CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu 1. Các khái niệm cơ bản 1.
Khái niệm về đất đai Trong nền sản xuất, đất đai giữ vị trí đặc biệt quan trọng; đất đai là điều kiện vật chất mà mọi sản xuất và sinh hoạt đều cần tới. Như vậy, đất đai là điều kiện chung nhất đối với mọi quá trình sản xuất và hoạt động của con người. Nói cách khác, không có đất sẽ không có sản xuất cũng như không có sự tồn tại của chính con người. Do vậy, để có thể sử dụng đúng mục đích, hợp lý và có hiệu quả toàn bộ quỹ đất thì việc hiểu rõ khái niệm về đất đai là vô cùng cần thiết.
Về mặt thuật ngữ khoa học “Đất” và “Đất đai” có sự phân biệt nhất định. Theo các nhà khoa học thì “Đất” tương đương với từ “Soil” trong tiếng Anh, nó có nghĩa trùng với thổ hay thổ nhưỡng bao hàm ý nghĩa về tính chất của nó. Còn “Đất đai” tương đương với từ “Land” trong tiếng Anh, nó có nghĩa về phạm vi không gian của đất hay có thể hiểu là lãnh thổ. Khái niệm đầy đủ và phổ biến nhất hiện nay về đất đai: “Đất đai là một diện tích cụ thể của bề mặt trái đất bao gồm tất cả các cấu thành của môi trường sinh thái ngay trên và dưới bề mặt đó như: Khí hậu bề mặt, thổ nhưỡng, dạng địa hình, mặt nước, các lớp trầm tích sát bề mặt cùng với nước ngầm và khoáng sản trong lòng đất, tập đoàn động thực vật, trạng thái định cư của con người, những kết quả của con người trong quá khứ và hiện tại để lại (san nền, hồ chứa nước hay hệ thống tiêu thoát nước, đường sá, nhà cửa.
Khái niệm về đất lâm nghiệp Điều 1, Luật bảo vệ và phát triển rừng năm 1991 quy định: “Đất lâm nghiệp được xác định là đất có rừng và đất không có rừng hoặc đất trống, đồi núi trọc được quy hoạch cho mục tiêu phát triển lâm nghiệp”. Khoản 2, Điều 3 Thông tư liên tịch số 07/2011/TTLT-BNNPTNTBTNMT quy định: “Đất lâm nghiệp là đất đang có rừng tự nhiên hoặc đang có rừng trồng đạt tiêu chuẩn rừng theo quy định của pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng; đất đang khoanh nuôi để phục hồi rừng; đất mới trồng rừng nhưng chưa thành rừng; đất đang trồng rừng hoặc đã giao, cho thuê để trồng rừng và diện tích đất trống trong các khu rừng đặc dụng hoặc diện tích đất trống được bảo vệ trong các khu rừng khác theo quy định của pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng”. Luan van PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 5 1. Khái quát về hiệu quả sử dụng đất lâm nghiệp Sau 13 năm triển khai thực hiện Nghị quyết số 28-NQ/TW ngày 16/6/2003 của Bộ Chính trị và hơn 12 năm thực hiện Nghị định số 200/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của Chính phủ đến nay, các nông, lâm trường đã chuyển đổi thành các Công ty TNHH MTV do Nhà nước làm chủ sở hữu hoặc chuyển thành Ban quản lý rừng phòng hộ, rừng đặc dụng; có nông, lâm trường thì giải thể.
