Tổng quan nghiên cứu

Thành phố Hội An là đô thị di sản văn hóa thế giới được UNESCO công nhận năm 1999, đồng thời sở hữu Khu dự trữ sinh quyển thế giới Cù Lao Chàm được công nhận năm 2009. Nằm ở hạ lưu lưu vực sông Thu Bồn rộng 10.590 km² với tổng lưu lượng dòng chảy lên tới 19,9 tỷ m³/năm, Hội An giữ vị trí địa kinh tế chiến lược trọng điểm của tỉnh Quảng Nam. Với tọa độ địa lý trải dài từ 15°15'26'' đến 15°55'15'' vĩ Bắc và từ 108°17'08'' đến 108°23'10'' kinh Đông, địa phương ghi nhận tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân đạt 10,21%/năm, trong đó ngành dịch vụ du lịch và thương mại chiếm tỷ trọng áp đảo 65,23%. Tuy nhiên, sự phát triển nóng của kinh tế cùng mật độ dân số chạm ngưỡng 1.393 người/km² trên tổng số 87.438 nhân khẩu đã tạo áp lực cực lớn lên quỹ đất đô thị có địa hình phần lớn thấp trũng từ 0,5 m đến 1,8 m so với mực nước biển.

Mục tiêu cốt lõi của nghiên cứu là đánh giá toàn diện hiện trạng công tác quy hoạch xây dựng và kế hoạch sử dụng đất tại Hội An, nhận diện các xung đột không gian dưới tác động của biến đổi khí hậu, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp sử dụng đất thích ứng bền vững. Phạm vi nghiên cứu bao quát 13 đơn vị hành chính xã, phường của thành phố Hội An với chuỗi số liệu quan trắc khí tượng, thủy văn và địa chính giai đoạn 2005 - 2011, định hướng tầm nhìn quy hoạch đến năm 2020. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn cấp thiết khi cung cấp luận cứ khoa học giúp bảo vệ an toàn sinh kế cho hơn 54.000 lao động địa phương, hạn chế rủi ro cho hơn 21.000 lượt khách du lịch lưu trú thường xuyên và bảo tồn bền vững gần 600 ha rừng đặc dụng nguyên sinh trước các hiểm họa cực đoan.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu xây dựng trên nền tảng lý thuyết quản lý nhà nước về đất đai đô thị theo Luật Đất đai năm 1993, Luật Đất đai năm 2013 và Nghị định 88/CP về quản lý đô thị. Đất đô thị được tiếp cận dưới góc độ là tư liệu sản xuất và tư liệu sinh hoạt đặc thù, có giá trị sinh lời phụ thuộc mật thiết vào vị trí và kết cấu hạ tầng. Bên cạnh đó, luận văn tích hợp lý thuyết phát triển đô thị thích ứng với biến đổi khí hậu của Ủy ban Liên chính phủ về Biến đổi khí hậu (IPCC) và khung hành động của Công ước khung Liên Hợp Quốc về Biến đổi khí hậu (UNFCCC).

Mô hình nghiên cứu tập trung vào vùng ven biển có độ cao thấp dưới 10 m (vùng LECZ), nơi chỉ chiếm khoảng 20% diện tích đất nhưng tập trung 10% dân số toàn cầu và 13% cư dân đô thị. Bốn khái niệm chính được làm rõ gồm: quản lý đất đô thị đa mục tiêu, tính dễ bị tổn thương sinh thái, kịch bản nước biển dâng (với dự báo tăng từ 54 cm đến 105 cm vào cuối thế kỷ 21) và sức tải môi trường cửa sông ven biển. Các lý thuyết này cung cấp lăng kính đa chiều để phân tích mối quan hệ hữu cơ giữa tốc độ bê tông hóa với nguy cơ gia tăng thiên tai.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn được tổng hợp từ hệ thống tài liệu thứ cấp chính thống của Ủy ban nhân dân thành phố Hội An, Phòng Tài nguyên và Môi trường, Phòng Quản lý Đô thị, kết hợp báo cáo kịch bản biến đổi khí hậu của Bộ Tài nguyên và Môi trường cùng số liệu quan trắc khí tượng 30 năm tại trạm Hội An. Cỡ mẫu nghiên cứu bao quát toàn bộ dữ liệu địa chính của 13 xã, phường với trọng tâm khảo sát thực địa tại 4 tiểu vùng sinh thái đại diện: vùng lõi di sản trũng thấp (Cẩm Phô, Minh An), vùng ven sông cồn bãi (Cẩm Nam, Cẩm Châu), vùng cồn cát ven biển (Cẩm An, Cửa Đại) và vùng sinh quyển hải đảo xã Tân Hiệp.

