ĐẶT VẤN ĐỀ Con ngƣời là nguồn tài nguyên quan trọng nhất, quyết định sự phát triển của đất nƣớc, trong đó sức khỏe là vốn quý nhất của con ngƣời và của toàn xã hội. Vì vậy đầu tƣ cho sức khỏe chính là đầu tƣ cho sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nƣớc, nâng cao chất lƣợng cuộc sống cho con ngƣời là trách nhiệm của toàn xã hội. Trong công tác chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân, nguồn lực y tế là nguồn lực quan trọng nhất quyết định phạm vi và chất lƣợng y tế. Do đó đòi hỏi phải có đội ngũ cán bộ có đủ năng lực, trình độ về chuyên môn cũng nhƣ quản lý, đa dạng về các chuyên khoa, chuyên ngành.
Vì vậy phát triển nguồn nhân lực cho ngành y tế là vấn đề bức xúc, cấp thiết, đòi hỏi sự quan tâm hỗ trợ của các cấp và các ngành trong tỉnh. Nhân lực y tế (NLYT) là thành phần quan trọng và căn bản của hệ thống y tế của một quốc gia, quyết định hiệu quả và chất lƣợng của dịch vụ y tế, tác động trực tiếp đến sự hài lòng của ngƣời bệnh nhân [14]. Theo thống kê mới nhất của Tổ chức Y tế thế giới (WHO)năm 2015 lực lƣợng lao động làm việc trong ngành Y tế là trên 43 triệu lao động,bao gồm 20,7 triệu y tá/hộ sinh, 9,8 triệubác sĩ và khoảng 13 triệu ngƣời lao động khác. Bệnh viện đa khoa tỉnh Trà Vinh là tuyến khám và điều trị cao nhất tại tỉnh Trà Vinh, là một bệnh viện hạng II với số giƣờng kế hoạch là 500 giƣờng, tuy nhiên thực kê 620 giƣờng.
Ngoài việc phục vụ bệnh nhân trong tỉnh,bệnh viện còn tiếp nhận khám chữa bệnh cho bệnh nhân từ các tỉnh,huyện lân cận. Hằng năm ƣớc tính khoảng 415.209 lƣợt khám bệnh cho bệnh nhân trong và ngoài tỉnh.Với tổng số cán bộ y tế hiện có là 612 ngƣời, bệnh việnđang trong tình trạng quá tải, từ đó ảnh hƣởng đến việc chăm sóc sức khỏe cho ngƣời dân trên địa bàn và một số vùng phụ cận [1]. Với tình hình nhân lực chịu sức ép nhƣ hiện nay thì bệnh viện gặp nhiều trở ngại trong việc đƣa bệnh viện trở thành bệnh viện hạng I để qua đó không ngừng nâng cao chất lƣợng khám chữa bệnh, phục vụ ngƣời dân ngày càng tốt hơn. 2 Xuất phát từ thực trạng trên chúng tôi tiến hành nghiên cứu :“ Đánh giá hoạt động quản lý nhân lực tại bệnh viện đa khoa trà vinh giai đoạn 2014 - 2016”mục đích đánh giá lại thực trạng công tác quản lý nguồn nhân lực và những thuận lợi khó khăn đến công tác quản lý nguồn nhân lực tại bệnh viện đa khoa tỉnh Trà Vinh.
3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1. Mô tả thực trạng hoạt động quản lý nhân lực tại Bệnh viện Đa khoa TràVinhgiai đoạn 2014 –2017. Phân tích thuận lợi, khó khăn trong quản lý nhân lực tại Bệnh viện Đa khoa Trà Vinh. 4 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.
Một số định nghĩa và khái niệm sử dụng trong nghiên cứu. Nhân lựclà sức lực của con ngƣời, nằm trong mỗi con ngƣời và làm cho con ngƣời hoạt động, sức lực đó ngày càng phát triển cùng với sự phát triển của cơ thể con ngƣời và đến một mức độ nào đó, con ngƣời đủ điều kiện tham gia vào quá trình lao động con ngƣời có sức lao động[19]. Nguồn nhân lực (NNL): là nguồn lực con ngƣời đƣợc xem xét ở hai khía cạnh Trƣớc hết, với ý nghĩa là nguồn gốc, là nới phát sinh ra nguồn lực.nguồn nhân lực nằm trong bản thân con ngƣời, đó cũng là sự khác nhau cơ bản giữa nguồn lực con ngƣời và các nguồn lực khác. Nguồn lực đƣợc hiểu là tổng thể NNL của từng cá nhân con ngƣời.
