Tổng quan nghiên cứu

Quản lý và sử dụng đất đai có nguồn gốc từ nông, lâm trường quốc doanh là bài toán then chốt trong công tác quản lý tài nguyên và phát triển kinh tế - xã hội tại các tỉnh miền núi phía Bắc. Huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu sở hữu diện tích tự nhiên 89.708,3 ha với địa hình núi cao hiểm trở (trên 60% diện tích có độ cao trên 800 m và hơn 90% địa hình có độ dốc lớn hơn 20–25 độ). Trên địa bàn huyện, hai tổ chức trọng điểm là Công ty Cổ phần trà Than Uyên và Ban Quản lý rừng phòng hộ huyện Tân Uyên được Nhà nước giao quản lý, sử dụng tổng diện tích lên tới 34.406,32 ha, chiếm khoảng 38,35% quỹ đất tự nhiên toàn huyện.

Trải qua nhiều giai đoạn chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế, việc quản lý và sử dụng quỹ đất nông, lâm trường tại Tân Uyên phát sinh nhiều bất cập mang tính lịch sử. Các tồn tại nổi cộm bao gồm: tình trạng ranh giới khu đất chưa rõ ràng, đo đạc thiếu chi tiết, thiếu bản đồ địa chính chính quy dạng số, hiện tượng xâm canh, lấn chiếm và chuyển nhượng không đúng quy định. Đề tài tập trung đánh giá thực trạng công tác quản lý, sử dụng đất tại 02 đơn vị nông, lâm trường trên địa bàn huyện Tân Uyên trong giai đoạn 2015–2019, từ đó làm rõ nguyên nhân của các sai phạm, tranh chấp và đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý đất đai. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn sâu sắc, góp phần giải quyết tình trạng thiếu đất sản xuất của đồng bào dân tộc thiểu số tại địa phương (nơi tỷ lệ hộ nghèo còn ở mức 15,5%), nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước về đất đai và tạo cơ sở dữ liệu số hóa phục vụ mục tiêu chuẩn hóa 100% hồ sơ địa chính trong giai đoạn phát triển mới.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên sự kết hợp giữa lý thuyết quản trị tài nguyên công, lý thuyết chuyển đổi kinh tế nông - lâm nghiệp và mô hình quản lý đất đai thích ứng. Các khung lý thuyết này khẳng định rằng đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt, đòi hỏi sự can thiệp và điều tiết chặt chẽ của Nhà nước nhằm tối ưu hóa lợi ích kinh tế, xã hội và môi trường. Luận văn vận dụng sâu sắc 4 nhóm khái niệm và thể chế nền tảng:

  • Quản lý Nhà nước về đất đai theo quy định của Luật Đất đai năm 2013 và Điều 46 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP về trách nhiệm rà soát, đo đạc và lập phương án sử dụng đất nông, lâm trường.
  • Chính sách sắp xếp, đổi mới và phát triển công ty nông, lâm nghiệp theo tinh thần Nghị quyết số 30-NQ/TW của Bộ Chính trị và Nghị định số 118/2014/NĐ-CP.
  • Quy chế giao khoán đất sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp theo Nghị định số 01/CP, Nghị định số 135/2005/NĐ-CP và cơ chế chi trả dịch vụ môi trường rừng theo Nghị định số 99/2010/NĐ-CP.
  • Quy chuẩn kỹ thuật lập hồ sơ ranh giới, đo đạc bản đồ địa chính và cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các tổ chức nông, lâm nghiệp theo Thông tư số 07/2015/TT-BTNMT.

Ngoài ra, nghiên cứu tham chiếu kinh nghiệm quản lý đất đai quốc tế từ Nhật Bản (nơi đất rừng chiếm 49,02% với 79.314 km² được quy hoạch phân vùng khoa học) và bài học cải cách ruộng đất, tư nhân hóa nông trường quốc doanh tại Liên bang Nga từ năm 1990 để đúc rút bài học cảnh báo về tình trạng chuyển đổi hình thức và buông lỏng quản lý thực địa.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu thứ cấp được thu thập toàn diện từ Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Lai Châu, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Chi cục Thống kê huyện Tân Uyên và UBND của 10 xã, thị trấn trong giai đoạn 2010–2019. Hồ sơ pháp lý bao gồm các quyết định giao đất trọng yếu như Quyết định số 1074/QĐ-UBND của UBND tỉnh Lào Cai, Quyết định số 980/QĐ-UBND, Quyết định số 85/QĐ-UBND và Quyết định số 584/QĐ-UBND của UBND tỉnh Lai Châu đối với Công ty Cổ phần trà Than Uyên, cùng 10 quyết định giao 33.878,30 ha đất lâm nghiệp cho Ban Quản lý rừng phòng hộ huyện Tân Uyên.

