Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong cơ cấu kinh tế nông nghiệp Việt Nam, chăn nuôi chiếm tỷ trọng đáng kể và có tốc độ tăng trưởng nhanh nhằm đáp ứng nhu cầu thực phẩm của xã hội. Theo số liệu thống kê được tác giả trích dẫn từ Cục Chăn nuôi (Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn), tính đến ngày 01/10/2016, tổng đàn lợn cả nước đạt 29,075 triệu con (tăng 2,34% so với năm 2015), sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng đạt 3,664 triệu tấn (tăng 2,42% so với cùng kỳ). Cả nước ghi nhận khoảng 8,5 triệu hộ chăn nuôi quy mô gia đình và 18.000 trang trại chăn nuôi tập trung vào năm 2014. Sự phát triển gia tăng quy mô đàn gia súc kéo theo áp lực lớn đối với môi trường sinh thái nông thôn khi công tác xử lý chất thải chưa được đầu tư đồng bộ. Khảo sát của Cục Chăn nuôi chỉ ra rằng chỉ có khoảng 70% hộ chăn nuôi có chuồng trại (trong đó 10% đạt chuẩn hợp vệ sinh), tỷ lệ hộ sở hữu công trình khí sinh học (biogas) chỉ chiếm 8,7%, khoảng 23% hộ không xử lý chất thải vật nuôi và chỉ 0,6% cơ sở có cam kết bảo vệ môi trường. Nguồn thải không qua xử lý triệt để đã gây ô nhiễm môi trường đất, nước, không khí, đồng thời là nguyên nhân liên quan tới khoảng 80% các bệnh nhiễm trùng đường ruột, giun sán và bệnh ngoài da ở khu vực nông thôn.

Tại địa bàn huyện Ba Vì (thành phố Hà Nội), sự chuyển dịch sang mô hình kinh tế trang trại diễn ra mạnh mẽ nhưng quy hoạch tổng thể còn thiếu thống nhất. Tỷ lệ xử lý chất thải rắn chăn nuôi trên địa bàn huyện mới đạt 40 – 70% qua ủ phân bón, vẫn còn 30 – 60% thải trực tiếp ra tự nhiên; đối với chất thải lỏng, chỉ khoảng 30% được xử lý qua biogas, 30% qua hồ sinh học và 40% còn lại xả thẳng hoặc dùng trực tiếp để tưới tiêu, nuôi thủy sản. Trước thực trạng đó, việc khảo sát và đánh giá một mô hình cơ sở chăn nuôi cụ thể là cần thiết. Khóa luận tập trung nghiên cứu trang trại chăn nuôi lợn Nguyễn Thanh Lịch tại xã Ba Trại, huyện Ba Vì — một cơ sở nuôi gia công lợn giống quy mô lớn liên kết với Công ty Cổ phần Chăn nuôi C.P. Việt Nam.

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài gồm 2 nội dung:

  1. Đánh giá công tác quản lý môi trường, hiện trạng thu gom và xử lý chất thải tại trang trại chăn nuôi lợn Nguyễn Thanh Lịch, xã Ba Trại, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội.
  2. Đề xuất các biện pháp quản lý và thực hiện vệ sinh môi trường chăn nuôi lợn nhằm giảm thiểu tình trạng ô nhiễm môi trường, hạn chế ảnh hưởng đến sức khỏe con người và nguy cơ lây lan dịch bệnh.

Nhiệm vụ nghiên cứu đặt ra yêu cầu đánh giá đầy đủ, chính xác hiện trạng quản lý môi trường của trang trại; thu thập số liệu khách quan, trung thực; đồng thời xây dựng bộ câu hỏi điều tra phỏng vấn có tính khoa học và đại diện cho lực lượng lao động tại cơ sở.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Thực trạng công tác quản lý môi trường tại trang trại chăn nuôi lợn.
  • Phạm vi không gian: Trang trại chăn nuôi lợn Nguyễn Thanh Lịch, xã Ba Trại, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội (tổng diện tích mặt bằng 4.000 m²).
  • Phạm vi thời gian: Đề tài tiến hành thu thập số liệu thực địa và điều tra từ ngày 28/12/2017 đến ngày 28/4/2018; chuỗi số liệu thứ cấp về sản xuất chăn nuôi được thu thập trong giai đoạn 2014 – 2017.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận thiết lập cơ sở lý luận dựa trên các khái niệm chuyên ngành về môi trường (theo Luật Bảo vệ môi trường năm 2014) và quản lý môi trường (hệ thống biện pháp luật pháp, chính sách kinh tế, kỹ thuật, xã hội nhằm duy trì chất lượng sống và phát triển bền vững). Tác giả vận dụng các nền tảng lý thuyết bao gồm:

  • Cơ sở triết học: Phân tích mối quan hệ giữa con người, xã hội và tự nhiên qua ba nguyên lý về tính thống nhất vật chất của thế giới, sự phụ thuộc của mối quan hệ tự nhiên - con người vào trình độ phát triển của xã hội, và khả năng điều khiển có ý thức mối quan hệ này để phát triển bền vững theo 9 nguyên tắc của Hội nghị Rio-92.
  • Cơ sở khoa học, kỹ thuật và công nghệ: Khung phương pháp đánh giá tải lượng ô nhiễm, kỹ thuật quan trắc phân tích các thông số vật lý - hóa học - sinh học, ứng dụng công nghệ vi sinh trong xử lý chất thải (sản xuất khí sinh học biogas kỵ khí, sản xuất phân compost hiếu khí/kỵ khí).
  • Cơ sở kinh tế học môi trường: Phân tích các tác động ngoại ứng (tiêu cực và tích cực), tính chất hàng hóa công cộng của môi trường, và vai trò của các công cụ kinh tế (thuế tài nguyên, phí bảo vệ môi trường đối với chất thải rắn/nước thải, trợ cấp và hệ thống tiêu chuẩn ISO).
  • Cơ sở pháp lý: Áp dụng hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước Việt Nam: Luật Bảo vệ môi trường số 55/2014/QH13; Luật Đa dạng sinh học số 20/2008/QH12; Luật Thuế tài nguyên số 45/2009/QH12; Chỉ thị số 26-CT-TTg ngày 25/08/2014; Nghị định số 80/2014/NĐ-CP (về thoát nước và xử lý nước thải); Nghị định số 18/2015/NĐ-CP (về quy hoạch BVMT, ĐMC, ĐTM và kế hoạch BVMT); Nghị định số 19/2015/NĐ-CP; Nghị định số 117/2009/NĐ-CP (xử lý vi phạm pháp luật BVMT); Nghị định số 59/2007/NĐ-CP và Nghị định số 174/2007/NĐ-CP (về quản lý và phí BVMT đối với chất thải rắn); Thông tư số 39/2008/TT-BTC; Thông tư số 12/2006/TT-BTNMT; Thông tư số 07/2007/TT-BTNMT; Thông tư số 12/2011/TT-BTNMT (về quản lý chất thải nguy hại); Thông tư số 26/2011/TT-BTNMT; Thông tư số 01/2012/TT-BTNMT.
  • Tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật đối chiếu: QCVN 62-MT:2016/BTNMT (Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải chăn nuôi); QĐ 3733/2002/QĐ-BYT (Quy chuẩn vệ sinh lao động); QCVN 05:2013/BTNMT (Chất lượng không khí xung quanh); QCVN 06:2009/BTNMT (Một số chất độc hại trong không khí xung quanh).

Phương pháp nghiên cứu thực hiện trong khóa luận bao gồm:

  • Phương pháp thu thập tài liệu, số liệu thứ cấp: Tiếp nhận báo cáo giám sát môi trường định kỳ của trang trại năm 2017, hồ sơ thống kê chăn nuôi từ Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Ba Vì, cùng các số liệu thống kê khoa học chuyên ngành.
  • Phương pháp khảo sát thực địa: Trực tiếp quan sát, ghi chép nhật ký, chụp ảnh hiện trường chuồng trại, hệ thống thoát nước, hầm biogas và ao xử lý sinh học.
  • Phương pháp điều tra phỏng vấn xã hội học: Thiết kế phiếu khảo sát và tiến hành điều tra với cỡ mẫu n = 15 người tại trang trại, cơ cấu phỏng vấn gồm: 01 chủ trang trại, 01 tổ trưởng, 02 kỹ sư chăn nuôi, 01 quản lý và 10 công nhân trực tiếp lao động.
  • Phương pháp phân tích và xử lý số liệu: Lấy mẫu nước thải trước và sau hệ thống biogas, gửi phân tích các chỉ tiêu lý hóa tại phòng thí nghiệm Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên; tổng hợp số liệu định lượng, tính toán cân bằng nước và tải lượng ô nhiễm thông qua phần mềm Microsoft Excel.
  • Phương pháp chuyên gia: Tham vấn ý kiến chuyên môn của giảng viên hướng dẫn, cán bộ phụ trách môi trường huyện Ba Vì, công chức địa chính - môi trường xã Ba Trại và đội ngũ kỹ thuật của trang trại.

