Đặt vấn đề Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá mà thiên nhiên ban tặng cho con người, là một tư liệu sản xuất đặc biệt không gì thay thế được, là sản phẩm của tự nhiên, nó tham gia vào tất cả các hoạt động kinh tế xã hội,nó hình thành và độc lập với con người.Do đó các quan hệ đất đai luôn chứa đựng trong nó những vấn đề phức tạp đòi hỏi phải có sự giải quyết kịp thời, đảm bảo được các lợi ích của người sử dụng đất. Nhưng sự tồn tại và phát triển của con người lại phụ thuộc rất lớn vào đất đai. Sự tồn tại và phát triển của chất lượng đất đai phụ thuộc vào ý thức và phương thức tổ chức khai thác sử dụng đất đai của con người. Luật đất đai 2003 và bộ luật dân sự năm 2005 cũng đã có những quy định về công tác quản lý Nhà nước về đất đai.Nhưng sau khi luật đất đai 2003 ban hành đặc biệt là do tác động của cơ chế thị trường, công tác quản lý nhà nước về đất đai vẫn còn bị buông lỏng, chưa được quan tâm đúng mực.Thấu hiểu tầm quan trọng của đất đai, ngay lời nói đầu của luật đất đai khẳng định rõ: “Đất đai là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt không gì thay thế được, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các công trình văn hóa, kinh tế xã hội an ninh quốc phòng” (Luật đất đai 1993).
Như vậy, đất đai là điều kiện cơ bản cho quá trình phát triển, song yếu tố mang tính quyết định của nền kinh tế phát triển, đảm bảo mục tiêu ổn định chính trị - xã hội lâu dài lại đến từ việc quản lý, sử dụng đất có hiệu quả, hợp lý, tiết kiệm hay không, đây cũng chính là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của đất nước. e 2 Phường Tân Long là một phường hiện đang phát triển cả về kinh tế và xã hội của tỉnh Thái Nguên. Vấn đề đất đai của phường Tân Long trở nên nóng bỏng cùng với sự phát triển kinh tế xã hội đặt ra cho ngành Tài nguyên và Môi trường nhiệm vụ nặng nề, khó khăn và phức tạp.Việc quản lý sử dụng đất ở Tân Long nói riêng và cả nước nói chung được tăng cường từ khi có Luật đất đai năm 1983, 1987, 1998, 2001, 2003. Nhiều chính sách về đất đai như giao đất nông nghiệp, đất ở, quy hoạch đất đai, lập hồ sơ địa chính, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đo đạc lập bản đồ địa chính… đang được các cấp, ngành của địa phương quan tâm.
Do vậy, việc đánh giá tình hình quản lý Nhà nước về đất đai của phường Tân Long trong giai đoạn hiện nay là rất cần thiết nhằm xác định những tồn tại, yếu kém , nguyên nhân và tìm ra biện pháp khắc phục để công tác quản lý Nhà nước về đất đai ngày càng chặt chẽ hơn, góp phần thúc đẩy nền kinh tế xã hội của phường phát triển. Xuất phát từ thực tế đó, được sự nhất trí của Khoa Quản Lý Tài nguyên, Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, em tiến hành nghiên cứu và thực hiện chuyên đề: “ Đánh giá công tác quản lý Nhà nƣớc về đất đai trên địa bàn phƣờng Tân Long- thành phố Thái Nguyên giai đoạn 2011 – 2014” 1. Mục đích nghiên cứu - Đánh giá tình hình quản lý đất đai của phường Tân Long giai đoạn 2011 – 2014. Tìm ra những mặt tích cực và hạn chế trong công tác quản lý đất đai của phường và đề ra một số giải pháp đễ thực hiện tốt công tác quản lý Nhà nước về đất đai trong thời gian tiếp theo để ngày một tốt hơn.
Mục tiêu nghiên cứu Đánh giá thực trạng quản lý Nhà nước về đất đai trên địa bàn phường Tân Long.Theo 13 nội dung của Luật Đất đai và đề xuất một số giải pháp có ý nghĩa góp phần vào việc nâng cao hiệu quả trong công tác quản lý Nhà nước về đất đai. Ý nghĩa của đề tài Vận dụng những kiến thức đã học vào thực tiễn công tác quản lý Nhà nước về đất đai, làm quen với công tác nghiên cứu khoa học và hoàn thiện một khóa luận. Nắm vững cơ sở lý luận, những căn cứ pháp lý về công tác quản lý nhà nước về đất đai. Rút ra bài học kinh nghiệm trong công tác quản lý Nhà nước về đất đai thông qua việc đánh giá công tác quản lý tại phường Tân Long trong giai đoạn 2011 – 2014.
e 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học: 2. Những hiểu biết chung về công tác quản lý Nhà nước về đất đai 2. Bản chất của công tác quản lý Nhà nước về đất đai “Quản lý Nhà nước về đất đai là tổng hợp các hoạt động của các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để thực hiện và bảo vệ quyền sở hữu của Nhà nước đối với đất đai; đó là các hoạt động trong việc nắm chắc tình hình sử dụng đất; trong việc phân phối và phân phối lại quỹ đất đai theo quy hoạch, kế hoạch; trong việc kiểm tra, giám sát quá trình quản lý và sử dụng đất; điều tiết các nguồn lợi từ đất đai” (Nguyễn Khắc Thái Sơn, 2007)[18].
