chương I, Nghị định số 59/2007/NĐ-CP của Chính phủ: Về quản lý chất thải rắn). Hiện trạng phát sinh rác thải sinh hoạt tại Việt Nam 1. Các nguồn phát sinh rác thải sinh hoạt Chất thải rắn được phát sinh từ nhiều nguồn khác nhau, có thể phân ra các nguồn phát sinh chất thải rắn như sau: - Từ sinh hoạt: Phát sinh từ các hộ gia đình, các biệt thự và các căn hộ chung cư. Thành phần rác thải này bao gồm: thực phẩm dư thừa, bao bì hàng hoá (bằng giấy, gỗ, carton, plastic, thiếc, nhôm,.), đồ dùng điện tử, vật dụng hư hỏng (đồ gia dụng, bóng đèn, đồ nhựa.), chất thải độc hại như chất tẩy rửa, bột giặt, chất tẩy trắng, thuốc diệt côn trùng.
- Từ khu thương mại: Phát sinh từ các nhà kho, nhà hàng, chợ, khách sạn, các trạm sửa chữa, bảo hành và dịch vụ. Các loại chất thải từ khu thương mại bao gồm: Giấy, nhựa, thực phẩm thừa, thuỷ tinh, kim loại, đồ điện gia dụng và một phần chất thải độc hại. - Từ cơ quan, công sở: Phát sinh từ trường học, bệnh viện, văn phòng Cô quan. Thành phần bao gồm: Giấy, nhựa, thuỷ tinh, kim loại.
Riêng rác y tế phát sinh từ các hoạt động khám bệnh, điều trị bệnh và nuôi bệnh nhân trong các bệnh viện và cơ sở y tế. Vì vậy rác y tế có thành phần phức tạp gồm các loại bệnh phẩm, kim tiêm, chai lọ chứa thuốc, các loại thuốc quá hạn sử dụng. 5 - Từ hoạt động giao thông và các công trình xây dựng: Phát Sinh hoạt động xây dựng và tháo dỡ công trình xây dựng, giao thông vận tải như: gỗ, sắt thép, bê tông, gạch ngói. - Từ dịch vụ công cộng đô thị: Đó là các hoạt động dọn rác vệ sinh đường phố, công viên, khu vui chơi giải trí.
Thành phần bao gồm: rác, cành cây cắt tỉa, giấy vụn, xác động vật chết. - Từ hoạt động công nghiệp: Phát sinh từ các hoạt động sản xuất của các xí nghiệp, nhà máy sản xuất công nghiệp (sản xuất vật liệu xây dựng, nhà máy hoá chất, nhà máy lọc dầu, nhà máy chế biến thực phẩm. Thành phân của chúng bao gồm: vật liệu phế thải không độc hại và các chất thải độc hại. Phần rác thải không độc hại có thể đổ bỏ chung với rác thải hộ dân.
Đối với rác thải công nghiệp độc hại phải được quản lý và xử lý riêng. - Từ hoạt động nông nghiệp: Phát sinh từ đồng ruộng, ao vườn, chuông trại. Các loại chất thải bao gồm phân rác, rơm rạ, thức ăn thừa. Nguồn phát sinh chất thải sinh hoạt (Nguồn: Trần Hiếu Nhuệ, 2001) 6 1.
Thành phần chất thải rắn Chất thải rắn nói chung là một hỗn hợp không đồng nhất và phức tạp của nhiều vật chất khác nhau. Tuỳ theo cách phân loại, mỗi một loại CTR có một số thành phần đặc trưng nhất định. Thành phần của CTR đô thị là bao quát hơn tất cả vì nó bao gồm mọi thứ CTR từ nhiều nguồn gốc phát sinh khác nhau (sinh hoạt, công nghiệp, y tế, xây dựng, chăn nuôi, xác chết, rác đường phố). Xác định thành phần của CTR có ảnh hưởng rất lớn đến sự lựa chọn phương pháp xử lý, thu hồi và tái chế, hệ thống, phương pháp và quy trình thu gom.