Nguồn dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua phương pháp chọn mẫu phân tầng có chủ đích với tổng quy mô 45 phiếu điều tra khảo sát:

  • Nhóm cán bộ quản lý (05 phiếu): Phỏng vấn chuyên sâu Lãnh đạo Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Lai Châu, Lãnh đạo Phòng Quản lý đất đai, Thanh tra Sở và Lãnh đạo Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Tân Uyên về công tác quy hoạch, cắm mốc và xử lý vi phạm.
  • Nhóm người dân địa phương (40 phiếu): Khảo sát 40 hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sinh sống và canh tác giáp ranh đất nông lâm trường (20 hộ giáp Công ty Cổ phần trà Than Uyên và 20 hộ giáp Ban Quản lý rừng phòng hộ).

Lý do lựa chọn phương pháp chọn mẫu phân tầng có chủ đích là nhằm bảo đảm tính đại diện đa chiều, đối chiếu trực tiếp giữa góc nhìn quản lý vĩ mô của cơ quan nhà nước với phản ánh thực tế của người dân về các vấn đề xâm canh, lấn chiếm và tranh chấp. Các số liệu được tổng hợp, xử lý và phân tích bằng các công cụ chuyên dụng (Excel, Word), kết hợp phương pháp thống kê mô tả và so sánh đối chiếu định lượng trong khung thời gian nghiên cứu thực địa từ tháng 8/2019 đến tháng 8/2020.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, về quy mô và hiện trạng phân bổ sử dụng đất, Công ty Cổ phần trà Than Uyên quản lý diện tích 528,02 ha nằm trên địa bàn 03 xã, thị trấn (tập trung chủ yếu tại thị trấn Tân Uyên với 482,74 ha, chiếm 91,42%; xã Thân Thuộc 29,39 ha, chiếm 5,57%; xã Trung Đồng 15,89 ha, chiếm 3,01%). Cơ cấu sử dụng đất của công ty gồm: đất trồng cây lâu năm 430,59 ha (chiếm 81,55%), đất giao thông bờ lô 80,04 ha (chiếm 15,16%), đất nuôi trồng thủy sản 7,68 ha (chiếm 1,45%), đất trụ sở cơ quan 4,12 ha (chiếm 0,78%), đất rừng phòng hộ 4,10 ha (chiếm 0,78%) và đất bằng chưa sử dụng 1,13 ha (chiếm 0,21%). Trong khi đó, Ban Quản lý rừng phòng hộ huyện Tân Uyên quản lý tổng diện tích 33.878,30 ha trải rộng trên 10/10 xã, thị trấn, bao gồm: đất rừng đặc dụng và phòng hộ 30.394,22 ha (chiếm 89,72%), đất rừng sản xuất 3.484,08 ha (chiếm 10,28%).

Thứ hai, công tác đo đạc bản đồ địa chính và cắm mốc ranh giới tồn tại khoảng trống pháp lý nghiêm trọng. Toàn huyện Tân Uyên mới chỉ có 33,59 ha đất (chiếm tỷ lệ khiêm tốn 0,97% tổng diện tích của Công ty Cổ phần trà Than Uyên) được đo đạc bản đồ địa chính chính quy và cắm mốc thực địa. Còn lại 494,43 ha đất công ty trà và toàn bộ 33.878,30 ha đất rừng phòng hộ (tổng cộng 34.372,73 ha, tương đương 99,90% tổng quỹ đất nông lâm trường toàn huyện) chưa được đo đạc lập bản đồ địa chính chính quy dạng số. Đất đai chủ yếu được quản lý dựa trên các bản đồ giấy cũ đo vẽ từ năm 2001 hoặc khoanh bao ranh giới bằng thiết bị định vị GPS cầm tay có độ sai số lớn.

