Chương 1 giới thiệu các nội dung cần thiết của nghiên cứu như lý do, mục tiêu, phạm vi, đối tượng và bố cục của nghiên cứu. Trong đó xác định lý do thực hiện đề tài từ những khó khăn trong quy trình chung về quản lý NCKH và trong quản lý kinh phí cho NCKH. Mục tiêu của đề tài là đánh giá công tác quản lý NCKH dựa trên nhu cầu của các cán bộ nghiên cứu và đánh giá hiệu quả quản lý dựa trên một số chỉ tiêu liên quan. Phạm vi nghiên cứu là nhu cầu của cán bộ NCKH đối với quy trình quản lý NCKH nói chung và quy trình quản lý kinh phí nói riêng; đánh giá hiệu quả quản lý chỉ trên bốn chỉ tiêu về tỷ lệ giải ngân, tỷ lệ thanh toán tạm ứng, tỷ lệ nghiệm thu không gia hạn, tỷ lệ xếp loại nghiệm thu.
Trong đó, đối tượng nghiên cứu là các cán bộ tham gia thực hiện ĐTDA với thành phố Cần Thơ từ năm 2011-2015. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.1 Lý thuyết về quản lý nghiên cứu khoa học 2.1 Các khái niệm Nhằm mục đích thống nhất chung các thuật ngữ sẽ sử dụng cho việc thực hiện nghiên cứu, một số khái niệm có liên quan đến nhà khoa học, quản lý nghiên cứu khoa học sẽ được trình bày. Khái niệm nhà khoa học Theo khái niệm của Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) trong Cẩm nang FRASCATI thì nhà khoa học là những cán bộ nghiên cứu hay còn gọi là nhà nghiên cứu hay nhà khoa học hay kỹ sư nghiên cứu. Đây là những cán bộ chuyên nghiệp có trình độ từ cao đẳng trở lên hoặc không có văn bằng chính thức, song làm các công việc tương đương như nhà nghiên cứu/nhà khoa học, tham gia vào quá trình tạo ra tri thức, sản phẩm và quy trình mới, tạo ra phương pháp và hệ thống mới.
Trong phạm vi nghiên cứu này, nhà khoa học được hiểu là các cán bộ có tham gia thực hiện ĐTDA nghiên cứu khoa học có sử dụng ngân sách nhà nước cấp thành phố.2 Khái niệm về quản lý nghiên cứu khoa học Quản lý: Có rất nhiều quan niệm về quản lý, tùy theo hoàn cảnh khác nhau, mỗi tác giả đưa ra định nghĩa riêng của mình. Koontz et al.17) trong “Những vần đề cốt yếu của quản lý” cho rằng: “Có lẽ không có lĩnh vực hoạt động nào của con người quan trọng hơn là công việc quản lý, bởi vì mọi nhà quản lý ở mọi cấp độ và trong mọi cơ sở đều có nhiệm vụ cơ bản là thiết kế và duy trì một môi trường mà trong đó các cá nhân làm việc với nhau trong các nhóm có thể hoàn thành các nhiệm vụ và các mục tiêu đã định”. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 Đoàn Thị Thu Hà và Nguyễn Thị Ngọc Huyền (2007, p.23) trong giáo trình “Khoa học quản lý” quan niệm rằng: “Quản lý là sự tác động của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm đạt được những mục tiêu nhất định trong điều kiện biến động của môi trường”. Đồng thời đã đưa ra những đặc điểm chung của quản lý như sau: - Để quản lý được phải tồn tại một hệ quản lý bao gồm hai phân hệ: chủ thể quản lý và đối tượng quản lý.
Chủ thể quản lý (có thể là một người, một bộ máy quản lý gồm nhiều người) là tác nhân tạo ra các tác động quản lý nhằm dẫn dắt đối tượng quản lý đi đến mục tiêu. Đối tượng quản lý (giới vô sinh: nhà xưởng, ruộng đất,.; giới sinh vật: vật nuôi, cây trồng; con người) tiếp nhận các tác động của chủ thể quản lý. - Phải có một hoặc một tập hợp mục đích thống nhất cho cả chủ thể và đối tượng quản lý. - Trao đổi thông tin nhiều chiều.