Phương pháp chọn mẫu có chủ đích được áp dụng nhằm thu thập chính xác các điểm nóng về tai biến môi trường, nơi có tốc độ sạt lở bờ biển lên đến hàng chục mét mỗi năm. Nghiên cứu sử dụng phương pháp thống kê phân tích tổng hợp, phân tích không gian GIS và phương pháp phân tích chính sách công. Lý do lựa chọn tổ hợp phương pháp này là nhằm liên kết trực tiếp các chỉ tiêu kỹ thuật hạ tầng (như cốt nền, mật độ xây dựng, hệ số sử dụng đất) với các thông số thủy văn cực đoan (lưu lượng lũ 5.000 m³/giây, biên độ triều 1,4 m), đảm bảo tính khách quan và khoa học cho các kết luận được đưa ra trong suốt giai đoạn thực hiện từ năm 2011 đến năm 2014.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, cấu trúc địa hình Hội An có sự phân hóa cao độ rõ rệt và bất lợi trước nguy cơ ngập lụt. Khu vực cồn cát ven biển thuộc xã Cẩm Hà và phường Cẩm An có cao độ từ 5,0 m đến 5,3 m, trong khi toàn bộ vùng lõi đô thị cổ phường Cẩm Phô chỉ đạt cao độ trung bình 1,5 m, dải dân cư ven sông Cẩm Châu đạt 1,7 m, phường Cẩm Nam đạt 1,8 m và khu vực đồng ruộng Cẩm Châu thấp trũng chỉ 0,5 m. Khi mực nước lũ sông Thu Bồn đạt mức trung bình mùa lũ là +2,48 m (vượt xa mức bình quân dòng chảy +0,76 m), hơn 80% diện tích các phường nội thị bị chìm sâu trong nước lũ, làm tê liệt giao thông và sinh hoạt của người dân.

Thứ hai, áp lực chuyển dịch cơ cấu sử dụng đất phục vụ du lịch tạo sức ép lớn lên hệ sinh thái ven bờ. Khu vực dịch vụ - thương mại chiếm 65,23% cơ cấu kinh tế đã thúc đẩy quá trình chuyển đổi nhanh chóng đất nông nghiệp và đất mặt nước sang đất thương mại dịch vụ. Tỷ lệ đô thị hóa nhanh dọc sông Đế Võng (dài trên 7 km) và vùng cửa biển Cửa Đại làm thay đổi dòng chảy tự nhiên, khiến bờ biển Cửa Đại bị xâm thực và xói lở nghiêm trọng, đe dọa các khu nghỉ dưỡng cao cấp ven biển.

Thứ ba, cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị hiện hữu chưa đáp ứng được kịch bản biến đổi khí hậu khắc nghiệt. Toàn thành phố chịu ảnh hưởng của 24,4% tổng số các cơn bão đổ bộ vào miền Trung từ vĩ tuyến 17 trở vào, kèm theo lượng mưa ngày cực đoan lên tới 332 mm và lượng mưa năm cao nhất đạt 3.307 mm. Mặc dù 100% trạm y tế và trường học đã được kiên cố hóa, tỷ lệ dân số đô thị được cấp nước sạch mới đạt khoảng 50%, 50% còn lại phải phụ thuộc vào nguồn nước ngầm mạch nông vốn đang bị đe dọa nghiêm trọng bởi hiện tượng xâm nhập mặn sâu vào nội địa trong 8 tháng mùa khô kéo dài từ tháng 2 đến tháng 9.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân căn bản của các tồn tại trên bắt nguồn từ việc công tác lập quy hoạch xây dựng đô thị trước đây chưa tích hợp đầy đủ các kịch bản nước biển dâng và phân tích dòng lũ. Địa chất thành phố chủ yếu là các lớp trầm tích hỗn hợp sông biển Haloxen trẻ có tuổi nhỏ hơn 300 năm tại khu vực Cửa Đại và Cẩm Kim, nền đất có độ kết gắn yếu và độ rỗng lớn, rất dễ sụt lún khi khai thác nước ngầm quá mức. Thực trạng này hoàn toàn tương đồng với các bài học kinh nghiệm tại thành phố Thượng Hải (Trung Quốc) và Mumbai (Ấn Độ), nơi mà quá trình bê tông hóa bề mặt kết hợp khai thác cạn kiệt tầng chứa nước đã làm sụt lún nền đất cục bộ, nhân đôi tác hại của triều cường và ngập úng.