Với tƣ cách là một NNL của quá trình phát triển, NNL là nguồn lực con ngƣời sáng tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội đƣợc biểu hiện là số lƣợng và chất lƣợng nhất định tại một thời điểm nhất định[19]. Khái niệm NNL: là nguồn lực con ngƣời có khả năng sáng tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội đƣợc biểu hiện ra là số lƣợng và chất lƣợng nhất định tại một thời điểm nhất định [26]. Nguồn lực của một tổ chức đƣợc hình thành trên cơ sở của các cá nhân có vai trò khác nhau và đƣợc liên kết với nhau theo những mục tiêu nhất định. NNL khác với các nguồn lực khác của tổ chứcdo chính bản chất của con ngƣời [15], [20].Đồng Thị Thanh Phƣơng và Th.S Nguyễn Thị Ngọc An nguồn nhân lực là tất cả các thành viên đang tham gia hoạt động cho tổ chức.
Tổ chức đó là một tập hợp gồm hai ngƣời trở lên, cùng hợp tác với nhau để thực hiện những mục tiêu chung nào đó [8]. Theo định nghĩa của Tổ chức y tế thế giới (TCYTTG)năm 2006, NVYT là tất cả những ngƣời tham gia vào những hoạt động mà mục đích là nhằm nâng cao sức khỏe của ngƣời dân. Nói chính xác, theo nghĩa này thì ngƣời mẹ chăm sóc con ốm 5 và những ngƣời tình nguyện trong lĩnh vực y tế cũng bao gồm trong NLYT. Họ góp phần quan trọng và quyết định việc thực hiện chức năng hầu hết các hệ thống y tế.Tuy nhiên, dữ liệu có thể về số NVYT chủ yếu giới hạn trong những ngƣời tham gia vào các hoạt động trả lƣơng [7], [30].
Cụ thể hơn, TCYTTG định nghĩa NVYT là những ngƣời mà hoạt động của họ nhằm mục đích nâng cao sức khỏe. NVYT bao gồm những ngƣời cung cấp DVYT: Bác sĩ, điều dƣỡng, dƣợc sĩ, kỹ thuật viên và những ngƣời quản lý và nhân viên khác: nhân viên kế toán, cấp dƣỡng, lái xe, hộ lý[7], [30]. Tuy nhiên, việc xếp loại nhân viên đƣợc trả lƣơng cũng không phải đơn giản. Một số ngƣời trong các bệnh viện mà công việc của họ không trực tiếp nâng cao sức khỏe (ngƣời quản lý, nhân viên kế toán, lái xe, nhân viên vệ sinh,…) Mặc khác, những ngƣời Bác sĩ làm việc trong những công ty có nhiệm vụ chăm sóc sức khỏe cho công nhân, những công ty đó không hoạt động nâng cao sức khỏe.
Vì những lý do đó, nguồn NLYT đƣợc xem là bao gồm những ngƣời hƣởng lƣơng trong những cơ quan tổ chức có mục đích chính là nâng cao sức khỏe cũng nhƣ những ngƣời mà công việc của họ cũng là nâng cao sức khỏe nhƣng làm việc trong những cơ quan, tổ chức khác [30]. Nội dung cơ bản trong quản lý nguồn nhân lực Y tế 1. Quản lý nguồn nhân lực Y tế Quản lý NLYT: là quá trình là quá trình khai thác, tổ chức và bảo vệ và phát triển nguồn tài nguyên con ngƣời từ các đơn vị tổ chức của hệ thống y tế; là việc thực hiện chức năng tổ chức của quản lý căn bản trong các cơ sở cung cấp dịch vụ y tế, bao gồm các nội dung căn bản sau: - Phân tích công việc để chuẩn hóa công việc của từng loại hình NVYT từ đó tuyển dụng, đào tạo đánh giá nhân viên. - Tuyển dụng nhân viên theo nhu cầu cung cấp DVYT.
