúc của nó.
Mỗi đơn vị CQ dù ở cấp nào cũng được cấu tạo bởi các thành phần TN có quan hệ mật thiết với nhau: địa chất, địa hình, khí hậu, nước, đất, sinh vật, hoạt động nhân tác. Mỗi khu vực nghiên cứu thể hiện đặc điểm phân hoá phức tạp theo không gian lãnh thổ của các đơn vị CQ nhưng vẫn có mối liên quan chặt chẽ và phụ thuộc lẫn nhau giữa các đơn vị từ cao xuống thấp (từ lớp CQ, phụ lớp CQ đến kiểu CQ, loại CQ). Phân hoá theo không gian và thành phần cấu tạo là đặc điểm rất quan trọng của CQ. Nó liên quan đến quy luật biến động, phát triển của mỗi đơn vị CQ trong toàn hệ thống CQ.
Đây là cơ sở để xác định chức năng đặc trưng cho các mục đích sử dụng khác nhau. + Về chức năng CQ: qua cơ sở phân tích, ĐGCQ, xác định những chức năng chủ yếu của chúng trên lãnh thổ nghiên cứu như: chức năng phòng hộ bảo vệ, chức năng phục hồi và bảo tồn, chức năng phát triển kinh tế sinh thái, chức năng sản xuất lương thực thực phẩm, chức năng NTTS, chức năng thuỷ điện, chức năng công nghiệp, đô thị. + Về động lực của CQ: các CQ luôn chịu sự tác động trong suốt quá trình hình thành, phát triển của mình.