Dữ liệu nghiên cứu phản ánh rõ nét mối tương quan này khi được mô tả qua bảng cân bằng hiện trạng sử dụng đất kết hợp biểu đồ cột thể hiện chu kỳ lũ lụt lịch sử. Biểu đồ đường phân bố lượng mưa hàng năm chỉ ra rằng các đợt mưa lớn tập trung vào tháng 10 và tháng 11 luôn trùng với thời kỳ triều cường cực đại (+1,4 m), tạo thành hiện tượng nước dâng do bão với sóng biển cao tới 3,4 m ở khoảng cách 50 m tính từ mép bờ. Việc thiếu vắng hành lang thoát lũ tự nhiên do các dự án bất động sản lấn chiếm dải đất ven sông đã làm giảm khả năng tự điều tiết của lưu vực, biến nhiều khu dân cư mới thành các túi chứa nước ngập úng kéo dài.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, tái định hướng không gian phát triển đô thị về các khu vực có địa hình cao an toàn. Thành phố cần định hướng phát triển không gian mở rộng về phía Bắc và Tây Bắc, tập trung vào dải cồn cát có cao độ tự nhiên từ 6,0 m đến 7,8 m dọc tuyến tỉnh lộ 607 và khu vực xã Cẩm Hà. Hạn chế tối đa việc mở rộng các khu dân cư tập trung tại dải đất thấp trũng dưới 1,8 m thuộc phường Cẩm Nam và Cẩm Phô. Mục tiêu cụ thể là giảm 30% mật độ xây dựng công trình cố định tại vùng trũng thấp ven sông trước năm 2025. Cơ quan chủ trì thực hiện là Ủy ban nhân dân thành phố Hội An phối hợp với Sở Xây dựng tỉnh Quảng Nam.

Thứ hai, điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất và bảo vệ dải đệm sinh thái ven biển, ven sông. Thiết lập hành lang an toàn ven bờ biển tối thiểu 100 m không cho phép xây dựng công trình kiên cố; nghiêm cấm san lấp các diện tích hồ đầm, mặt nước tự nhiên có chức năng điều hòa thoát lũ. Triển khai kế hoạch phục hồi và trồng mới 150 ha rừng dừa nước tại xã Cẩm Thanh và các dải rừng chắn sóng ven biển Cẩm An giai đoạn 2024 - 2027. Mục tiêu là nâng tỷ lệ che phủ cây xanh phòng hộ ven sông, ven biển lên 40%. Cơ quan chịu trách nhiệm là Phòng Tài nguyên và Môi trường phối hợp với Chi cục Kiểm lâm địa phương.

Thứ ba, nâng cấp và cải tạo hệ thống hạ tầng kỹ thuật đô thị theo chuẩn thích ứng khí hậu. Nâng cốt nền quy hoạch giao thông cho các trục đường chính nội đô lên mức tối thiểu +2,5 m, đồng thời đầu tư xây dựng hệ thống thoát nước riêng biệt giữa nước mưa và nước thải sinh hoạt. Hoàn thiện các trạm bơm cưỡng bức dự phòng có công suất tiêu úng 30.000 m³/giờ tại khu vực phố cổ. Đẩy nhanh tiến độ các dự án cấp nước nhằm nâng tỷ lệ dân cư đô thị sử dụng nước sạch tập trung từ 50% lên 90% vào năm 2026, giảm áp lực khai thác nước ngầm tầng nông. Đơn vị thực hiện là Ban Quản lý Dự án Đầu tư Xây dựng thành phố và Công ty Cổ phần Cấp thoát nước Quảng Nam.