- Đào tạo và nâng cao năng lực chuyên môn cho nhân viên để không ngừng nâng cao chất lƣợng và hiệu quả cung cấp DVYT. 6 - Nâng cao hiệu quả sử dụng lao động thông qua việc sử dụng hệ thống kích thích vật chất và tinh thần đối với NVYT [17]. Trong một tổ chức, “Quản lý nguồn nhân lực” là hệ thống các quan điểm, chính sách và hoạt động thực tiễn sử dụng trong quản lý con ngƣời (QLNL) của một tổ chức nhằm đạt đƣợc kết quả tối ƣu cho cả tổ chức và nhân viên. Quản lý NNL nghiên cứu các vấn đề về quản lý con ngƣời trong các tổ chức ở tầm vi mô và có hai mục tiêu cơ bản: Một là sử dụng có hiệu quả nguồn lực của tổ chức; Hai là đáp ứng nhu cầu càng cao của nhân viên, tạo điều kiện cho nhân viên đƣợc phát huy tối đa các năng lực cá nhân, đƣợc kích thích, động viên nhiều nhất tại nơi làm việc và trung thành, tận tâm với tổ chức[19].
Quản lý NNL đƣợc phát triển trên cơ sở của nămnguyên tắc chủ yếu sau: Thứ nhất là nhân viên cần đƣợc đầu tƣ thỏa đáng để phát triển các năng lực riêng nhằm thỏa mãn các nhu cầu cá nhân, đồng thời tạo ra năng suất lao động, hiệu quả làm việc cao và đóng góp tốt nhất cho tổ chức. Thứ hai là các chính sách, chƣơng trình và thực tiễn quản lý cần đƣợc thiết lập và thực hiện sao cho có thể thỏa mãn cả nhu cầu vật chất và tinh thần cho nhân viên. Thứ ba là mô9i trƣờng làm việc cần đƣợc thiết lập sao cho có thể kích thích nhân viên phát triển và sử dụng tối đa các kỹ năng của mình. Thứ tƣ là vấn đề chức năng nhân lực cần đƣợc thực hiện phối hợp và là một bộ phận quan trọng trong chiến lƣợc hoạt động tổ chức.
Cuối cùng, nhiệm vụ quản lý con ngƣời là của tất cả các nhà quản lý các cấp, không còn đơn thuần của Trƣởng phòng nhân lực hay tổ chức cán bộ[19]. Vai trò quản lý nhân lực y tế tại các cơ sở y tế Quản lý nguồn NLYT cơ sở là quản lý một khối tài sản lớn nhất của cơ sở đó là con ngƣời. Không có NNL tốt các cơ sở y tế(CSYT) sẽ không thực hiện đƣợc các chiến lƣợc một các hiệu quả và không đạt đƣợc mục tiêu đề ra. Nếu nhà quản lý y tế quản lý tốt nguồn nhân lực, thì các CSYT sẽ có các nhân viên đƣợc đào tạo giỏi, có kĩ năng nghề nghiệp, có kiến thức và sự nhiệt tình trong công việc, khuyến khích 7 đƣợc các NVYT làm việc hết khả năng của mình.
Từ đó, tạo đƣợc thế mạnh và uy tín cao cho CSYT đối với nhân dân Quản lý nguồn NLYT đóng vai trò chiến lƣợc phát triển chung của mỗi CSYT. Phong cách quản lý nguồn NLYT có ảnh hƣởng sâu sắc đến không khí làm việc và tâm lý NVYT. Nếu đƣợc động viên khích lệ kịp thời sẽ khuyến khích NVYT làm việc hăng say,phát huy hết khả năng làm việc, tạo ra đƣợc bầu không khí lan truyền tốt trong nội bộ NVYT. Quản lý NNL tại các CSYT có liên quan đến tất cả các bộ phận trong mỗi CSYT.
Nghiên cứu quản lý NNL tại các CSYT giúp cho các nhà quản lý cách giao dịch với nhân viên, tìm ra ngôn ngữ chung và nhạy cảm hơn với nhu cầu của NVYT, biết đánh giá nhân viên chính xác, biết lôi kéo nhân viên say mê với công việc tránh đƣợc sai lầm trong tuyển chọn, sử dụng nhân viên, phối hợp thực hiện mục tiêu của CSYT và mục tiêu của cá nhân nhân viên y tế [12].