CHƯƠNG I. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tình hình thiên tai và biến đổi khí hậu tại Việt Nam Việt Nam là quốc gia hàng năm phải đối mặt với nhiều loại hình thiên tai khác nhau, đặc biệt là bão và lũ lụt. Trong 10 năm trở lại đây, trung bình hàng năm có tới 750 người chết và mất tích, thiệt hại về tài sản ước tính tương đương khoảng 1-1,5% GDP [DMC – BNN&PTNT, 2011] đã tác động xấu đến nhiều mặt về phát triển kinh tế, xã hội và môi trường.
Trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng biệu hiện rõ ở Việt Nam, thiên tai được dự báo là sẽ ngày càng khốc liệt, khó lường, gia tăng cả về cường độ và tần suất khiến người dân, chính quyền và các thành phần xã hội khác phải gánh chịu những rủi ro thiên tai lớn hơn bao giờ hết. Theo thống kê của Ban chỉ đạo PCLBTW từ năm 1996 đến năm 2011, số người chết do lụt bão có xu hướng gia tăng (180 người năm 2003 đến 474 người năm 2008), đồng thời thiệt hại về kinh tế cũng có xu hướng tăng mạnh (từ 1589,7 tỷ năm 2003 đến 18565,661 tỷ năm 2006) [Văn phòng thường trực Ban chỉ đạo PCLB Trung ương, 2013]. Điều này được lý giải là do tần suất và cường độ lụt, bão trong những năm gần đây tăng lên và diễn biến rất phức tạp, khó dự báo và việc chủ động phòng tránh còn hạn chế về nhiều mặt của nước ta. Chính phủ và nhân dân Việt Nam rất quan tâm đến giảm thiểu rủi ro thiên tai và ứng phó với biến đổi khí hậu.
Chính phủ đã thể hiện một cam kết mạnh mẽ trong việc giảm nhẹ thiên tai và thích ứng với biến đổi khí hậu thông qua việc Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định 172/2007/QĐ-TTg ngày 16 tháng 11 năm 2007 về Phê duyệt Chiến lược Quốc gia phòng chống và giảm nhẹ thiên tai đến năm 2020 [Thủ tướng Chính phủ, 2007] và Quyết định số 2139/QĐ-TTg ngày 5 tháng 12 năm 2011 về Phê duyệt Chiến lược Quốc gia về Biến đổi khí hậu [Thủ tướng Chính phủ, 2011] và sau đó cụ thể hóa bằng Quyết định số 1002/QĐ-TTg ngày 13 tháng 7 năm 2009 về Phê duyệt Đề án nâng cao nhận thức cộng đồng và quản lý rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng [Thủ tướng Chính phủ, 2009] và Quyết định số 1183/QĐ-TTg ngày 30 tháng 8 năm 2012 về Phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia Ứng phó với biến đổi khí hậu giai đoạn 2012 – 2015 [Thủ tướng Chính phủ, 2012]. Đặc biệt, Luật Phòng chống thiên tai đã được xây dựng và được Quốc hội nước Cộng hòa xã 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 5 thông qua ngày 19 tháng 6 năm 2013[Quốc Hội, 2013]. Hiện nay, mọi nỗ lực đang được tiến hành để triển khai rộng các chính sách nói trên tại các địa phương trên phạm vi toàn quốc. Mục tiêu chung của Chiến lược quốc gia về phòng, chống và giảm nhẹ thiên tai là huy động mọi nguồn lực để thực hiện có hiệu quả công tác phòng tránh và giảm nhẹ thiên tai từ nay đến năm 2020 nhằm giảm đến mức thấp nhất thiệt hại về người và tài sản, hạn chế sự phá hoại tài nguyên thiên nhiên, môi trường và di sản văn hóa, góp phần quan trọng bảo đảm phát triển bền vững của đất nước, bảo đảm quốc phòng, an ninh.