Nội dung chính theo từng chương

Phần 1: Mở đầu

Phần mở đầu tập trung làm rõ tính cấp thiết của đề tài trong bối cảnh chăn nuôi quy mô trang trại phát triển nhanh chóng nhưng hạ tầng bảo vệ môi trường chưa đáp ứng kịp thời. Tác giả trình bày thực trạng chăn nuôi gia công lợn tập trung, nhấn mạnh áp lực từ các dòng thải (phân, nước tiểu, nước rửa chuồng) đối với hệ sinh thái và sức khỏe dân cư nông thôn. Nội dung phần này thiết lập 2 mục tiêu nghiên cứu cụ thể, 3 yêu cầu thực hiện, cùng ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài trong việc cung cấp cơ sở dữ liệu cho các nghiên cứu môi trường chăn nuôi tại địa phương.

Phần 2: Tổng quan tài liệu

Chương này tổng thuật toàn diện cơ sở lý luận và thực tiễn liên quan đến quản lý môi trường chăn nuôi:

  • Hệ thống hóa các khái niệm, cơ sở triết học, khoa học công nghệ, pháp lý và kinh tế học môi trường.
  • Đánh giá hiện trạng công nghệ xử lý chất thải chăn nuôi trên thế giới, tập trung vào hai hướng chính: sản xuất khí sinh học (biogas) và sản xuất phân compost (hiếu khí, kỵ khí, kỹ thuật ủ nhanh trong 2 – 3 tuần tại Mỹ và Ấn Độ).
  • Phân tích bức tranh xử lý chất thải chăn nuôi tại Việt Nam: khoảng 500.000 hầm biogas quy mô hộ gia đình (<10 m³), dưới 100 hầm biogas thương mại dung tích 100 – 200 m³, và dưới 0,3% trong tổng số 17.000 trang trại lớn áp dụng hệ thống khí sinh học.
  • Khái quát tình hình quản lý môi trường chăn nuôi tại huyện Ba Vì: tốc độ phát triển cao nhưng quy hoạch thiếu đồng bộ; các nguồn thải lỏng, rắn phần lớn vẫn xả thải trực tiếp hoặc xử lý chưa đạt quy chuẩn; lực lượng quản lý môi trường cấp huyện và xã còn mỏng (cán bộ địa chính xã phải kiêm nhiệm công tác môi trường).

Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Tác giả xác định đối tượng nghiên cứu là thực trạng công tác quản lý môi trường; địa bàn tại trang trại Nguyễn Thanh Lịch, xã Ba Trại, huyện Ba Vì với thời gian thực hiện từ 28/12/2017 đến 28/4/2018. Chương này mô tả chi tiết 5 nội dung nghiên cứu chính và quy trình triển khai 5 phương pháp thu thập dữ liệu (thu thập thứ cấp, khảo sát thực địa, phỏng vấn bảng hỏi n = 15, phân tích phòng thí nghiệm kết hợp xử lý số liệu trên máy tính, và tham vấn chuyên gia).

Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Chương 4 trình bày toàn bộ số liệu khảo sát thực tế và phân tích thực nghiệm tại trang trại:

  • Giới thiệu trang trại: Thành lập năm 2007, diện tích 4.000 m², chăn nuôi lợn giống theo hình thức gia công cho Công ty Cổ phần Chăn nuôi C.P. Việt Nam. Quy mô lao động gồm 20 người (01 quản lý, 02 kỹ sư, 01 tổ trưởng, 01 cấp dưỡng, 15 công nhân), làm việc chia làm 3 ca. Chuồng trại gồm 01 chuồng bầu (14 dãy, mỗi dãy 83 ô), 03 chuồng đẻ (tổng 6 dãy, mỗi dãy 2 hàng, mỗi hàng 33 ô), chuồng cách ly, chuồng đực và chuồng hậu bị.
  • Diễn biến quy mô đàn: Năm 2014 có 800 nái sinh sản (19.200 lợn con xuất chuồng); năm 2015 đạt 1.000 nái (24.000 lợn con); năm 2016 đạt 1.150 nái (28.800 lợn con); năm 2017 đạt 1.200 nái (29.295 lợn con). Tổng đàn năm 2017 gồm 1.337 con (1.200 lợn nái, 120 nái hậu bị, 17 lợn đực).
  • Hiện trạng phát sinh chất thải:
    • Chất thải rắn: Phát sinh từ chuồng trại ước tính 3,5 kg phân/nái/ngày, tương đương 4.200 kg/ngày (4,2 tấn/ngày, khoảng 126 tấn/tháng). Bao bì thức ăn chăn nuôi khoảng 8 kg/ngày (0,18 tấn/tháng). Rác thải sinh hoạt từ khu nhà ăn và phòng làm việc phát sinh 6 kg/ngày (0,24 tấn/tháng). Tổng lượng chất thải rắn là 126,42 tấn/tháng.
    • Chất thải lỏng: Nước uống trung bình 6,4 lít/con/ngày (giai đoạn <30 kg dùng 2,5 lít/ngày; >30 kg dùng 7,5 lít/ngày). Nước tiểu bình quân 1,83 lít/con/ngày (lợn <10 kg: 0,3 – 0,7 lít/ngày; 15 – 45 kg: 0,7 – 2 lít/ngày; >45 kg: 2 – 4 lít/ngày). Nước tắm và rửa chuồng bình quân 15 lít/con/ngày (khoảng 19 m³/ngày cho cả đàn). Tổng lượng nước thải phát sinh tính trên mỗi đầu lợn là 16,83 lít/con/ngày; toàn trại thải ra 22,5 m³/ngày (tương đương 675 m³/tháng). Nước thải sinh hoạt phát sinh khoảng 2 m³/ngày.
  • Quy trình xử lý dòng thải: Nước thải chăn nuôi gom về 01 hầm biogas kỵ khí, sau đó dẫn qua hệ thống máng trượt để làm thoáng tăng oxy hòa tan (DO), chảy tiếp vào hồ thủy sinh xử lý sinh học rồi mới xả ra môi trường tiếp nhận. Nước thải sinh hoạt xử lý qua bể tự hoại 3 ngăn rồi dẫn về hồ thủy sinh. Phân khô được gom đóng bao bán cho người dân bón cây hoặc nuôi cá. Rác thải sinh hoạt hữu cơ tận dụng chăn nuôi, rác vô cơ gom đốt tại chỗ.
  • Phân tích chất lượng môi trường:
    • Môi trường nước thải: Kết quả phân tích mẫu tại Đại học Nông Lâm Thái Nguyên cho thấy sau biogas, chỉ số BOD5 giảm từ 150,4 mg/L xuống 57,12 mg/L; COD đạt 81,6 mg/L; pH chuyển từ 8,29 về 6,55; NO3- giảm từ 2,32 mg/L xuống 0,3 mg/L; P tổng số giảm từ 4,02 mg/L xuống 2,4 mg/L; TSS sau xử lý là 36 mg/L. Các chỉ tiêu pH, BOD5 nằm trong giới hạn cho phép Cột B của QCVN 62-MT:2016/BTNMT.
    • Môi trường không khí: Đo đạc tại môi trường làm việc (K1, K2, K3) ghi nhận bụi lơ lửng 1,01 – 1,08 g/m³ (QĐ 3733: 1 – 4 g/m³); SO2: 0,012 – 0,015 g/m³; NO2: 0,009 – 0,015 g/m³; H2S không phát hiện; NH3: 21,3 – 23,6 g/m³ (tiêu chuẩn 15 g/m³). Không khí xung quanh cổng trại (K4) có nồng độ bụi lơ lửng 251 µg/m³, SO2 31 µg/m³, NO2 29 µg/m³, NH3 185,3 µg/m³, đều nằm trong giới hạn cho phép của QCVN 05:2013/BTNMT và QCVN 06:2009/BTNMT.
  • Nhận thức của người lao động: 93,3% nhận thức vệ sinh chuồng trại có ích cho hiệu quả chăn nuôi; 13,3% nhận thấy môi trường trại ảnh hưởng tới sức khỏe; 100% tham gia tổng vệ sinh định kỳ; 86,7% có ý thức vệ sinh chuồng trại; 73,3% cho rằng cần tăng cường thu gom rác thải.
  • Tồn tại và nguyên nhân: Máy ép tách phân bị hỏng ngưng hoạt động lâu ngày khiến toàn bộ phân tươi đi thẳng vào hầm biogas gây quá tải, sục bùn ra ngoài bốc mùi hôi; thiết kế gầm chuồng đẻ và chuồng bầu quá thấp, độ dốc rãnh thoát thải nhỏ hẹp gây ứ đọng phân tiểu; hệ thống cống thoát chung hẹp gây tràn nước bẩn khi mưa lớn; thiếu nhân lực chuyên môn về kỹ thuật môi trường; khí biogas phát sinh dư thừa chưa tận dụng hết phải xả trực tiếp ra không khí.
  • Nhóm giải pháp: Thiết lập bộ phận môi trường và tuyển dụng kỹ sư môi trường chuyên trách; hoàn thiện nội quy xử phạt và bồi thường thiệt hại môi trường; tăng cường kiểm tra giám sát; đẩy mạnh tập huấn phân loại rác thải; sửa chữa máy ép phân, cải tạo cống rãnh chuồng trại và đầu tư máy phát điện chạy khí biogas.

