Chương 1: Cơ sở lý luận về khoa học quản lý. Chương 2: Khảo sát hiện trạng công tác tổ chức quản lý trên tuyến hành lang vận tải hành khách công cộng Phía Đông. Chương 3: Đánh giá khả năng đáp ứng yêu cầu quản lý và tổ chức khai thác vận tải của đơn vị hoạt động trên hành lang vận tải hành khách công cộng phía Đông tại TP. Phương pháp nghiên cứu.
Phương pháp nghiên cứu chủ yếu của đề tài là phương pháp phân tích và so sánh. Đồng thời sử dụng phương pháp thực nghiệm trong quá trình khảo sát hiện trạng công tác tổ chức quản lý trên tuyến xe buýt số 54 (Bến xe Miền Đông-Bến xe Miền Tây). Kết quả, hiệu quả dự kiến: Dự kiến sau quá trình nghiên cứu sẽ xây dựng được mô hình cơ cấu tổ chức quản lý phù hợp nhằm đáp úng được các yêu cầu của hoạt động khái thác vận tải trên tuyến GVHD:TS.NGUYỄN THỊ BÍCH HẰNG Page 9 Đề tài nghiên cứu khoa học sinh viên Chương. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KHOA HỌC QUẢN LÝ I.1 Cơ sở chung của quản lý I.1 Khái niệm về quản lý Trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, con người muốn tồn tại và phát triển đều phải dựa vào sự nỗ lực của một tổ chức, từ một nhóm nhỏ đến phạm vi rộng lớn hơn ở tầm quốc gia, quốc tế và đều phải thừa nhận và chịu sự quản lý nào đó.
Ngày nay, thuật ngữ quản lý đã trở nên phổ biến nhưng chưa có một định nghĩa thống nhất. Nhưng từ những ý chung của các định nghĩa và xét quản lý với tư cách là một hoạt động, có thể định nghĩa: Qu n lý là s ng có t ch a ch th qu n lý t i t i ng qu n lý nh t mụ ra. Trong định nghĩa trên, chúng ta cần chú ý một số điểm sau: - Quản lý bao giờ cũng là một tác động hướng đích, có mục tiêu xác định. - Quản lý thể hiện mối quan hệ giữa hai bộ phận (hay phân hệ), đó là chủ thể quản lý (là cá nhân hoặc tổ chức làm nhiệm vụ quản lý, điều khiển) và đối tượng quản lý (là bộ phận chịu sự quản lý), đây là quan hệ ra lệnh – phục tùng, không đồng cấp và có tính bắt buộc.
- Quản lý bao giờ cũng là quản lý con người. - Quản lý là sự tác động mang tính chủ quan nhưng phải phù hợp với quy luật khách quan. - Quản lý xét về mặt công nghệ là sự vận động của thông tin. Vai trò của quản lý được thể hiện bằng những tác dụng cụ thể sau: - Quản lý nhằm tạo sự thống nhất ý chí trong tổ chức, bao gồm các thành viên của tổ chức, giữa những người bị quản lý với nhau và giữa những người bị quản lý và người quản lý.
Chỉ có thể tạo nên sự thống nhất trong đa dạng thì quản lý mới dạt được kết qủa mọng muốn. - Định hướng sự phát triển của tổ chức trên cơ sở xác định mục tiêu chung và hướng mọi nổ lực của các cá nhân, của tổ chức vào mục tiêu chung đó. - Tổ chức, điều hòa, phối hợp và hướng dẫn hoạt động của các cá nhân trong tổ chức, giảm độ bất định nhằm đạt mục tiêu quản lý.NGUYỄN THỊ BÍCH HẰNG Page 10 Đề tài nghiên cứu khoa học sinh viên - Tạo động lực cho mọi cá nhân trong tổ chức bằng cách kích thích, đánh gia, khen thưởng những người có công, uốn nắn những lệch lạc, sai sót của cá nhân trong tổ chức nhằm giảm bớt những tổn thất, sai lệch trong qáu trình quản lý. - Tạo môi trường và điều kiện cho sự phát triển cá nhân và tổ chức bảo đảm phát triển ổn định, bền vững và hiệu quả.2 Đối tượng của khoa học quản lý Bất kỳ một bộ môn khoa học nào cũng đều có đối tượng nghiên cứu, hệ thống phạm trù và phương pháp nghiên cứu, đó là những cơ sở để phân biệt khoa học này với khoa học khác.
