Tổng quan nghiên cứu

Việt Nam là quốc gia nằm trong năm ổ bão lớn của khu vực châu Á - Thái Bình Dương, thường xuyên gánh chịu thiệt hại nặng nề do thiên tai với mức tổn thất trung bình hằng năm ước tính từ 1% đến 1,5% GDP và khoảng 750 người chết hoặc mất tích. Riêng tại tỉnh Thanh Hóa, thống kê giai đoạn 1996 - 2009 ghi nhận 324 người thiệt mạng cùng tổng thiệt hại kinh tế vượt mức 4.500 tỷ đồng. Trong bức tranh chung đó, xã Quảng Nham thuộc huyện Quảng Xương là khu vực xung yếu có tính chất đặc thù khi sở hữu địa hình ba mặt giáp nước, bao gồm Vịnh Bắc Bộ ở phía Đông, cửa sông Yên ở phía Tây và cửa biển Lạch Ghép ở phía Nam. Toàn xã có quy mô dân số 15.000 người với 25% thuộc diện hộ nghèo, trong đó có khoảng 500 hộ gia đình sinh sống sát mép nước cách bờ dưới 100m, chịu tác động trực tiếp từ bão nhiệt đới, triều cường và xói lở bờ biển.

Mục tiêu trọng tâm của nghiên cứu là nhận diện toàn diện các loại hình hiểm họa tự nhiên, phân tích mức độ dễ bị tổn thương và đánh giá năng lực ứng phó tại chỗ của cộng đồng trong bối cảnh biến đổi khí hậu. Nghiên cứu được triển khai thực địa từ tháng 4 năm 2013 đến tháng 9 năm 2013, thu thập và xử lý chuỗi dữ liệu thiên tai lịch sử kéo dài 48 năm (1965 - 2013) tại 10 thôn ven biển xung yếu. Kết quả nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn sâu sắc, cung cấp cơ sở khoa học giúp bảo vệ 2.300 trẻ em và 900 người cao tuổi tại địa phương, đồng thời đóng góp khung dữ liệu điển hình phục vụ Đề án 1002 của Thủ tướng Chính phủ về nâng cao nhận thức cộng đồng và quản lý rủi ro thiên tai.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng mô hình định lượng rủi ro thiên tai chuẩn hóa quốc tế: Rủi ro thiên tai được xác định bằng tích số giữa Mức độ hiểm họa và Tình trạng dễ bị tổn thương, chia cho Năng lực ứng phó. Trên nền tảng đó, đề tài kết hợp phương pháp Đánh giá hiểm họa, tình trạng dễ bị tổn thương và năng lực (HVCA) cùng khung Đánh giá nông thôn có sự tham gia của cộng đồng (PRA) do Hội Chữ thập đỏ và Trung tâm Phòng tránh thiên tai ban hành. Đồng thời, nghiên cứu tích hợp khung lý thuyết sinh kế bền vững của Bộ Phát triển Quốc tế Anh (DFID) nhằm khảo sát năm nguồn vốn sinh kế: tự nhiên, vật chất, tài chính, con người và xã hội.

Bốn khái niệm cốt lõi được chuẩn hóa bao gồm: Hiểm họa tự nhiên (các hiện tượng bão, ngập lụt, xói lở bờ sông, bờ biển); Tình trạng dễ bị tổn thương (các yếu tố kinh tế - xã hội, cấu trúc nhà ở, mật độ dân cư sát mép nước); Năng lực ứng phó (khả năng phòng ngừa, tự bảo vệ và phục hồi); và Phương châm 4 tại chỗ (chỉ huy tại chỗ, lực lượng tại chỗ, phương tiện vật tư tại chỗ, hậu cần tại chỗ) được quy định tại Luật Phòng chống thiên tai năm 2013.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp nguồn dữ liệu thứ cấp và dữ liệu sơ cấp thực địa. Dữ liệu thứ cấp gồm chuỗi quan trắc khí tượng thủy văn 30 năm (1980 - 2010) tại trạm Quảng Thịnh ghi nhận nhiệt độ trung bình tăng từ 0,1°C đến 0,4°C và độ mặn sông Yên đạt đỉnh 3,3‰, cùng các báo cáo phòng chống lụt bão giai đoạn 1965 - 2013.

Phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp áp dụng kỹ thuật PRA và chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên với quy mô 169 cá nhân tham gia phỏng vấn sâu qua bảng hỏi cấu trúc. Cỡ mẫu bao gồm: 22 cán bộ Ban chỉ huy Phòng chống lụt bão xã và trưởng thôn; 114 đại diện hộ gia đình cư trú sát mép nước (riêng thôn Tân và thôn Tiến chiếm 60 hộ); 3 cán bộ ban giám hiệu trường học; và 30 học sinh từ lớp 4 đến lớp 9. Bên cạnh đó, nghiên cứu tổ chức thảo luận nhóm tập trung (FGD) trong 3 ngày với 40 đại diện thuộc 5 nhóm đối tượng dễ bị tổn thương tại 10 thôn ven biển. Lý do lựa chọn kết hợp PRA và phỏng vấn cấu trúc là nhằm lượng hóa tri thức bản địa, đảm bảo tính khách quan và tăng cường quyền làm chủ của người dân. Toàn bộ dữ liệu được mã hóa nhị phân và phân tích thống kê mô tả trên phần mềm chuyên dụng.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Nghiên cứu chỉ ra ba phát hiện quan trọng phản ánh bức tranh rủi ro thiên tai tại xã Quảng Nham:

Thứ nhất, tần suất và cường độ hiểm họa cực đoan gia tăng rõ rệt theo thời gian. Chu kỳ xuất hiện các cơn bão mạnh có xu hướng rút ngắn nghiêm trọng: từ 10 năm một lần trong giai đoạn 1965 - 1975 rút xuống 5 năm một lần giai đoạn 1975 - 1980, và chỉ còn 2 năm một lần trong giai đoạn 2005 - 2007. Hiện tượng xâm thực diễn biến phức tạp khi nước biển xói lở sâu tới 50m vào đất liền và sông Yên ăn sâu 30m tại thôn Tân so với mốc năm 1980.

Thứ hai, mức độ tổn thương về tài sản và sinh kế ở mức báo động. Lịch sử ghi nhận trận bão năm 1980 làm sập và tốc mái 75% nhà ở kém kiên cố (khoảng 2.000 căn nhà), khiến 5 người thiệt mạng. Cơn bão số 7 năm 2005 phá hủy hoàn toàn 30 ha rừng phi lao phòng hộ, gây ngập lụt chia cắt thôn Tân với thiệt hại ước tính 7 tỷ đồng. Giai đoạn 2010 - 2012, thiên tai tiếp tục làm chìm 4 tàu cá và gây thất thu diện rộng tại các bãi nuôi ngao với thiệt hại 5 tỷ đồng.

Thứ ba, năng lực thực hiện phương châm 4 tại chỗ bộc lộ nhiều điểm nghẽn. Trước năm 2007, 100% hộ dân phải tự ứng phó đơn lẻ khi thiên tai xảy ra. Hơn 50% người dân chưa hiểu đúng về kịch bản biến đổi khí hậu. Nguồn dự trữ hậu cần tại chỗ của đa số hộ chỉ duy trì được dưới 3 ngày, thấp hơn nhiều so với yêu cầu tối thiểu từ 7 đến 10 ngày.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân chính dẫn đến tính dễ bị tổn thương cao bắt nguồn từ vị trí địa lý phơi nhiễm trực tiếp trước biển, tỷ lệ hộ nghèo chiếm 25% và sinh kế phụ thuộc hoàn toàn vào đánh bắt ven bờ. Khi đối chiếu với kết quả đánh giá tại xã lân cận là Quảng Lợi, mức độ thiệt hại của Quảng Nham cao hơn hẳn do mật độ dân cư tập trung tại mép nước dày đặc hơn.

Dữ liệu nghiên cứu được hệ thống hóa qua bản đồ rủi ro thiên tai cấp xã, biểu đồ diễn biến nhiệt độ - lượng mưa và bảng ma trận lịch mùa vụ - thiên tai (trong đó tháng 8 đến tháng 11 là cao điểm bão lũ trùng với mùa khai thác hải sản chính). Kết quả này khẳng định giảm nhẹ rủi ro thiên tai không thể chỉ dựa vào công trình đê kè mà phải củng cố năng lực thích ứng nội tại của từng hộ gia đình.