- Khi phân tích thành phần của chất thải, mẫu được lấy ra từ các tuyên xe thu gom rác hàng ngày, để có độ chính xác cao mẫu lấy khoảng 90kg Bảng 1.1: Thành phần của chất thải rắn Rác thải hữu cơ Rác thải vô cơ Giấy, Giấy carton, bìa cứng Thuỷ tinh Nhựa Vỏ hộp Hàng dệt Nhôm Cao su Các kim loại khác Thực phẩm Tro, các chất bẩn Gỗ Đất cát, gạch ngói vỡ Da Cành cây, cỏ, lá Nguồn: Integrated Solid Waste Management * Các đặc trưng điển hình của chất thải rắn như sau: - Hợp phần có nguồn gốc hữu cơ cao (50,27% - 62,22%); - Chứa nhiều đất cát, sỏi đá vụn, gạch vỡ; - Độ ẩm cao, nhiệt trị thấp (900kcal/kg). Những lợi ích và tác hại của chất thải rắn 1. Lợi ích của chất thải rắn Các chất thải có thể phân hủy sinh học được (hay còn gọi là rác hữu cơ) thường là những loại rác thải có nguồn gốc từ thực vật, động vật và có thể bị phân hủy trong môi trường tự nhiên bởi các vi sinh vật. Các loại rác thải có thể phân hủy sinh học có khả năng tái chế lại để sản xuất năng lượng điện bằng công nghệ chôn lấp rác để thu khí gas chạy máy phát điện hoặc sản xuất phân bón bằng công nghệ ủ vi sinh (composting).
Việc tái chế chất thải hữu cơ bằng một hoặc cả hai phương pháp này đều góp phần đáng kể làm giảm tổng lượng phát thải các loại khí nhà kính ra môi trường tự nhiên và do đó góp phần kiểm soát hiện tượng nóng lên toàn cầu. Nhiều loại rác thải không thể phân hủy sinh học thường có khả năng tái chế được hay tái sử dụng được như giấy, nhựa, thủy tinh, kim loại. Ngay kể cả một số loại rác thải được xem là có tính nguy hại như dâu bôi trơn, thiết bị điện/điện tử, pin ắc quy. nếu được thu gom và đem bán cho các cơ sở tái chế có công nghệ tái chế an toàn và phù hợp với môi trường thì chúng ta lại có thể tách riêng các chất/thành phần nguy hại và đem tái chế những thành phần không nguy hại thành nguồn nguyên liệu đầu vào phục vụ sản xuất, phát triển kinh tế - xã hội.
Do các tính năng có thể sử dụng lại hay có thể tái chế được của những thành phần không độc hại nên chất thải sinh hoạt nếu được quản lý tốt và được phân loại ngay từ nguồn phát sinh thì sẽ trở thành nguồn tài nguyên quy giá phục vụ sản xuất và đời sống. Chính vì vậy, các nước phát triển thường đẩy mạnh những hoạt động nhằm tận dụng tối đa khả năng tái chế và tái sử dụng lại chất thải để tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên như: thực hiện giảm thiểu lượng rác thải phát sinh, phân loại rác ngay tại nguồn phát sinh (từ các hộ gia đình, công sở, cơ sở sản xuất/dịch vụ), thu gom rác thải một cách có tổ chức, tái chế chất thải 8 thành các loại sản phẩm tiêu dùng khác nhau hay tái sử dụng chất thải cho các mục tiêu sản xuất/phát triển kinh tế - xã hội, tiếp thị các sản phẩm tái chế, khuyên khích sử dụng các nguồn nguyên liệu từ rác tái chế. Thậm chí, ở nhiều nước tiên tiến, các hoạt động nhằm giảm thiểu phát sinh chất thải và tái sử dụng, tái chế chất thải còn được pháp lý hóa bằng các văn bản luật, trong đó có quy định rất cụ thể về lượng, loại rác thải được phép bỏ, cách thải có chất thải, những loại chất thải nào buộc phải tái chế, tái sử dụng. Tác hại của chất thải rắn đối với môi trường và sức khỏe con người 1.
