phần Mở đầu, phần Kết luận và kiến nghị, Luận văn đƣợc cấu trúc thành 03 chƣơng: - Chƣơng I: Tổng quan các vấn đề nghiên cứu. - Chƣơng II: Đánh giá kết quả 3 năm (2011 - 2013) thực hiện các chỉ tiêu kế hoạch sử dụng đất 5 năm kỳ đầu (2011 - 2015) của huyện Tam Đảo - Chƣơng III: Đề xuất giải pháp nhằm nâng cao tính khả thi của kế hoạch sử dụng đất huyện Tam Đảo 4 z CHƢƠNG I. TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Khái niệm về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất a) Theo Luật Đất đai 2013 “Quy hoạch sử dụng đất: Là việc phân bổ và khoanh vùng đất đai theo không gian sử dụng cho các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trƣờng và thích ứng biến đổi khí hậu trên cơ sở tiềm năng đất đai và nhu cầu sử dụng đất của các ngành, lĩnh vực đối với từng vùng kinh tế - xã hội và đơn vị hành chính trong một khoảng thời gian xác định” (Khoản 2 Điều 3).
“Kế hoạch sử dụng đất: Là việc phân chia quy hoạch sử dụng đất theo thời gian để thực hiện trong kỳ quy hoạch sử dụng đất” (Khoản 3 Điều 3). b) Về mặt thuật ngữ khoa học Theo Nguyễn Đình Bồng (2006), “Quy hoạch”là việc xác định một trật tự nhất định bằng những hoạt động nhƣ: phân bố, bố trí, sắp xếp, tổ chức. “Đất đai” là một phần lãnh thổ nhất định (vùng đất, khoanh đất, vạt đất, mảnh đất, miếng đất.) có vị trí, hình thể, diện tích với những tính chất tự nhiên hoặc mới tạo thành (đặc tính thổ nhƣỡng, địa hình, địa chất, thuỷ văn, chế độ nƣớc, nhiệt độ, ánh sáng, thảm thực vật.) tạo ra những điều kiện nhất định cho việc sử dụng theo các mục đích khác nhau. Do vậy, để sử dụng đất hiệu quả cần phải lập quy hoạch, đây là quá trình nghiên cứu, lao động sáng tạo nhằm xác định ý nghĩa mục đích của từng thành phần lãnh thổ và đề xuất một trật tự sử dụng đất nhất định [3].
c) Về mặt bản chất Theo Võ Tử Can, “Quy hoạch sử dụng đất đai là một hiện tƣợng kinh tế - xã hội thể hiện đồng thời 3 tính chất: kinh tế, kỹ thuật và pháp chế [4]. Trong đó: - Tính kinh tế: Thể hiện bằng hiệu quả sử dụng đất đai. - Tính kỹ thuật: Bao gồm các tác nghiệp chuyên môn kỹ thuật nhƣ điều tra, khảo sát, xây dựng bản đồ, khoanh định, xử lý số liệu. - Tính pháp chế: Xác lập tính pháp lý về mục đích và quyền sử dụng đất 5 z theo quy hoạch nhằm đảm bảo sử dụng và quản lý đất đai đúng pháp luật.
Quy hoa ̣ch sƣ̉ du ̣ng đấ t theo nghiã thông thƣờng : là sự phân bổ, bố trí đấ t đai cho các mu ̣c đích phát triể n kinh tế - xã hội , an ninh quố c phòng của cả nƣớ c và tƣ̀ng điạ phƣơng trong mô ̣t giai đoa ̣n nhấ t đinh ̣ trong tƣơng lai. Trên cơ sở nghiên cứu các khái niệm trên, về mặt quản lý nhà nƣớc có thể đƣa ra khái niệm: “Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất là việc nhà nước sử dụng hệ thống các biện pháp kinh tế, kỹ thuật và pháp chế để phân bổ và khoanh vùng đất đai theo không gian sử dụng cho các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trường và thích ứng biến đổi khí hậu trong một khoảng thời gian xác định; đồng thời phân kỳ thời gian phù hợp để thực hiện việc phân bổ và khoanh vùng đất đai đó”. Đặc điểm của quy hoạch sử dụng đất Quy hoạch sử dụng đất vừa có những thuộc tính riêng nhƣng cũng lại chứa đựng đầy đủ tính chất chung của các loại hình quy hoạch nói chung. Đặc điểm của Quy hoạch sử dụng đất đƣợc thể hiện ở các mặt sau [11]: - Tính lịch sử - xã hội: Lịch sử phát triển của xã hội chính là lịch sử phát triển của quy hoạch sử dụng đất.