Để thực hiện thành công chiến lược quốc gia phòng tránh, giảm nhẹ thiên tai thì nhận thức và sự tham gia của người dân và chính quyền địa phương là rất quan trọng. Chính vì vậy, ngoài các chương trình nâng cấp cơ sở hạ tầng, chính phủ còn thực hiện Đề án 1002 về Nâng cao nhận thức cộng đồng và quản lý rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng, trước mắt thực hiện cho cho 6000 xã có nguy cơ rủi ro cao ở Việt Nam. Bên cạnh đó, mục tiêu chiến lược của Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với BĐKH là đánh giá được mức độ tác động của BĐKH với các lĩnh vực, ngành và địa phương trong từng giai đoạn và xây dựng được kế hoạch hành động có tính khả thi để ứng phó hiệu quả với BĐKH cho từng giai đoạn ngắn hạn và dài hạn, nhằm đảm bảo sự PTBV của đất nước, tận dụng các cơ hội phát triển nền kinh tế theo hướng các - bon thấp và tham gia cùng cộng đồng quốc tế trong nỗ lực giảm nhẹ BĐKH, bảo vệ hệ thống khí hậu Trái đất [Chính phủ, 2012]. Việt Nam đã tham gia nhiều hoạt động cấp khu vực và toàn câu về biến đổi khí hậu.
Đến nay nhiều bộ, ngành, địa phương đã xây dựng xong kế hoạch hành động ứng phó với biến đổi khí hậu. Kịch bản Biến đổi khí hậu đã được Bộ Tài nguyên và Môi trường xây dựng năm 2009, được bổ sung, cập nhật chi tiết cho các vùng năm 2012 là cơ sở quan trọng để các bộ, ngành, địa phương xây dựng chương trình hoạt động ứng phó phù hợp. Việt Nam cũng đã triển khai một số chương trình nghiên cứu về ứng phó với biến đổi khí hậu, phòng tránh, giảm nhẹ thiên tai có hiệu quả. Trong đó, tăng cường tính chủ động và tích cực của cộng đồng để chủ động ứng phó với những ảnh hưởng của thiên tai và biến đổi khí hậu thông qua giảm 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thiểu tình trạng dễ bị tổn thương và tăng cường năng lực cho cộng đồng bám sát phương châm bốn tại chỗ là vấn đề quan tâm hàng đầu trong chiến lược và hành động của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
Trên thực tế, Việt Nam là một trong những quốc gia chịu ảnh hưởng nặng nề nhất bởi thiên tai và biến đổi khí hậu. Theo Tổng quan Báo cáo Phát triển Con người của UNDP: Nếu nhiệt độ trái đất tăng lên 3 – 40C có thể khiến cho 330 triệu người phải di dời tạm thời hay vĩnh viễn do lũ lụt trong đó khoảng 22 triệu người Việt Nam có thể chịu ảnh hưởng bởi sự nóng lên toàn cầu và nước biển dâng [UNDP, 2007 - 2008]. Theo Kịch bản biến đổi khí hậu và nước biển dâng cho Việt Nam 2012, nếu mực nước biển dâng 1m, sẽ có khoảng 39% diện tích đồng bằng sông Cửu Long, trên 10% diện tích vùng đồng bằng sông Hồng và Quảng Ninh, trên 2,5% diện tích thuộc các tỉnh ven biển miền Trung và trên 20% diện tích Thành phố Hồ Chí Minh có nguy cơ bị ngập; Gần 35% dân số thuộc các tỉnh vùng đồng bằng sông Cửu Long, trên 9% dân số vùng đồng bằng sông Hồng, Quảng Ninh, gần 9% dân số các tỉnh ven biển miền Trung và khoảng 7% dân số Thành phố Hồ Chí Minh bị ảnh hưởng trực tiếp; Trên 4% hệ thống đường sắt, trên 9% hệ thống quốc lộ và khoảng 12% hệ thống tỉnh lộ của Việt Nam sẽ bị ảnh hưởng [Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2012]. Nằm ở một trong 5 ổ bão của thế giới, trước diễn biến bất thường của biến đổi khí hậu nói trên, tình hình thiên tai ngày càng diễn biến phức tạp và mức độ rủi ro thiệt hại đã và sẽ ngày càng tăng trong các năm tới đòi hỏi chúng ta phải có những hành động ứng phó kịp thời.