Chủ thể quản lý phải liên tục thu thập dữ liệu về môi trường và hệ thống, tiến hành chọn lọc, xử lý, bảo quản thông tin, truyền tin và ra các quyết định nhằm tác động lên các đối tượng quản lý. Đối tượng quản lý tiếp nhận các tác động quản lý của chủ thể cùng các đảm bảo vật chất khác để thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của mình. - Quản lý bao giờ cũng có khả năng thích nghi. Trước những thay đổi của đối tượng quản lý cũng như môi trường, chủ thể quản lý vẫn có thể tiếp tục quản lý có hiệu quả thông qua việc điều chỉnh, đổi mới cơ cấu, phương pháp, công cụ và hoạt động của mình.
Tóm lại, có thể nói một cách tổng quát, quản lý là hoạt động cần thiết phải thực hiện khi con người kết hợp với nhau trong các tổ chức nhằm đạt được những mục tiêu chung. Về các khái niệm liên quan đến nghiên cứu khoa học, được rất nhiều tác giả bàn luận. Theo Vũ Cao Đàm (2010, p.35), “Nghiên cứu khoa học là sự phát hiện bản chất sự vật, phát triển nhận thức khoa học về thế giới; hoặc là sáng tạo phương pháp mới và phương tiện kỹ thuật mới để làm biến đổi sự vật phục vụ cho mục tiêu LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 hoạt động của con người”. Hay “Nghiên cứu khoa học là sự tìm tòi, khám phá bản chất các sự vật và sáng tạo các giải pháp tác động trở lại sự vật, biến đổi sự vật theo mục đích sử dụng.
Nói cho cùng, nghiên cứu khoa học là một hoạt động xã hội nhằm thỏa mãn về nhu cầu nhận thức thế giới và cải tạo thế giới” (Vũ Cao Đàm, 2011, p. Theo Trần Tiến Khai (2014, p.13), “nghiên cứu khoa học không phải luôn luôn là những hoạt động phức tạp, mang tính kỹ thuật, thống kê và tính toán bằng phương tiện máy tính. Nghiên cứu vẫn có thể là những hành động đơn giản được thiết kế để trả lời những câu hỏi đơn giản liên quan đến các hoạt động hàng ngày của chính ta”. Tóm lại, có thể hiểu khái niệm nghiên cứu khoa học và một số khái niệm liên quan theo Luật Khoa học và Công nghệ Việt Nam năm 2013 như sau: Nghiên cứu khoa học là hoạt động khám phá, phát hiện, tìm hiểu bản chất, quy luật của sự vật, hiện tượng tự nhiên, xã hội và tư duy; sáng tạo giải pháp nhằm ứng dụng vào thực tiễn.