Đề xuất và khuyến nghị

Nghiên cứu đề xuất bốn nhóm giải pháp hành động đồng bộ nhằm giảm thiểu tình trạng dễ bị tổn thương và nâng cao năng lực cộng đồng:

Thứ nhất, nâng cấp công trình phòng hộ xung yếu. Tiến hành kiên cố hóa 3,5 km đê kè ven biển và bờ sông Yên, kết hợp trồng mới phục hồi 30 ha rừng phi lao chắn sóng nhằm giảm 40% cường độ sóng tràn vào khu dân cư. Timeline thực hiện: 2015 - 2018. Chủ thể chịu trách nhiệm: Ủy ban nhân dân tỉnh Thanh Hóa phối hợp Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn.

Thứ hai, kiện toàn năng lực phương châm 4 tại chỗ. Thành lập và tổ chức huấn luyện chuyên sâu cho 1 đội xung kích cứu hộ cứu nạn cấp xã gồm 25 thành viên nòng cốt; trang bị đầy đủ áo phao, thuyền cứu sinh và hệ thống loa truyền thanh đa điểm; nâng tỷ lệ hộ gia đình có phương án dự trữ lương thực nước uống từ 7 đến 10 ngày lên trên mức 85%. Timeline thực hiện: Định kỳ hằng năm giai đoạn 2015 - 2020. Chủ thể chịu trách nhiệm: Ban Chỉ huy Phòng chống thiên tai và Tìm kiếm cứu nạn xã Quảng Nham.

Thứ ba, chuyển đổi sinh kế bền vững và an toàn hóa nghề cá. Hỗ trợ ngư dân tiếp cận vốn vay ưu đãi để nâng cấp công suất tàu thuyền, lắp đặt thiết bị giám sát hành trình và máy liên lạc tầm xa cho 100% tàu đánh bắt xa bờ; đa dạng hóa nghề phụ nhằm giảm phụ thuộc vào nuôi ngao bãi triều dễ rủi ro. Timeline thực hiện: 2016 - 2020. Chủ thể chịu trách nhiệm: Phòng Nông nghiệp huyện Quảng Xương và Hội Nông dân.

Thứ tư, đẩy mạnh truyền thông học đường và nâng cao nhận thức cộng đồng. Triển khai lồng ghép tài liệu phòng tránh thiên tai vào chương trình giảng dạy cho 100% học sinh các trường tiểu học, trung học cơ sở; tổ chức diễn tập sơ tán hằng năm cho 10 thôn ven biển nhằm đạt chỉ tiêu 90% người dân nắm vững kỹ năng tự thoát hiểm. Timeline thực hiện: 2015 - 2017. Chủ thể chịu trách nhiệm: Ban Giám hiệu các nhà trường phối hợp Đoàn Thanh niên xã.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Luận văn là tài liệu tham khảo giá trị cho bốn nhóm đối tượng chuyên môn:

Nhóm 1: Cơ quan quản lý Nhà nước và Ban chỉ huy Phòng chống thiên tai các cấp (Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Ủy ban nhân dân huyện Quảng Xương). Lợi ích: Khai thác quy trình đánh giá HVCA thực tế để xây dựng kế hoạch hành động ứng phó biến đổi khí hậu cấp huyện và xã sát với điều kiện địa phương.

Nhóm 2: Các tổ chức phi chính phủ quốc tế và tổ chức xã hội (CARE, World Vision, Hội Chữ thập đỏ, UNDP). Lợi ích: Sử dụng phương pháp luận và bộ công cụ PRA trong luận văn làm tài liệu hướng dẫn can thiệp cho các dự án quản lý rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng (CBDRM) tại vùng duyên hải Bắc Trung Bộ.

Nhóm 3: Giảng viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh ngành Khoa học Môi trường, Quản lý tài nguyên, Phát triển bền vững. Lợi ích: Tham khảo phương pháp tích hợp mô hình định lượng rủi ro với khảo sát xã hội học và khung sinh kế 5 nguồn vốn của DFID trong nghiên cứu thực địa.

Nhóm 4: Cán bộ chính quyền và đoàn thể tại các xã ven biển bãi ngang. Lợi ích: Vận dụng trực tiếp bảng hỏi khảo sát hộ gia đình, quy trình thành lập đội xung kích và phương án củng cố 4 tại chỗ vào công tác phòng chống lụt bão hằng năm tại cơ sở.