Thứ ba, việc điều chỉnh ranh giới và xử lý tranh chấp, bàn giao đất còn nhiều vướng mắc. Mặc dù UBND tỉnh Lai Châu đã ban hành Quyết định số 85/QĐ-UBND thu hồi 151,85 ha từ Công ty trà Than Uyên để bàn giao cho địa phương cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho nhân dân, thực tế tình trạng chồng lấn ranh giới vẫn xảy ra tại các xã Phúc Khoa (6.438,39 ha đất rừng), Trung Đồng (4.531,61 ha) và Tà Mít (4.622,0 ha), gây khó khăn lớn cho việc bảo vệ rừng và ổn định sản xuất.

Thảo luận kết quả

Các phát hiện thực nghiệm có thể được trình bày rõ nét thông qua biểu đồ cột chồng trực quan hóa cơ cấu sử dụng đất phân theo 10 đơn vị hành chính cấp xã, kết hợp bảng ma trận đối sánh tỷ lệ diện tích đã cắm mốc chính quy so với diện tích thực tế quản lý. Bảng dữ liệu phản ánh sự tương phản sâu sắc giữa diện tích pháp lý được giao trên văn bản và năng lực quản lý thực địa khi tỷ lệ diện tích thiếu mốc giới kỹ thuật số chạm mức gần 100%.

Nguyên nhân cốt lõi của những tồn tại này bắt nguồn từ sự thiếu hụt kinh phí triển khai Thiết kế kỹ thuật - dự toán theo Quyết định số 1592/QĐ-UBND năm 2012 của UBND tỉnh Lai Châu, khiến công tác đo đạc chính quy bị đình trệ. Thêm vào đó, địa hình chia cắt mạnh với hơn 90% diện tích có độ dốc trên 20 độ, kết hợp với phong tục làm nương rẫy luân canh, xâm canh lâu đời của người dân bản địa đã tạo nên áp lực lớn lên ranh giới lâm phần.

Kết quả nghiên cứu này có tính tương đồng cao với các kết luận của Trần Xuân Miễn và cộng sự (2016) tại tỉnh Hòa Bình, Hoàng Dương Tuấn (2016) tại Lạng Sơn và Nguyễn Tiến Sỹ cùng cộng sự (2016). Các công trình này đều chỉ ra rằng việc "quản lý trên giấy" thông qua bản đồ khoanh bao là nguyên nhân hàng đầu dẫn đến tranh chấp đất đai kéo dài. Đồng thời, nghiên cứu của Tô Xuân Phúc và nhóm tác giả (2013) cũng khẳng định mâu thuẫn giữa các tổ chức nông lâm nghiệp và cộng đồng địa phương chỉ có thể được tháo gỡ triệt để khi ranh giới sử dụng đất được xác định rõ ràng trên thực địa và gắn liền với quyền lợi kinh tế của người dân.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm giải quyết dứt điểm các tồn tại, luận văn đưa ra 4 nhóm giải pháp trọng tâm:

Thứ nhất, hoàn thiện công tác đo đạc, lập bản đồ địa chính dạng số và cắm mốc ranh giới thực địa.

  • Hành động: Triển khai đo đạc địa chính chính quy và xây dựng hệ thống mốc giới kiên cố trên thực địa.
  • Chỉ tiêu mục tiêu: Phủ kín 100% bản đồ địa chính số và hoàn thành cắm mốc ranh giới cho toàn bộ 34.372,73 ha diện tích chưa được đo đạc chính quy; giảm thiểu 95% tình trạng tranh chấp và chồng lấn ranh giới.
  • Lộ trình: Giai đoạn 2021–2023.
  • Chủ thể thực hiện: Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Lai Châu chủ trì, phối hợp với UBND huyện Tân Uyên và các đơn vị sử dụng đất.

Thứ hai, rà soát, bóc tách và thu hồi phần diện tích đất sử dụng kém hiệu quả bàn giao về cho địa phương.

  • Hành động: Rà soát hiện trạng, thu hồi diện tích đất nông lâm trường bị xâm canh, phân tán để đưa vào quỹ đất địa phương.
  • Chỉ tiêu mục tiêu: Chuyển giao tối thiểu 200–300 ha đất nông nghiệp manh mún, đất nương rẫy xen kẹt về cho UBND các xã quản lý để giao đất, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các hộ dân thiếu đất sản xuất.
  • Lộ trình: Giai đoạn 2022–2024.
  • Chủ thể thực hiện: UBND huyện Tân Uyên, Phòng Tài nguyên và Môi trường phối hợp cùng UBND các xã Phúc Khoa, Trung Đồng, Hố Mít.