Tình hình thiên tai và biến đổi khí hậu tại tỉnh Thanh Hoá Thanh Hoá nằm ở phía Bắc của khu vực Bắc Trung Bộ có đặc điểm về khí hậu, thuỷ văn và địa hình phức tạp, là nơi chịu ảnh hưởng nhiều của hầu hết các loại thiên tai thường xuyên xảy ra ở Việt Nam như: bão; áp thấp nhiệt đới (ATNĐ); lũ lụt; hạn hán; lốc tố; giông sét; sạt lở đất; xói lở bờ sông, bờ biển; cháy rừng; xâm nhập mặn; triều cường… Ngoài ra, gần đây còn xuất hiện cả mưa đá và động đất với tần suất ngày càng cao và mức độ khốc liệt ngày càng lớn [VTV, 2013]. Trong đó, ảnh hưởng và gây thiệt hại nhiều nhất cho các vùng ven biển là bão, ATNĐ, lũ 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com lụt và hạn hán. Giáp mặt với biển Đông nên các vùng ven biển tỉnh Thanh Hoá rất dễ bị tổn thương bởi các cơn bão nhiệt đới, lũ lụt, hạn hán, xâm nhập mặn, v. Theo số liệu thống kê trong 52 năm trở lại đây từ năm 1955 đến 2007 Thanh Hoá phải chịu ảnh hưởng trực tiếp của hơn 100 cơn bão và ATNĐ, trong đó có 36 năm bão đổ bộ trực tiếp vào Thanh Hoá, tính trung bình mỗi năm có khoảng 2,4 cơn bão đổ bộ hoặc ảnh hưởng trục tiếp đến Thanh Hoá với sức mạnh gió từ cấp 8 đến cấp 11, 12.
Thanh Hoá phải chịu nhiều các trận bão biển và lũ lụt hàng năm, bão mức độ trung bình 3 năm một lần, mức độ lớn khoảng 10 năm một lần và mức độ tàn khốc khoảng 40 năm một lần. Mặt khác, theo số liệu thống kê của BCH PCLB tỉnh, lũ trong 42 năm trên một số sông thuộc lưu vực sông thấy rằng sông Chu có 12 năm; sông Mã có 10 năm; sông Bưởi có 20 năm xuất hiện lũ trên báo động III. Thời gian một con lũ từ 7 đến 10 ngày và lũ lên nhanh, xuống cũng rất nhanh. Trong lịch sử ở Thanh Hoá đã xảy ra 45 điểm vỡ đê trên sông lớn và 13 điểm vỡ đê sông nhỏ.
Lũ bão lớn đã xảy ra vào các năm 1927, 1944, 1962, 1973, 1980, 1996 và gần đây nhất là năm 2005 và 2007. Vào năm 2005, Thanh Hoá liên tiếp chịu ảnh hưởng của 4 cơn bão, 5 đợt lũ trên các triền sông và 1 đợt lũ quét tại huyện Quan Hoá đã gây thiệt hại rất nghiêm trọng cho các vùng trong tỉnh. Trong đó có hai cơn bão số 6 và số 7 đã liên tiếp đổ bộ vào Thanh Hoá trong các ngày 19/9 đến 27/9/2005 với sức gió giật cấp 11, trên cấp 11 kèm theo mưa to đến rất to. Vào năm 2007, do ảnh hưởng của hoàn lưu bão số 5 đã gây ra mưa lũ lớn, xảy ra tổ hợp lũ đặc biệt lớn trên tất cả các sông, làm tràn và vỡ nhiều tuyến đê sông, gây thiệt hại nặng nề ước tính khoảng 1100 tỷ đồng [Trường Đại học Thủy lợi, 2012].
Bão và lũ lụt đã gây ra rất nhiều thiệt hại nặng nề về người và tài sản cho người dân tỉnh Thanh Hoá. Ngoài ra, nó còn gây ra nhiều khó khăn về điều kiện ăn ở, vệ sinh môi trường, nguy cơ dịch bệnh cho người dân và hàng ngàn đồng ruộng bị nhiễm mặn do nước biển tràn vào phải mất rất nhiều tiền của, công sức qua nhiều năm mới có thể khôi phục và cải tạo lại được.