Ngày nay trong xu thế phân chia và tổng hợp các bộ môn khoa học đã hình thành nhiều bộ môn khoa học khác nhau và đối tượng nghiên cứu khác nhau. Đối tượng của khoa học quản lý là các quan hệ quản lý, tức là quan hệ giữa người và người trong quản lý, quan hệ giữa chủ thể và đối tượng quản lý. Khoa học quản lý có nhiệm vụ nghiên cứu tìm ra quy luật và tính quy luật của hoạt động quản lý, từ đó xác định các nguyên tắc, phương pháp, công cụ, và các hình thức tổ chức quản lý để không ngừng hoàn thiện và nâng cao chất lượng quản lý bảo đảm quản lý một cách khoa học.3 Mục tiêu của quản lý Mục tiêu của quản lý là đích phải đạt tới của quá trình quản lý, nó định hướng và chi phối sự vận động của toàn bộ hệ thống quản lý. Mục tiêu của quản lý phải được xác định trước, chi phối dẫn dắt cả chủ thể và đối tượng quản lý trong toàn bộ quá trình hoạt động.
Nếu chủ thể quản lý không bám sát mục tiêu có thể dẫn đến tình trạng rối loạn mục tiêu hoặc đi chệXác định mục tiêu đúng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với hoạt động quản lý, nếu xác định mục tiêu sai, dù có đạt được mục tiêu thì toàn bộ hệ thống cũng không phát huy được. Mục tiêu quản lý có nhiều loại, nhiều cấp, nhiều thứ bậc với những khoảng thời gian khác nhau, có mục tiêu kinh tế, mục tiêu chính trị, xã hội; có mục tiêu cấp thấp, mục tiêu cấp cao; mục tiêu trước mắt, mục tiêu lâu dài; mục tiêu định tính và mục tiêu định lượng…Mục tiêu cấp thấp phải phục tùng, thống nhất và định hướng vào mục tiêu cấp cao; mục tiêu ngắn hạn phải thống nhất và định hướng vào mục tiêu lâu dài. Trong hệ thống mục tiêu đó, con người là mục tiêu lớn nhất, bao trùm nhất của tất cả mọi lĩnh GVHD:TS.NGUYỄN THỊ BÍCH HẰNG Page 11 Đề tài nghiên cứu khoa học sinh viên vực quản lý. Trong quản lý không nên để kéo dài tình trạng rối loạn hệ thống mục tiêu vì tất yếu sẽ rối loạn hệ thống quản lý.
Việc xác định mục tiêu quản lý phải chú ý các yêu cầu cơ bản sau: - Tính h th ng: mỗi mục tiêu phải đặt trong mối quan hệ với các mục tiêu khác sao cho không mâu thuẫn, loại trừ nhau. Bảo đảm tính hệ thống còn đòi hỏi các mục tiêu phải có mối quan hệ thứ bậc ưu tiên. - Tính chuyên bi t: mục tiêu của tổ chức nào, hệ thống quản lý nào đó, thể hiện được chức năng của tổ chức, của hệ thống đó. - c: các mục tiêu phải rõ ràng, đối với các mục tiêu định tính cũng cần phải xác định được kết quả, các mục tiêu cụ thể, định lượng cần được thể hiện thông qua các chỉ tiêu, các thông số cụ thể.