Quản lý Nhà nước về đất đai nhằm bảo vệ quyền sở hữu Nhà nước đối với đất đai, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất; đảm bảo sử dụng hợp lý quỹ đất đai của đất nước; tăng cường hiệu quả sử dụng đất; đồng thời bảo vệ đất, cải tạo đất và bảo vệ môi trường. Yêu cầu của công tác quản lý Nhà nước về đất đai là phải đăng ký, thống kê đất đầy đủ đúng quy định của pháp luật đất đai ở từng địa phương theo các cấp hành chính. Hiện nay, Luật đất đai luôn được hoàn thiện để phục vụ cho hoạt động chuyển dịch cơ cấu kinh tế, quy hoạch sử dụng đất, các chính sách đất đai và chính sách xã hội. Đáp ứng yêu cầu trên, ngày 26/11/2003 Luật Đất đai 2003 ra đời và tại điều 6 Luật Đất đai 2003 đã quy định 13 nội dung về quản lý Nhà nước về đất đai, cụ thể như sau: 1.
Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai và tổ chức thực hiện các văn bản đó. Xác định địa giới hành chính, lập và quản lý hồ sơ địa giới hành chính, lập bản đồ hành chính. Khảo sát, đo đạc, đánh giá phân hạng đất, lập bản đồ địa chính, bản đồ hiện trạng sử dụng đất và bản đồ quy hoạch sử dụng đất. Quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất.
Quản lý việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng đất. Đăng ký quyền sử dụng đất, lập và quản lý hồ sơ địa chính, cấp GCNQSD đất. Thống kê, kiểm kê đất đai. Quản lý tài chính về đất đai.
Quản lý và phát triển thị trường quyền sử dụng đất trong thị trường bất động sản. Quản lý, giám sát việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất đai. Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành các quy định của pháp luật về đất đai và xử lý vi phạm về đất đai. Giải quyết tranh chấp về đất đai, giải quyết khiếu nại, tố cáo các vi phạm trong việc quản lý và sử dụng đất đai.
Quản lý các hoạt động dịch vụ công về đất đai. * Đối với các cơ quan quản lý: Luật quy định những nội dung quản lý chung cho tất cả các cấp, quy định rõ trách nhiệm và thẩm quyền riêng cho từng cấp. * Đối với người sử dụng: Luật quy định các quyền của người sử dụng đất được Nhà nước bảo hộ hợp pháp và buộc họ phải thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ đối với Nhà nước. Tổ chức quản lý Nhà nước về đất đai Tại chương II Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về hướng dẫn thực hiện Luật đất đai 2003 quy định về hệ thống tổ chức quản lý đất đai và dịch vụ quản lý, sử dụng đất đai như sau: e 6 - Hệ thống tổ chức cơ quan quản lý đất đai được thành lập thống nhất từ Trung ương tới cơ sở gắn với quản lý Tài nguyên và Môi trường, cụ thể: + Cơ quan quản lý đất đai ở Trung ương là Bộ Tài nguyên và Môi trường; + Cơ quan quản lý đất đai ở cấp tỉnh là Sở Tài nguyên và Môi trường; + Cơ quan quản lý đất đai ở cấp huyện là Phòng Tài nguyên và Môi trường; + Cấp xã có cán bộ địa chính - Bên cạnh hệ thống tổ chức quản lý đất đai như trên còn có Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất, Tổ chức phát triển quỹ đất và tổ chức hoạt động dịch vụ trong quản lý và sử dụng đất đai.
Căn cứ pháp lý của công tác quản lý Nhà nước về đất đai Hiến pháp 1980 ra đời, Nhà nước là chủ sở hữu toàn bộ đất đai. Nhà nước thống nhất quản lý toàn bộ tài nguyên đất đai quốc gia. Trong giai đoạn đầu này, tuy chưa có Luật đất đai nhưng hàng loạt các văn bản mang tính pháp luật của Nhà nước về đất đai đã ra đời. Đó là: Quyết định số 201/QĐ-CP ngày 1/7/1980 của Hội đồng Chính phủ về việc thống nhất quản lý ruộng đất và tăng cường công tác quản lý ruộng đất trong cả nước; Chỉ thị số 299/CT- TT ngày 10/11/1980 của Thủ tướng Chính phủ về công tác đo đạc, phân hạng và đăng ký ruộng đất.
Đến ngày 29/12/1987, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thông qua luật đất đai đầu tiên - Luật đất đai 1987. Luật này được công bố ban hành vào ngày 08 tháng 01 năm 1988. Chỉ thị số 67/CT-TTg ngày 23/3/1989 về triển khai thi hành Luật đất đai. Hiến pháp 1992 đã mở ra thời kỳ đổi mới hệ thống chính trị.
Lần đầu tiên chế độ sở hữu về quản lý đất đai được ghi vào hiến pháp, trong đó quy định, “đất đai thuộc sở hữu toàn dân” (điều 17). e 7 - Luật đất đai ngày 14/7/1993, Nhà nước khẳng định đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý, đất đai được giao ổn định lâu dài cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân. - Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Đất đai ngày 2/2/1998. - Thông tư số 346/1998/TT-TCĐC ngày 16/3/1999 của Tổng cục Địa chính hướng dẫn đăng ký đất đai, lập hồ sơ địa chính.
- Nghị định số 04/2000/NĐ-CP ngày 11/2/2000 của Chính phủ về thi hành luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đất đai năm 1993.