Mỗi hình thái kinh tế - xã hội đều có một phƣơng thức sản xuất của xã hội thể hiện theo 2 mặt: lực lƣợng sản xuất (quan hệ giữa ngƣời với sức hoặc vật tự nhiên trong quá trình sản xuất) và quan hệ sản xuất (quan hệ giữa ngƣời với ngƣời trong quá trình sản xuất). Trong quy hoạch sử dụng đất, luôn nảy sinh quan hệ giữa ngƣời với đất đai - là sức tự nhiên (nhƣ điều tra, đo đạc, khoanh định, thiết kế…), cũng nhƣ quan hệ giữa ngƣời với ngƣời (xác nhận bằng văn bản về sở hữu và quyền sử dụng đất giữa những ngƣời chủ đất). Quy hoạch sử dụng đất đồng thời là yếu tố thúc đẩy phát triển lực lƣợng sản xuất, vừa là yếu tố thúc đẩy các mối quan hệ sản xuất, vì vậy nó luôn là một bộ phận của phƣơng thức sản xuất của xã hội. - Tính tổng hợp: Tính tổng hợp của quy hoạch sử dụng đất biểu hiện chủ yếu ở hai mặt: đối tƣợng của quy hoạch là khai thác, sử dụng, cải tạo, bảo vệ… toàn bộ tài nguyên đất đai cho nhu cầu của toàn bộ nền kinh tế quốc dân (trong quy hoạch 6 z sử dụng đất thƣờng động chạm đến việc sử dụng đất của tất cả các loại đất); quy hoạch sử dụng đất đề cập đến nhiều lĩnh vực về khoa học, kinh tế và xã hội nhƣ: khoa học tự nhiên, khoa học xã hội, dân số và đất đai, sản xuất nông, công nghiệp, môi trƣờng sinh thái… - Tính dài hạn: Căn cứ vào các dự báo xu thế biến động dài hạn của những yếu tố kinh tế xã hội quan trọng (nhƣ sự thay đổi nhân khẩu, tiến bộ kỹ thuật, đô thị hóa, công nghiệp hóa…), từ đó xác định quy hoạch trung và dài hạn về sử dụng đất, đề ra các phƣơng hƣớng, chính sách và biện pháp có tính chiến lƣợc, tạo căn cứ khoa học cho việc xây dựng kế hoạch sử dụng đất hàng năm và ngắn hạn.
- Tính chiến lƣợc và chỉ đạo vĩ mô: Quy hoạch sử dụng đất chỉ dự kiến trƣớc đƣợc các xu thế thay đổi phƣơng hƣớng, mục tiêu, cơ cấu và phân bố sử dụng đất (mang tính đại thể, không dự kiến đƣợc chi tiết của sự thay đổi), vì vậy nó mang tính chiến lƣợc, các chỉ tiêu của quy hoạch mang tính chỉ đạo vĩ mô, phƣơng hƣớng và khái lƣợc về sử dụng đất của các ngành. Do khoảng thời gian dự báo tƣơng đối dài, chịu ảnh hƣởng của nhiều nhân tố kinh tế - xã hội khó xác định nên chỉ tiêu quy hoạch càng khái lƣợc hóa quy hoạch sẽ càng ổn định. - Tính chính sách: Quy hoạch sử dụng đất thể hiện rất mạnh đặc tính chính trị và chính sách xã hội. Khi xây dựng phƣơng án phải quán triệt các chính sách và quy định có liên quan đến đất đai của Đảng và Nhà nƣớc, đảm bảo thực hiện cụ thể trên mặt bằng đất đai các mục tiêu phát triển nền kinh tế quốc dân, phát triển ổn định kế hoạch kinh tế - xã hội; tuân thủ các quy định, các chỉ tiêu khống chế về dân số, đất đai và môi trƣờng sinh thái.