Phần 5: Kết luận và kiến nghị

Tổng kết các phát hiện cốt lõi về quy mô chăn nuôi, tải lượng ô nhiễm phát sinh và năng lực xử lý của các công trình thực tế. Tác giả đưa ra kiến nghị đối với chính quyền địa phương (tăng cường thanh tra, hỗ trợ cán bộ kỹ thuật) và chủ cơ sở (đầu tư sửa chữa máy móc tách phân, khắc phục lỗi thiết kế cống rãnh) nhằm kiểm soát ô nhiễm chăn nuôi.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã tổng hợp và đưa ra các số liệu định lượng chi tiết về dòng vật chất phát sinh từ hoạt động của trang trại lợn quy mô 1.200 nái sinh sản:

TT Loại chất thải Nguồn phát sinh Trạng thái tồn tại Khối lượng (tấn/tháng)
1 Phân thải Chuồng trại chăn nuôi Rắn 126,00
2 Bao bì thải Nguyên liệu, cám chăn nuôi Rắn 0,18
3 Rác sinh hoạt Khu vận hành, nhà ăn công nhân Rắn 0,24
Tổng Chất thải rắn 126,42

Về chất thải lỏng, tổng lưu lượng nước thải chăn nuôi của toàn trại đạt 22,5 m³/ngày (tương đương 675 m³/tháng), cộng với 2 m³/ngày nước thải sinh hoạt. Kết quả quan trắc chất lượng nước thải trước và sau xử lý bằng hệ thống biogas được thể hiện qua bảng sau:

STT Chỉ tiêu phân tích Đơn vị Mẫu nước trước xử lý Mẫu nước sau xử lý biogas QCVN 62-MT:2016/BTNMT (Cột B)
1 pH - 8,29 6,55 5,5 – 9,0
2 TSS mg/L 1,80 36,00 150
3 COD mg/L 81,60 81,60 300
4 BOD5 mg/L 150,40 57,12 100
5 NO3- mg/L 2,32 0,30 -
6 P tổng số mg/L 4,02 2,40 6,0

Về các giải pháp tác giả đề xuất:

  • Về mặt tổ chức: Thành lập bộ phận chuyên trách theo dõi môi trường tại trang trại, bố trí nhân sự là kỹ sư môi trường có năng lực để thực hiện việc giám sát, quan trắc và lập báo cáo môi trường định kỳ nộp các cơ quan quản lý.
  • Về mặt thể chế, chính sách: Ban hành nội quy môi trường gắn liền chế tài xử phạt và bồi thường thiệt hại; phối hợp chặt chẽ giữa cơ sở với Sở Tài nguyên và Môi trường cùng UBND xã Ba Trại.
  • Về mặt kỹ thuật: Sửa chữa, đưa máy ép tách nước phân lợn vào hoạt động để giảm tải cho hầm biogas; cải tạo nâng cao gầm chuồng đẻ và chuồng bầu, sửa đổi độ dốc rãnh thu gom nước thải; đầu tư công nghệ tận thu khí sinh học để phát điện phục vụ sinh hoạt và sản xuất thay vì xả bỏ.
  • Về công tác thông tin, tuyên truyền: Tổ chức các lớp tập huấn kỹ thuật chăn nuôi tiết kiệm nước, vệ sinh an toàn sinh học và phân loại rác thải cho 100% công nhân trang trại.