Một số Công ty nông, lâm nghiệp đã chuyển từ sản xuất chuyên canh, độc canh sang kinh doanh tổng hợp (nông lâm, lâm nông kết hợp) đổi mới cơ chế quản lý quản trị doanh nghiệp, gắn vùng nguyên liệu với cơ sở chế biến, thị trường tiêu thụ sản phẩm, sản xuất kinh doanh có hiệu quả hơn. Các nông, lâm trường đã làm rõ hiện trạng sử dụng đất đai trên bản đồ; nhiều nông, lâm trường đã lập được phương án quy hoạch sử dụng đất gắn với phương án sản xuất kinh doanh, quy hoạch 3 loại rừng (đặc dụng, phòng hộ, sản xuất); chuyển giao một phần diện tích đất về cho UBND các xã, góp phần giải quyết cơ bản về vấn đề đất ở, đất sản xuất cho người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số trong khu vực; một số ít Công ty nông, lâm nghiệp thực hiện giao khoán đất cho các hộ gia đình, cá nhân để sản xuất, kinh doanh, đem lại hiệu quả trong việc sử dụng đất. Sau khi sắp xếp, có nhiều Công ty nông nghiệp, lâm nghiệp sản xuất kinh doanh có hiệu quả hơn, duy trì và phát triển vùng sản xuất hàng hóa, hiệu quả sử dụng đất được nâng cao, tạo thêm việc làm, tăng thu nhập cho người lao động, tiếp tục phát huy tốt vai trò doanh nghiệp trên địa bàn. Việc thí điểm cổ phần hóa vườn cây, rừng trồng, gắn với cổ phần hóa cơ sở chế biến đã khẳng định được chủ trương cổ phần hóa nông, lâm trường quốc doanh là phù hợp, bước đầu tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp hoạt động hiệu quả hơn, kết quả sản xuất kinh doanh tăng, nộp ngân sách nhà nước tăng, đời sống người lao động được cải thiện [3].
Tuy nhiên, bên cạnh kết quả đạt được, vẫn còn nhiều tồn tại, yếu kém. Cụ thể là: Việc sắp xếp, đổi mới các nông, lâm trường chủ yếu mới là hình thức (tên gọi), chưa có sự thay đổi căn bản về cơ chế quản lý và quản trị doanh nghiệp, nhiều công ty lâm nghiệp lúng túng, khó khăn khi chuyển sang hạch toán, sản xuất kinh doanh theo Luật doanh nghiệp. Nhiều tồn tại về quản lý, sử dụng đất chậm được khắc phục, phần lớn diện tích đất và rừng chưa được rà soát, đo đạc trên thực địa, một số diện tích chưa lập được bản đồ địa chính và quy hoạch sử dụng đất; tỷ lệ đất được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và chuyển sang ký hợp đồng thuê đất còn ít. Hiệu quả sử dụng tài nguyên đất, tài nguyên rừng, vườn cây lâu năm và hiệu quả sản xuất kinh doanh của nhiều công ty chưa cao; nhiều công ty nông, lâm nghiệp giao khoán đất cho người lao động nhưng buông lỏng, không quản lý được hợp đồng giao khoán khi công nhân nghỉ hưu hoặc chết, không thanh lý hợp đồng giao khoán.
Một số nơi có tình trạng khoán trắng, người nhận khoán tự chuyển nhượng hợp đồng khoán, xây dựng nhà ở trên đất giao khoán nhưng chậm được xử lý. Một số công ty chưa gắn sản xuất với chế Luan van PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 6 biến và thị trường tiêu thụ sản phẩm, sản xuất kinh doanh tiếp tục khó khăn; chưa thực hiện được vai trò của doanh nghiệp nhà nước đối với nông dân trên địa bàn [3]. Nguyên nhân của tình trạng trên, ngoài nguyên nhân khách quan, thì nguyên nhân chủ quan là chính. Nhận thức của các cấp từ Trung ương đến địa phương chưa đúng mức.
Cơ chế, chính sách không đồng bộ, không đầy đủ, chưa sát thực tiễn, chưa kịp thời tháo gỡ khó khăn cho đơn vị; tổ chức chỉ đạo thiếu kiên quyết, còn né tránh. Theo bảng tin ngành lâm nghiệp cập nhật ngày 22/12/2015; trong tháng 8 năm 2015, Bộ nghiệp và Phát triển nông thôn (Bộ NN&PTNT) công bố: Số liệu hiện trạng rừng toàn quốc tính đến 31/12/2014 có 13.506,0 ha (bao gồm rừng tự nhiên 10.186 ha và rừng trồng 3. Mục tiêu đề ra là đến năm 2015 độ che phủ rừng đạt 42% - 43%. Giai đoạn 2014-2015, tổng diện tích rừng cả nước bị mất là 773.000,0 ha, cá biệt có vùng rừng rậm như Tây Nguyên, diện tích rừng giảm khoảng 300.