Thứ ba, chuẩn hóa mô hình giao khoán đất gắn với chuỗi liên kết giá trị và tiêu thụ sản phẩm.

  • Hành động: Ký kết lại hợp đồng giao khoán minh bạch theo đúng quy định pháp luật và ứng dụng kỹ thuật thâm canh chè chất lượng cao.
  • Chỉ tiêu mục tiêu: Hoàn thiện 100% hợp đồng giao khoán đối với 430,59 ha đất trồng chè của Công ty Cổ phần trà Than Uyên; nâng thu nhập bình quân của người lao động nhận khoán lên trên 45 triệu đồng/người/năm.
  • Lộ trình: Giai đoạn 2021–2025.
  • Chủ thể thực hiện: Công ty Cổ phần trà Than Uyên và Ban Quản lý rừng phòng hộ huyện Tân Uyên.

Thứ tư, siết chặt công tác thanh tra, kiểm tra và thiết lập cơ chế giải quyết tranh chấp đất đai tại cơ sở.

  • Hành động: Tăng cường thanh tra chuyên ngành định kỳ, xử lý nghiêm hành vi lấn chiếm, chuyển nhượng đất trái phép và thiết lập tổ hòa giải lưu động.
  • Chỉ tiêu mục tiêu: Giải quyết dứt điểm 100% các vụ việc khiếu nại, tranh chấp phát sinh; không để hình thành các điểm nóng khiếu kiện phức tạp.
  • Lộ trình: Thực hiện liên tục hàng năm từ năm 2021 đến năm 2030.
  • Chủ thể thực hiện: Thanh tra Sở Tài nguyên và Môi trường, Thanh tra huyện Tân Uyên và UBND các xã, thị trấn.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu cung cấp tài liệu giá trị cao cho 4 nhóm đối tượng chính:

Nhóm cơ quan quản lý nhà nước về tài nguyên và môi trường (Sở TN&MT tỉnh Lai Châu, Phòng TN&MT huyện Tân Uyên): Luận văn cung cấp phương pháp luận thực chứng và bộ số liệu chi tiết về hiện trạng 34.406,32 ha đất nông lâm nghiệp, phục vụ trực tiếp công tác tham mưu lập quy hoạch sử dụng đất và triển khai các Đề án tăng cường quản lý đất đai theo Nghị quyết số 112/2015/QH13 của Quốc hội.

Nhóm doanh nghiệp nông nghiệp và đơn vị sự nghiệp quản lý rừng (Công ty Cổ phần trà Than Uyên, các Ban Quản lý rừng phòng hộ): Đơn vị có thể tham khảo quy trình rà soát hiện trạng 528,02 ha đất doanh nghiệp và 33.878,30 ha đất rừng để xây dựng phương án sử dụng đất tối ưu, cơ cấu lại hình thức giao khoán vườn cây và giảm thiểu rủi ro pháp lý về tranh chấp mốc giới.

Nhóm nhà khoa học, giảng viên và học viên cao học ngành Quản lý đất đai, Lâm nghiệp và Kinh tế tài nguyên: Luận văn là tài liệu tham khảo chuẩn mực về phương pháp kết hợp số liệu thứ cấp đa nguồn với khảo sát chọn mẫu 45 đối tượng tại địa bàn miền núi phức tạp, cung cấp dữ liệu so sánh cho các nghiên cứu về kinh tế đất vùng Tây Bắc.

Nhóm chính quyền địa phương cấp xã, thị trấn và tổ chức đoàn thể cơ sở tại vùng cao: Cung cấp cơ sở dữ liệu về các điểm chồng lấn ranh giới tại 10 xã, thị trấn để cán bộ địa chính cấp xã áp dụng trong công tác hòa giải tranh chấp đất đai, bảo đảm an ninh trật tự nông thôn và quyền lợi của người dân.

Câu hỏi thường gặp

Nguyên nhân chính khiến 33.878,30 ha đất của Ban Quản lý rừng phòng hộ Tân Uyên chưa được đo đạc bản đồ địa chính chính quy là gì? Nguyên nhân chủ yếu do nguồn kinh phí phân bổ từ ngân sách theo Quyết định số 1592/QĐ-UBND bị hạn hẹp, kết hợp với điều kiện địa hình vùng núi hiểm trở (độ dốc trên 20 độ, độ cao trên 1.000 m), dẫn đến việc trước đây đơn vị chỉ có thể khoanh vẽ ranh giới lâm phần bằng thiết bị GPS cầm tay có độ sai số lớn.