Đóng góp của khóa luận: Tác giả đã cung cấp một trường hợp nghiên cứu cụ thể với bộ dữ liệu định lượng thực tế về cân bằng nước uống, nước tiểu, nước rửa chuồng và khối lượng phát sinh phân thải tại một trang trại chăn nuôi công nghiệp ở vùng bán sơn địa Hà Nội. Nghiên cứu chỉ rõ các khiếm khuyết kỹ thuật xây dựng dân dụng (độ dốc cống rãnh, chiều cao gầm chuồng sàn) và việc thiếu vắng nhân sự chuyên ngành môi trường tại chỗ là những nguyên nhân chính khiến hệ sinh thái xử lý chất thải bị giảm hiệu suất, tạo cơ sở thực tế cho các nghiên cứu cải tạo trang trại tương tự.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận thể hiện một số hạn chế theo nội dung văn bản:

  • Mẫu điều tra xã hội học còn hạn chế về quy mô: Tác giả chỉ tiến hành phỏng vấn nội bộ 15 người làm việc trong trang trại (chủ trại, kỹ sư, quản lý, công nhân), chưa thực hiện khảo sát các hộ dân sống tại khu vực lân cận để đánh giá mức độ ảnh hưởng của mùi hôi và nguy cơ lây lan ô nhiễm nguồn nước ngầm đối với cộng đồng xung quanh.
  • Dữ liệu quan trắc nước thải chưa bao quát toàn bộ quy trình: Nghiên cứu mới chỉ lấy mẫu đơn phân tích tại 2 điểm (trước và sau biogas), chưa tiến hành lấy mẫu và phân tích hiệu quả xử lý tại hệ thống máng trượt oxy hóa và hồ thủy sinh trước khi thải ra nguồn tiếp nhận ngoài tự nhiên.
  • Dữ liệu không khí trong nhà chuồng cho thấy chỉ tiêu NH3 vượt tiêu chuẩn vệ sinh lao động (21,3 – 23,6 g/m³ so với mức 15 g/m³ của QĐ 3733/2002/QĐ-BYT), tuy nhiên tác giả chưa đi sâu phân tích nguyên nhân và giải pháp công nghệ xử lý khí thải chuồng kín.

Hướng nghiên cứu mở rộng:

  • Nghiên cứu đánh giá toàn diện chuỗi công trình Biogas - Máng trượt - Hồ thủy sinh, xác định hiệu suất làm sạch nitơ và phốt pho qua các mùa trong năm.
  • Nghiên cứu mô hình ứng dụng máy phát điện chạy khí sinh học công suất vừa nhằm tận thu toàn bộ lượng khí metan dư thừa tại trang trại, kết hợp tính toán hiệu quả kinh tế và giảm phát thải khí nhà kính.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu tham khảo hữu ích cho các nhóm đối tượng:

  • Sinh viên chuyên ngành Khoa học Môi trường, Quản lý Môi trường, Kỹ thuật Môi trường và Chăn nuôi - Thú y khi thực hiện đồ án, khóa luận tốt nghiệp về chủ đề đánh giá tác động môi trường hoặc quản lý chất thải nông nghiệp.
  • Chủ các trang trại chăn nuôi lợn tập trung (quy mô từ 500 đến 1.500 nái): Cung cấp các thông số tham khảo về định mức sử dụng nước (nước uống, nước tắm, nước cọ rửa chuồng), lượng phân thải thực tế, cũng như bài học kinh nghiệm trong thiết kế độ dốc rãnh thoát sàn và quản lý vận hành máy tách phân.
  • Cán bộ quản lý môi trường cấp xã và huyện: Tài liệu cung cấp cơ sở thực tiễn phục vụ công tác thanh tra, giám sát môi trường định kỳ tại các cơ sở chăn nuôi gia công trên địa bàn.