Đề tài khoa học và công nghệ (hay đề tài nghiên cứu khoa học) là nhiệm vụ KH&CN có nội dung chủ yếu là hoạt động khám phá, phát hiện, tìm hiểu bản chất, quy luật của sự vật, hiện tượng tự nhiên, xã hội và tư duy; sáng tạo giải pháp nhằm ứng dụng vào thực tiễn, bao gồm đề tài nghiên cứu cơ bản, đề tài nghiên cứu ứng dụng, đề tài triển khai thực nghiệm hoặc kết hợp nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng và triển khai thực nghiệm. Quản lý nghiên cứu khoa học được hiểu là quản lý quy trình từ khi đề xuất nhiệm vụ, xét duyệt, triển khai, đến khi nghiệm thu, kết thúc thực hiện một nhiệm vụ khoa học (hay đề tài khoa học - gồm đề tài nghiên cứu ứng dụng và phát triển công nghệ, đề tài nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn, đề tài trong các lĩnh vực khác và các dự án sản xuất thử nghiệm, dự án khoa học công nghệ (gọi chung là đề tài) có sử dụng ngân sách nhà nước và thực hiện theo quy định chung dưới sự quản lý của cơ quan chuyên môn về khoa học và công nghệ của Ủy ban nhân dân thành phố. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 Một số khái niệm khác như tuyển chọn, xét chọn được hiểu như sau: Tuyển chọn là việc lựa chọn tổ chức, cá nhân có năng lực và kinh nghiệm tốt nhất để thực hiện các nhiệm vụ KHCN theo đặt hàng của nhà nước thông qua việc xem xét, đánh giá các Hồ sơ đăng ký tham gia tuyển chọn theo những yêu cầu, tiêu chí quy định; tuyển chọn được áp dụng cho nhiệm vụ KHCN có nhiều tổ chức và cá nhân có khả năng tham gia thực hiện. Xét chọn là việc lựa chọn tổ chức, cá nhân thực hiện các nhiệm vụ KHCN theo đặt hàng của nhà nước thông qua việc xem xét, đánh giá Hồ sơ do tổ chức, cá nhân có năng lực và điều kiện cần thiết được giao trực tiếp chuẩn bị, trên cơ sở những yêu cầu, tiêu chí theo quy định đối với các loại nhiệm vụ KHCN sau: nhiệm vụ thuộc bí mật quốc gia, đặc thù của an ninh, quốc phòng; nhiệm vụ KHCN cấp bách; dự án SXTN; nhiệm vụ KHCN mà nội dung chỉ có một tổ chức KHCN hoặc cá nhân có đủ điều kiện về chuyên môn, trang thiết bị để thực hiện nhiệm vụ KHCN đó.3 Nhiệm vụ khoa học và công nghệ các cấp ở Việt Nam Nhiệm vụ KH&CN gồm cấp quốc gia, cấp Bộ, cấp tỉnh, cấp quận/huyện.
Quy trình quản lý nghiên cứu khoa học các cấp ở Việt Nam hoàn toàn giống nhau ở các công đoạn chính. Bao gồm: đề xuất nhiệm vụ và phê duyệt nhiệm vụ; triển khai thực hiện nhiệm vụ; kết thúc nhiệm vụ. Trong mỗi công đoạn đó có nhiều nội dung liên quan được triển khai tuỳ theo cấp của nhiệm vụ. Tuy nhiên, ở mỗi cấp có sự khác nhau về các nội dung như: cơ quan thẩm quyền phê duyệt nhiệm vụ, cơ quan quản lý và cấp kinh phí, nghiệm thu, ý nghĩa hay tầm ảnh hưởng của nhiệm vụ, thời gian triển khai, định mức kinh phí, yêu cầu cần đạt.
- Cơ quan phê duyệt nhiệm vụ KH&CN: Nhiệm vụ ở cấp nào thì do cơ quan thẩm quyền cấp đó phê duyệt nhiệm vụ. Nhiệm vụ cấp nhà nước do Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ phê duyệt, ký hợp đồng thực hiện (trừ nhiệm vụ khoa học và công nghệ đặc biệt do Quốc hội hoặc Thủ tướng Chính phủ quyết định). Nhiệm vụ cấp Bộ do Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan nhà nước khác ở Trung ương LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 phê duyệt và ký hợp đồng thực hiện nhiệm vụ. Nhiệm vụ cấp tỉnh do Chủ tịch UBND tỉnh phê duyệt và ký hợp đồng thực hiện nhiệm vụ (thường uỷ quyền cho Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ ký hợp đồng).
Nhiệm vụ cấp cơ sở (hoặc cấp quận/huyện) do Thủ trưởng cơ sở (Chủ tịch UBND quận/huyện) phê duyệt và ký hợp đồng thực hiện nhiệm vụ. - Cơ quan quản lý nhiệm vụ và cơ quan quản lý kinh phí thực hiện nhiệm vụ: Đối với nhiệm vụ cấp quốc gia, các cơ quan này thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ. Nhiệm vụ cấp Bộ do cơ quan thuộc Bộ quản lý (Bộ Khoa học và Công nghệ do Vụ Kế hoạch – Tổng hợp quản lý).