Câu hỏi thường gặp

Phương pháp HVCA kết hợp PRA mang lại ưu thế gì so với các mô hình đánh giá kỹ thuật đơn thuần? Phương pháp này huy động trực tiếp 169 người dân và cán bộ địa phương tham gia vào tiến trình nhận diện hiểm họa. Thay vì chỉ dựa vào mô phỏng thủy văn tốn kém, PRA lượng hóa được tri thức bản địa, giúp phản ánh chính xác điểm nghẽn tại 10 thôn ven biển và xây dựng kế hoạch ứng phó phù hợp nguồn lực sẵn có.

Những hiểm họa tự nhiên nào đe dọa nghiêm trọng nhất đến đời sống người dân xã Quảng Nham? Bão mạnh kết hợp triều cường, ngập lụt và xói lở bờ biển, bờ sông là các hiểm họa khốc liệt nhất. Điển hình, trận bão năm 1980 phá hủy 75% nhà ở (khoảng 2.000 căn) làm 5 người chết; bão số 7 năm 2005 cuốn trôi 30 ha rừng phi lao, gây thiệt hại 7 tỷ đồng và khiến nước biển xâm thực sâu 50m.

Tại sao nhóm 500 hộ dân sinh sống sát mép nước lại có tính dễ bị tổn thương cao nhất? Nhóm dân cư này tập trung tại các thôn như thôn Tân, thôn Tiến nằm trực diện hướng sóng và sạt lở sông Yên. Với tỷ lệ nghèo 25%, đa số hộ sở hữu nhà tranh tre, nhà cấp 4 thiếu kiên cố và tàu thuyền nhỏ, dẫn đến khả năng chống chịu và phục hồi sau bão cấp 11 - 12 rất hạn chế.

Công tác chuẩn bị theo phương châm 4 tại chỗ tại địa phương còn những tồn tại nào? Khảo sát thực địa chỉ ra khâu vật tư và hậu cần tại chỗ còn yếu. Đa số hộ gia đình chỉ dự trữ lương thực dưới 3 ngày thay vì tiêu chuẩn 7 - 10 ngày. Lực lượng xung kích cấp thôn thiếu trang thiết bị cứu sinh chuyên dụng, trong khi việc chỉ huy ứng cứu trước năm 2007 phần lớn mang tính tự phát.

Làm thế nào để áp dụng kết quả nghiên cứu này vào Đề án 1002 của Chính phủ? Chính quyền cơ sở có thể sử dụng bộ câu hỏi khảo sát 169 mẫu và sơ đồ hiểm họa trong luận văn để chuẩn hóa quy trình đánh giá rủi ro cho toàn bộ các xã ven biển, lồng ghép kinh phí tập huấn cứu nạn vào ngân sách hằng năm nhằm nâng cao năng lực chống chịu cho cộng đồng.

Kết luận

Luận văn đóng góp những giá trị cốt lõi sau:

  • Hệ thống hóa toàn diện dữ liệu lịch sử thiên tai 48 năm (1965 - 2013) và biến động khí hậu 30 năm tại vùng ven biển xã Quảng Nham.
  • Lượng hóa chính xác mức độ tổn thương của 15.000 dân cư, chỉ rõ 500 hộ sát mép nước và 25% hộ nghèo là đối tượng chịu rủi ro cao nhất.
  • Đánh giá thực trạng năng lực 4 tại chỗ thông qua phỏng vấn 169 đối tượng và thảo luận nhóm tập trung với 40 đại diện cộng đồng.
  • Xây dựng thành công bản đồ hiểm họa và ma trận mùa vụ - rủi ro thiên tai có sự tham gia của 10 thôn ven biển.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp công trình và phi công trình khả thi, gắn liền với định hướng phát triển bền vững giai đoạn 2015 - 2020.

Đóng góp lớn nhất của công trình là cung cấp khung đánh giá rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng có tính ứng dụng cao cho các dải ven biển Bắc Trung Bộ. Kế hoạch tiếp theo đòi hỏi chính quyền các cấp sớm phê duyệt ngân sách để gia cố 3,5 km đê kè và tổ chức diễn tập ứng phó hằng năm. Các nhà quản lý và cơ quan ban ngành hãy ứng dụng ngay mô hình đánh giá này để chủ động bảo vệ an toàn tính mạng và sinh kế của nhân dân trước thách thức biến đổi khí hậu.