Nội dung đáng tham khảo nhất trong công trình là phương pháp tính toán định mức phát sinh chất thải lỏng (cân bằng lượng nước uống, nước tiểu, nước vệ sinh trên từng đầu lợn) và sơ đồ công nghệ kết hợp hầm biogas kỵ khí với máng trượt thoáng khí và hồ thủy sinh.

Câu hỏi thường gặp

1. Quy mô chăn nuôi và năng lực sản xuất của trang trại Nguyễn Thanh Lịch tại thời điểm nghiên cứu là bao nhiêu? Trang trại có diện tích 4.000 m², chăn nuôi lợn giống theo hợp đồng gia công với Công ty Cổ phần Chăn nuôi C.P. Việt Nam. Tính đến năm 2017, trang trại duy trì đàn lợn gồm 1.337 con (trong đó có 1.200 lợn nái sinh sản, 120 lợn nái hậu bị, 17 lợn đực), sản xuất và xuất bán 29.295 lợn con ra thị trường.

2. Tổng lượng chất thải rắn và nước thải phát sinh hàng tháng tại trang trại là bao nhiêu? Mỗi tháng trang trại phát sinh khoảng 126,42 tấn chất thải rắn (gồm 126 tấn phân lợn, 0,18 tấn vỏ bao bì cám và 0,24 tấn rác thải sinh hoạt). Đối với chất thải lỏng, lượng nước thải chăn nuôi phát sinh khoảng 22,5 m³/ngày (tương đương 675 m³/tháng, với định mức thải bình quân 16,83 lít/con/ngày), cùng khoảng 2 m³/ngày nước thải sinh hoạt của 20 nhân viên.

3. Công nghệ xử lý nước thải chăn nuôi tại trang trại được vận hành theo quy trình nào? Nước thải chăn nuôi từ các dãy chuồng được thu gom vào 01 hầm biogas kỵ khí nhằm phân hủy hợp chất hữu cơ và thu hồi khí đốt. Nước sau biogas chảy qua hệ thống máng trượt để tiếp xúc với không khí làm tăng lượng oxy hòa tan (DO), sau đó dẫn vào hồ thủy sinh để tiếp tục lắng đọng và xử lý sinh học trước khi xả ra môi trường tiếp nhận.

4. Những nguyên nhân kỹ thuật nào khiến công tác xử lý môi trường tại trang trại gặp trục trặc? Nguyên nhân gồm: máy ép tách phân lợn bị hỏng khiến toàn bộ phân tươi chảy vào hầm biogas gây quá tải và sục bùn ra ngoài; thiết kế gầm chuồng đẻ và chuồng bầu quá thấp kết hợp độ dốc rãnh thoát nước nhỏ làm ứ đọng phân, nước tiểu; kích thước cống thoát nước chung nhỏ hẹp dẫn đến tình trạng nước thải tràn ra khuôn viên khi có mưa lớn hoặc cọ rửa chuồng.

5. Kết quả khảo sát nhận thức của công nhân trang trại về công tác vệ sinh môi trường ghi nhận tỷ lệ ra sao? Kết quả phỏng vấn 15 nhân sự cho thấy: 93,3% công nhân khẳng định vệ sinh chuồng trại có ích cho hiệu quả chăn nuôi; 100% người được hỏi tham gia các đợt tổng vệ sinh của trại; 86,7% tự đánh giá có ý thức vệ sinh tốt; tuy nhiên 73,3% công nhân cho rằng trang trại cần chú trọng hơn nữa công tác thu gom và xử lý rác thải.

Kết luận

Khóa luận của tác giả Dương Thị Kim Hà đã phản ánh đầy đủ thực trạng công tác quản lý và kiểm soát ô nhiễm môi trường tại một trang trại chăn nuôi lợn quy mô 1.200 nái sinh sản tại xã Ba Trại, huyện Ba Vì. Đề tài cung cấp các số liệu định lượng chi tiết về tải lượng chất thải rắn (126,42 tấn/tháng) và nước thải (675 m³/tháng), đồng thời phân tích hiệu quả xử lý thực tế của hệ thống biogas kết hợp máng trượt và hồ sinh học. Các hạn chế về hạ tầng xây dựng và sự cố máy tách phân được chỉ ra là cơ sở xác đáng để tác giả đề xuất nhóm giải pháp đồng bộ về tổ chức, quản lý và kỹ thuật công nghệ nhằm hướng tới chăn nuôi an toàn sinh học và bảo vệ môi trường nông thôn.