- Tính th i h n: các mục tiêu phải có thời hạn thực hiện làm cơ sở để tổ chức thực hiện, kiểm tra, đánh giá… - : các mục tiêu phải hàm chứa trong đó sự cố gắng, sự nổ lực phấn đấucủa cả hệ thống quản lý, đó phải là mức cao hơn, tốt đẹp hơn, phát triển hoàn thiện hơn trạng thái hiện tại. - Tính kh thi: mục tiêu quản lý phải có các khả năng hiện thực để thực hiện.4 Các nguyên tắc cơ bản của quản lý và sự vận dụng chúng. Các nguyên tắc quản lý là các quy định, các chuẩn mực có tính chỉ đạo mà những người quản lý phải tuân thủ trong quá trình quản lý. Các nguyên tắc quản lý là do con người định ra, vừa phản ánh các quy luật khách quan nhưng cũng mang dấu ẩn chủ quan.
Trong lịch sử hoạt động quản lý người ta đã đưa ra nhiều nguyên tắc quản lý và mỗi lĩnh vực hoạt động lại có những nguyên tắc quản lý đặc thù. Trong quản lý nói chung có một số nguyên tắc cơ bản sau đây: I.1 Nguyên tắc tập trung dân chủ. Là nguyên tắc cơ bản của quản lý, phản ánh mối quan hệ giữa chủ thể và đối tượng quản lý cũng như yêu cầu và mục tiêu của quản lý. Nguyên tắc tập trung dân chủ bảo đảm mối quan hệ chặt và tối ưu giữa tập trung và dân chủ, càng mở rộng dân chủ thì yêu cầu tập trung dân chủ thống nhất càng cao, khắc phục tình trạng tự do vô chính phủ cũng như tập trung quá mức dẫn đến tập trung quan liêu.
Tập trung phải trên cơ sở dân chủ, GVHD:TS.NGUYỄN THỊ BÍCH HẰNG Page 12 Đề tài nghiên cứu khoa học sinh viên dân chủ phải được thực hiện trong khuôn khổ tập trung. Đây là một nguyên tắc rất quan trọng của quản lý, nó có tính khách quan, phổ phát, song thực hiệ không đơn giản, phụ thuộc vào bản lĩnh, phẩm chất đạo đức và phong cách của người quản lý.2 Kết hợp hài hòa các lợi ích. Quản lý suy cho cùng là quản lý con người nhằm phát huy tích cực lao động sáng tạo của lao động. Song, động lực của quản lý, cả chủ thể và đối tượng quản lý là lợi ích.
Do đó một nguyên tắc quan trọng của quản lý là phải chú ý đến lợi ích của người lao động là động lực trực tiếp, đông thời chú ý đến lợi ích của tổ chức và của xã hội. Kết hợp hài hòa các lợi ích phải được xem xét và đề ra ngay từ khi đề ra chiến lược, quy hoạch kế hoạch kinh tế - xã hội, quá trình hoạt động quản lý, đến khâu phân phối và tiêu dùng. Giải quyết tốt mối quan hệ lợi ích trong quản lý sẽ bảo đảm cho hệ thống quản lý vận hành thuận lợi và có hiệu quả, ngược lại, nếu quan hệ lợi ích bị rối lọan sẽ là nguyên nhân của sự rối loạn tổ chức, phá vỡ hệ thống quản lý.3 Sử dụng toàn diện các phương pháp quản lý, kết hợp tốt phương pháp hành chính, tâm lý giáo dục và kinh tế, coi trọng phương pháp kinh tế. Đây là nguên tắc thể hiện sự tác động của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý thông qua việc vận dụng các quy luật tổ chức – hành chính, quy luật tâm lý và quy luật kinh tế.
Đối tượng quản lý là con người, chịu sự tác động của nhiều mối quan hệ, có nhiều mục tiêu, nhiều nhu cầu khác nhau và luôn luôn thay đổi theo không gian và thời gian. Do đó phải tuân theo đối tượng mà tổng hợp và toàn diện các phương pháp quản lý với sự thay đổi liều lượng tác dộng một cách linh hoạt, phù hợp.4 Nắm bao quát, chú ý toàn diện, tập trung xử lý khâu xung yếu.