Đối với môi trường đất Rác thải sinh hoạt nằm rải rác khắp nơi không được thu gom đều được lưu giữ lại trong đất, một số loại chất thải khó phân hủy như túi nilon, vỏ lon, hydrocacbon. nằm lại trong đất làm ảnh hưởng tới môi trường đất: tha cấu đất, đất trở nên khô cằn, các vi sinh vật trong đất có thể bị chết. Nhiều loại chất thải như xỉ than, vôi vữa đổ xuống đất làm cho đất bị đóng cứng, khả năng thấm nước, hút nước kém, đất bị thoái hóa. Đối với môi trường nước Lượng rác thải rơi vãi nhiều, ứ đọng lâu ngày, khi gặp mưa to sẽ theo dòng nước chảy, các chất độc hòa tan trong nước, qua công tranh, ra ao hồ, sông ngòi, gây ô nhiễm nguồn nước mặt tiếp nhận.
Rác thải không thu gom hết ứ đọng trong các ao, hồ là nguyên nhân gây mất vệ sinh và ô nhiễm các thủy vực. Khi các thủy vực bị ô nhiễm hoặc chứa nhiều rác thì có nguy cơ ảnh hưởng đến các loài thủy sinh vật, do hàm lượng oxy hòa tan trong nước giảm, khả năng nhận ánh sáng của các trang nước cũng giảm, dẫn đến ảnh hưởng tới khả năng quang hợp của thực vật thủy sinh và làm giảm sinh khối của các thủy vực. 9 Ở các bãi chôn lấp rác chất ô nhiễm trong nước rác là tác nhân gây ô nhiễm nguồn nước ngầm trong khu vực và các nguồn nước ao hồ, sông suối lân cận. Tại các bãi rác, nếu không tạo được lớp phủ bảo đảm hạn chế tối đa nước mưa thấm qua thì cũng có thể gây ô nhiễm nguồn nước mặt.
Đối với môi trường đất Tại các trạm bãi trung chuyển rác xen kẽ khu vực dân cư là nguồn gây ô nhiễm môi trường không khí do mùi hôi từ rác, bụi cuốn lên khi xúc rác, bụi khói, tiếng ồn và các khí thải độc hại từ các xe thu gom, vận chuyển rác. Tại các bãi chôn lấp chất thải rắn vấn đề ảnh hưởng đến môi trường khí là mùi hôi thối, mùi khí metan, các khí độc hại từ các chất thải nguy hại. Đối với sức khỏe con người Tác hại của rác thải lên sức khỏe con người thông qua ảnh hưởng của chúng lên các thành phần môi trường. Môi trường bị ô nhiễm tất yếu sẽ tác động đến sức khỏe con người thông qua chuỗi thức ăn.
Tại các bãi rác, nếu không áp dụng các kỹ thuật chôn lấp và xử lý thích hợp, cứ đổ dồn rồi san ủi, chôn lấp thông thường, không có lớp lót, lớp phủ thì bãi rác trở thành nơi phát sinh ruồi, muỗi, là mầm mống lan truyền dịch bệnh, chưa kể đến chất thải độc hại tại các bãi rác có nguy cơ gây các bệnh hiểm nghèo đối với cơ thể người khi tiếp xúc, đe dọa đến sức khỏe cộng đồng xung quanh. Rác thải còn tồn đọng ở các khu vực, ở các bãi rác không hợp vệ sinh là nguyên nhân dẫn đến phát sinh các ổ dịch bệnh, là nguy cơ đe dọa đến sức khỏe con người. Theo nghiên cứu của tổ chức y tế thế giới (WHO), tỷ lệ người mắc bệnh ung thư ở các khu vực gần bãi chôn lấp rác thải chiếm tới 15,250 dân số. Ngoài ra, tỷ lệ mắc bệnh ngoại khoa, bệnh viêm nhiễm ở phụ nữ do nguồn nước ô nhiễm chiếm tới 25 %.
10 Rác thải sinh hoạt nếu không được thu gom, vận chuyển đến nơi xử lý, thu gom không hết, vận chuyển rơi vãi dọc đường, tồn tại các bãi rác nho lộ thiên. đều là những hình ảnh gây mất vệ sinh môi trường và làm ảnh hưởng đến vẻ mỹ quan đường phố, thôn xóm. Các phương pháp xử lý chất thải rắn 1.