Hiện trạng đo đạc và cắm mốc ranh giới tại Công ty Cổ phần trà Than Uyên đạt tỷ lệ bao nhiêu? Tính đến thời điểm nghiên cứu, trong tổng số 528,02 ha đất được giao và cho thuê, Công ty Cổ phần trà Than Uyên mới chỉ hoàn thành đo đạc bản đồ địa chính chính quy và cắm mốc ranh giới cho 33,59 ha (đạt tỷ lệ 0,97%), còn lại 494,43 ha vẫn đang quản lý trên bản đồ giấy cũ từ năm 2001.

Tập quán canh tác của người dân ảnh hưởng như thế nào đến công tác quản lý đất nông lâm trường tại Tân Uyên? Địa bàn huyện có nhiều dân tộc thiểu số sinh sống với tập quán phát nương làm rẫy luân canh và xâm canh lâu đời. Việc thiếu mốc giới thực địa kiên cố đã dẫn đến tình trạng người dân canh tác lấn sâu vào diện tích 30.394,22 ha rừng phòng hộ và đất trồng chè, gây ra các điểm tranh chấp cục bộ kéo dài.

Ý nghĩa kinh tế - xã hội của việc thu hồi 151,85 ha đất từ Công ty Trà Than Uyên theo Quyết định số 85/QĐ-UBND năm 2016 là gì? Quyết định thu hồi 151,85 ha đất sử dụng không hiệu quả nhằm bàn giao lại cho UBND huyện Tân Uyên thiết lập phương án giao đất và cấp giấy chứng nhận cho các hộ dân địa phương, trực tiếp tháo gỡ bài toán thiếu đất sản xuất, ổn định sinh kế và giảm tỷ lệ nghèo bền vững.

Giải pháp giao khoán đất trồng chè được đề xuất triển khai như thế nào để nâng cao thu nhập cho người lao động? Luận văn đề xuất chuẩn hóa toàn diện hợp đồng giao khoán cho 430,59 ha đất trồng cây lâu năm theo chuỗi liên kết khép kín, ràng buộc trách nhiệm đầu tư thâm canh và tiêu thụ sản phẩm, qua đó phấn đấu nâng mức thu nhập của người nhận khoán từ 33,0 triệu lên trên 45,0 triệu đồng/người/năm.

Kết luận

  • Luận văn hệ thống hóa cơ sở lý luận và khung thể chế quản lý đất đai có nguồn gốc nông lâm trường theo Luật Đất đai năm 2013 và Nghị quyết số 30-NQ/TW của Bộ Chính trị.
  • Phản ánh chính xác thực trạng quản lý 34.406,32 ha đất tại huyện Tân Uyên, chỉ rõ khoảng trống lớn khi có tới 34.372,73 ha (chiếm 99,90% diện tích) chưa có bản đồ địa chính chính quy dạng số và mốc giới chuẩn.
  • Nhận diện toàn diện các nguyên nhân gây tranh chấp, lấn chiếm và chồng lấn ranh giới đất đai tại 10 xã, thị trấn, xuất phát từ khó khăn nguồn vốn đo đạc và tập quán xâm canh vùng cao.
  • Đề xuất 4 nhóm giải pháp đột phá gắn liền mục tiêu đo đạc cắm mốc 100% diện tích, điều chỉnh quy hoạch giao đất cho dân và hoàn thiện chuỗi giá trị giao khoán 430,59 ha đất chè.
  • Cung cấp cơ sở khoa học và dữ liệu thực chứng tin cậy phục vụ công tác quy hoạch, điều chỉnh chính sách đất đai cho các cơ quan quản lý nhà nước tỉnh Lai Châu.

Đóng góp cốt lõi của công trình là thiết lập nền tảng dữ liệu thực tế và lộ trình kỹ thuật giúp chính quyền địa phương hoàn thành việc số hóa, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trong giai đoạn 2021–2025. Các cơ quan quản lý nhà nước, ban ngành chuyên trách và doanh nghiệp cần nhanh chóng ứng dụng các khuyến nghị của luận văn vào thực tiễn để nâng cao hiệu lực quản trị tài nguyên đất và bảo đảm an sinh xã hội bền vững.