Do vậy, dù có trồng được thêm hơn 408.000,0 ha thì độ che phủ rừng cả nước vẫn không đạt mục tiêu (đến cuối năm 2014, độ che phủ rừng mới đạt 40,43%, trong đó, cây rừng - 39,02% và cây cao su - 1,40%). Việc đưa đất trống, đồi núi trọc để phát triển rừng không đồng đều giữa các vùng; chất lượng rừng và tính đa dạng sinh học của rừng tự nhiên vẫn còn suy giảm ở một số địa phương. Chưa phát triển được mô hình sản xuất lâm nghiệp tập trung, chuyên nghiệp. Dù có nông trường, doanh nghiệp sản xuất lâm nghiệp đạt được 30-40 triệu đồng/ha, thậm chí hàng trăm triệu đồng/ha nhưng đó vẫn chỉ là các mô hình đơn lẻ.
Nhìn chung, giá trị thu nhập từ đất rừng mới đạt trung bình 07 - 08 triệu đồng/ha, là rất thấp. Nhiều nơi, người dân làm lâm nghiệp vẫn chưa sống được bằng nghề rừng dù mức khoán chi phí trồng và bảo vệ rừng đã tăng lên [5]. Chưa có cơ chế để thu hút doanh nghiệp đưa khoa học, kỹ thuật, vốn vào lâm nghiệp; chưa kêu gọi xã hội quan tâm đầu tư, phối hợp chặt chẽ hơn với người làm lâm nghiệp. Hiện tượng người dân khai thác rừng để lấy đất trồng keo; lâm tặc khai thác gỗ và sản vật quý hiếm, tàn phá rừng… vẫn còn xảy ra; rừng trồng mới và rừng phòng hộ chưa được bảo vệ triệt để.
Mục tiêu trong thời gian đến là nâng cao năng suất, chất lượng và phát huy giá trị của từng loại rừng, phát triển lâm nghiệp nhanh, bền vững cả về kinh tế, xã hội, môi trường; nâng độ che phủ rừng lên trên 42% vào năm 2020, thích ứng yêu cầu giảm nhẹ thiên tai, bảo vệ môi trường sinh thái, ứng phó với biến đổi khí hậu; tạo khoảng 4,5 - 5,0 triệu việc làm thường xuyên, góp phần xóa đói, giảm nghèo, cải thiện sinh kế, gắn với chương trình xây dựng nông thôn mới và đảm bảo an ninh, quốc phòng [5]. Luan van PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 7 1. Vai trò và chức năng của đất đai 1. Vai trò của đất đai Đất là vật thể thiên nhiên hình thành lâu đời do kết quả quá trình hoạt động tổng hợp của 05 yếu tố gồm: Đá; thực vật, động vật; khí hậu; địa hình và thời gian.
Tất cả các loại đất đều được hình thành sau một quá trình thay đổi lâu đời trong thiên nhiên. Chất lượng của đất phụ thuộc vào đá mẹ, khí hậu, cỏ cây và sinh vật sống trên đất và trong lòng đất [13]. Đất đai là tài nguyên được thiên nhiên cho không loài người, bản thân đất đai nguyên thủy, khi chưa có lao động của con người tác động vào thì nó không có giá trị gì, đó chỉ như một yếu tố tự nhiên cùng với sự xuất hiện của sự sống nói chung và của loài người nói riêng. Từ khi con người biết đầu tư vào đất đai để sản xuất ra của cải vật chất thì đất đai mới có giá trị.
Nói như vậy để thấy vai trò quan trọng của đất đai đối với quá trình phát triển kinh tế, xã hội. Chức năng cơ bản của đất đai Đất đai có 09 chức năng cơ bản sau, gồm: - Chức năng sản xuất. - Chức năng môi trường sống. - Chức năng cân bằng sinh thái.
- Chức năng tàng trữ và cung cấp nguồn nước. - Chức năng dự trữ. - Chức năng không gian sự sống.