- Tính khả biến: Dƣới sự tác động của nhiều nhân tố khó dự đoán trƣớc, theo nhiều phƣơng diện khác nhau, quy hoạch sử dụng đất chỉ là một trong những giải pháp biến đổi hiện trạng sử dụng đất sang trạng thái mới thích hợp hơn cho việc phát triển kinh tế trong một thời kỳ nhất định. Khi xã hội phát triển, khoa học kỹ thuật ngày càng tiến bộ, chính sách và tình hình kinh tế thay đổi, các dự kiến của quy hoạch sử dụng đất không còn phù hợp. Việc chỉnh sửa, bổ sung, hoàn thiện quy hoạch và điều chỉnh biện pháp thực hiện là cần thiết. Điều này thể hiện tính khả biến của quy hoạch.
Những quy định pháp lý về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất Luật Đất đai 2013 (thay thế Luật Đất đai 2003) đã đƣợc Quốc hội nƣớc Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XIII, kỳ họp thứ 6 thông qua ngày 29 tháng 11 năm 2013 (có hiệu lực từ ngày 01 tháng 7 năm 2014). Các quy định cụ thể về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đƣợc thể hiện tại chƣơng IV Luật Đất đai 2013 với 17 điều (từ điều 35 đến điều 51) bao gồm các quy định về nguyên tắc, căn cứ để lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất các cấp; nội dung quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất các cấp; trách nhiệm tổ chức lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; lấy ý kiến về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất. Một số nội dung chủ yếu: a) Điều 35 quy định về nguyên tắc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, gồm: “1) Phù hợp với chiến lƣợc, quy hoạch tổng thể, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh. 2) Đƣợc lập từ tổng thể đến chi tiết; quy hoạch sử dụng đất của cấp dƣới phải phù hợp với quy hoạch sử dụng đất của cấp trên; kế hoạch sử dụng đất phải phù hợp với quy hoạch sử dụng đất đã đƣợc cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền phê duyệt.
Quy hoạch sử dụng đất cấp quốc gia phải bảo đảm tính đặc thù, liên kết của các vùng kinh tế - xã hội; quy hoạch sử dụng đất cấp huyện phải thể hiện nội dung sử dụng đất của cấp xã. 3) Sử dụng đất tiết kiệm và có hiệu quả. 4) Khai thác hợp lý tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trƣờng; thích ứng với biến đổi khí hậu. 5) Bảo vệ, tôn tạo di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh.
6) Dân chủ và công khai. 7) Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất phải bảo đảm ƣu tiên quỹ đất cho mục đích quốc phòng, an ninh, phục vụ lợi ích quốc gia, công cộng, an ninh lƣơng thực 8 z và bảo vệ môi trƣờng. 8) Quy hoạch, kế hoạch của ngành, lĩnh vực, địa phƣơng có sử dụng đất phải bảo đảm phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã đƣợc cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền quyết định, phê duyệt”. b) Điều 37 quy định: “kỳ quy hoạch sử dụng đất là 10 năm; kỳ kế hoạch sử dụng đất cấp quốc gia, cấp tỉnh, kỳ kế hoạch sử dụng đất quốc phòng, đất an ninh là 05 năm.
Kế hoạch sử dụng đất cấp huyện đƣợc lập hàng năm”. - Tại điều 42 quy định rõ trách nhiệm tổ chức lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất: 1) Chính phủ tổ chức lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp quốc gia. Bộ Tài nguyên và Môi trƣờng chủ trì giúp Chính phủ trong việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp quốc gia.