Thứ tư, hoàn thiện thể chế quản lý xây dựng và triển khai các công trình bảo vệ bờ biển. Ban hành quy chuẩn kỹ thuật xây dựng nhà ở dân dụng bắt buộc áp dụng móng cọc bê tông cốt thép chống ăn mòn hóa học do nhiễm mặn và kết cấu mái có khả năng chịu sức gió bão giật cấp 12 trở lên. Xây dựng đồng bộ tuyến đê ngầm giảm sóng ngoài khơi kết hợp nuôi bãi nhân tạo để bảo vệ 3,5 km bờ biển Cửa Đại trong giai đoạn 2024 - 2030. Cơ quan chủ quản là Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cùng Phòng Quản lý Đô thị thành phố Hội An.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm thứ nhất là các nhà hoạch định chính sách, cơ quan quản lý nhà nước về tài nguyên, môi trường và xây dựng tại tỉnh Quảng Nam và các đô thị duyên hải miền Trung (như Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Xây dựng, UBND thành phố Hội An). Luận văn cung cấp khung tiêu chí khoa học đánh giá hiện trạng đất đai để tích hợp trực tiếp vào quy hoạch chung xây dựng đô thị thích ứng với kịch bản nước biển dâng.

Nhóm thứ hai là các kỹ sư quy hoạch đô thị, kiến trúc sư và các doanh nghiệp phát triển bất động sản nghỉ dưỡng ven biển. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở dữ liệu thực chứng về cao độ cốt nền, lưu lượng dòng chảy mùa lũ và vùng xâm nhập mặn, hỗ trợ tính toán phương án kết cấu móng và vật liệu chống ăn mòn phù hợp cho từng dự án đầu tư cụ thể.

Nhóm thứ ba là giảng viên, học viên cao học và sinh viên các chuyên ngành Quản lý đất đai, Quản lý đô thị, Biến đổi khí hậu và Khoa học môi trường. Công trình là tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp luận nghiên cứu đa ngành, kết hợp giữa khoa học không gian địa chính với mô hình dự báo tai biến thiên nhiên.

Nhóm thứ tư là các tổ chức phi chính phủ, tổ chức bảo tồn thiên nhiên quốc tế (như UNESCO, IUCN, UN-Habitat) đang triển khai các dự án bảo vệ di sản và hệ sinh thái ven biển. Luận văn cung cấp số liệu thực tế về các điểm nóng tổn thương sinh thái tại Khu bảo tồn Cù Lao Chàm và khu vực hạ lưu sông Thu Bồn, phục vụ việc xây dựng các chương trình tài trợ thích ứng khí hậu dựa vào cộng đồng.

Câu hỏi thường gặp

Biến đổi khí hậu tác động rõ nét nhất đến loại hình đất đai nào tại thành phố Hội An? Đất ở đô thị và đất thương mại dịch vụ ven biển là hai nhóm chịu tổn thương lớn nhất. Toàn bộ khu dân cư trũng thấp dọc bờ sông Thu Bồn với cao độ chỉ từ 0,5 m đến 1,8 m thường xuyên ngập sâu trong mùa mưa khi lưu lượng lũ đạt 5.000 m³/giây. Trong khi đó, dải đất thương mại ven biển Cửa Đại liên tục bị xâm thực do sóng bão cao tới 3,4 m, gây sạt lở nghiêm trọng các công trình kiến trúc nghỉ dưỡng.

Tại sao khu vực phố cổ Hội An lại đối mặt với nguy cơ ngập lụt nghiêm trọng hàng năm? Khu vực phố cổ phường Cẩm Phô và Minh An nằm ở vùng trũng với cao độ trung bình chỉ 1,5 m so với mặt biển, thấp hơn nhiều so với mực nước lũ bình quân mùa lũ là 2,48 m của sông Thu Bồn. Thêm vào đó, lượng mưa ngày lớn nhất đạt 332 mm trùng thời điểm triều cường dâng cao 1,4 m làm cản trở quá trình thoát lũ tự nhiên ra biển qua Cửa Đại.

Quy hoạch cốt nền xây dựng tại Hội An cần lưu ý những thông số kỹ thuật then chốt nào? Cốt nền xây dựng tại các khu đô thị mới bắt buộc phải được thiết kế trên mức đỉnh lũ trung bình +2,5 m, kết hợp hệ số an toàn tối thiểu 0,5 m theo kịch bản nước biển dâng. Các công trình ven biển cần tính toán sức chịu tải móng trên nền cát có cao độ tự nhiên từ 5,0 m đến 5,3 m, đồng thời sử dụng vật liệu bê tông cốt thép có khả năng chống ăn mòn xâm nhập mặn.

Hiện tượng xâm nhập mặn tại Hội An diễn ra theo quy luật nào và tác động ra sao? Xâm nhập mặn xuất hiện gay gắt trong 8 tháng mùa khô kéo dài từ tháng 2 đến tháng 9, khi lưu lượng kiệt của sông Thu Bồn giảm xuống chỉ còn 40 đến 60 m³/giây và mực nước sông hạ xuống +0,19 m. Nước mặn thâm nhập sâu vào sông Đế Võng và mạch nước ngầm tầng nông, khiến khoảng 50% dân số đô thị chưa có hệ thống cấp nước máy tập trung gặp khó khăn trong tiếp cận nước sinh hoạt.

Giải pháp phi công trình nào được đánh giá mang lại hiệu quả bền vững nhất cho Hội An? Khôi phục và bảo tồn các dải đệm sinh thái tự nhiên là giải pháp phi công trình tối ưu nhất. Việc khoanh vùng bảo vệ nghiêm ngặt gần 600 ha rừng đặc dụng Cù Lao Chàm, kết hợp phục hồi các dải rừng dừa nước ngập mặn Cẩm Thanh và rừng phòng hộ chắn gió ven biển giúp tiêu tán 50% năng lượng sóng bão, giảm thiểu xói lở bờ biển mà không làm phá vỡ cảnh quan du lịch sinh thái.

Kết luận

  • Luận văn đã đánh giá toàn diện thực trạng quản lý và sử dụng đất đô thị Hội An, chỉ ra mâu thuẫn lớn giữa tốc độ tăng trưởng kinh tế 10,21%/năm với địa hình trũng thấp chỉ từ 0,5 m đến 1,8 m tại vùng lõi di sản.
  • Nghiên cứu đã lượng hóa được các tác động cực đoan của biến đổi khí hậu lên hệ thống hạ tầng đô thị thông qua các thông số thủy văn như lưu lượng lũ 5.000 m³/giây, triều cường +1,4 m và lượng mưa cực đại 3.307 mm/năm.
  • Công trình đóng góp hệ thống tiêu chí đánh giá quy hoạch xây dựng thích ứng khí hậu và đề xuất 4 nhóm giải pháp chiến lược bao gồm: dịch chuyển không gian về vùng cồn cát cao trên 6,0 m, bảo vệ hành lang sinh thái, nâng cấp hệ thống cấp thoát nước đạt 90% độ phủ và xây dựng công trình bảo vệ bờ biển Cửa Đại.
  • Trong giai đoạn tiếp theo từ năm 2024 đến năm 2030, chính quyền thành phố cần ưu tiên lồng ghép kịch bản nước biển dâng vào đồ án điều chỉnh quy hoạch chung và hoàn thiện hệ thống quan trắc địa chất tự động tại các điểm sạt lở xung yếu.
  • Độc giả, các nhà nghiên cứu và cơ quan quản lý hãy chủ động tham khảo chi tiết toàn bộ số liệu và mô hình phân tích của luận văn để ứng dụng hiệu quả vào công tác quy hoạch đô thị sinh thái bền vững cho các dải đất duyên hải miền Trung.