Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Phạm Quang Linh thực hiện tại Khoa Tài nguyên và Môi trường, Học viện Nông nghiệp Việt Nam (năm 2022) thuộc chuyên ngành Khoa học Môi trường. Đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng quản lý và ô nhiễm môi trường phát sinh từ các điểm tập kết rác thải sinh hoạt nông thôn ngoại thành, lấy trường hợp điển hình tại bãi rác Phùng Xá, huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội.

Về bối cảnh thực tiễn, nghiên cứu dẫn số liệu từ Báo cáo của Tổng cục Môi trường năm 2017 cho thấy cả nước có 660 bãi chôn lấp chất thải rắn với lượng tiếp nhận khoảng 20.200 tấn/ngày, nhưng chỉ 30% trong số đó được xếp loại hợp vệ sinh có phủ đất hàng ngày. Đa số các bãi rác nông thôn thiếu máy đầm nén, hệ thống thu gom và xử lý nước rỉ rác, hệ thống quan trắc và thiếu hụt kinh phí vận hành. Riêng tại thành phố Hà Nội, lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh trung bình mỗi ngày vượt mức 6.000 tấn và tăng trưởng bình quân khoảng 5% mỗi năm. Hệ thống xử lý của thành phố phụ thuộc vào ba cơ sở chính gồm Khu liên hợp xử lý chất thải Nam Sơn (huyện Sóc Sơn), Khu xử lý chất thải rắn Xuân Sơn (thị xã Sơn Tây) và Khu xử lý chất thải Cầu Diễn (quận Nam Từ Liêm).

Tại địa bàn xã Phùng Xá (huyện Mỹ Đức), bãi rác tập trung của xã được quy hoạch làm điểm trung chuyển để Công ty Cổ phần Đầu tư và phát triển công nghệ cao Minh Quân vận chuyển về Khu xử lý chất thải rắn Xuân Sơn. Tuy nhiên, tình trạng vận chuyển không diễn ra định kỳ dẫn đến ùn ứ hàng chục nghìn tấn rác, gây ô nhiễm mùi, phát sinh ruồi muỗi và buộc phải xử lý bằng cách đốt lộ thiên tại chỗ, gây tác động tiêu cực trực tiếp đến môi trường sống và hoạt động sản xuất nông nghiệp của cư dân khu vực giáp ranh.

Mục tiêu chung của đề tài là tìm hiểu hiện trạng quản lý môi trường, từ đó đánh giá công tác quản lý môi trường tại bãi rác Phùng Xá, huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội. Các mục tiêu cụ thể và nhiệm vụ nghiên cứu được văn bản xác định gồm:

  1. Tìm hiểu hiện trạng tiếp nhận rác tại bãi rác Phùng Xá và biện pháp xử lý rác tại đây.
  2. Đánh giá hiện trạng môi trường tại địa điểm nghiên cứu và những ảnh hưởng của bãi rác tới môi trường xung quanh.
  3. Tìm hiểu công tác quản lý môi trường tại bãi rác Phùng Xá.
  4. Đề xuất các biện pháp quản lý môi trường đối với bãi rác Phùng Xá.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Bãi rác Phùng Xá và các hộ dân chịu ảnh hưởng/tác động bởi hoạt động của bãi rác.
  • Phạm vi không gian: Khu vực bãi rác và khu dân cư lân cận thuộc thôn Tân Độ (xã Xuy Xá) và thôn Thượng (xã Phùng Xá), huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội.
  • Phạm vi thời gian: Số liệu khảo sát và thu thập được triển khai từ tháng 3 đến tháng 6 năm 2022.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận thiết lập cơ sở lý thuyết dựa trên các khái niệm chuyên ngành và khung văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước Việt Nam về quản lý chất thải rắn (CTR):

  • Các khái niệm về chất thải rắn thông thường, chất thải rắn nguy hại, hoạt động thu gom, vận chuyển, chôn lấp hợp vệ sinh và xử lý chất thải rắn được trích xuất theo quy định tại Điều 3 Chương I Nghị định số 59/2007/NĐ-CP của Chính phủ.
  • Khái niệm rác thải sinh hoạt quy định tại Khoản 3 Điều 3 Nghị định số 38/2015/NĐ-CP của Chính phủ về quản lý chất thải và phế liệu.
  • Hoạt động quản lý chất thải theo Điều 3 Luật Bảo vệ môi trường 2014.
  • Các yêu cầu kỹ thuật đối với điểm tập kết, trạm trung chuyển chất thải rắn sinh hoạt theo Phụ lục II ban hành kèm theo Nghị định số 40/2019/NĐ-CP.
  • Định hướng quản lý tổng hợp chất thải rắn theo Quyết định số 419/QĐ-TTg ngày 07/05/2018 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt điều chỉnh Chiến lược quốc gia về quản lý tổng hợp chất thải rắn đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2050.
  • Các quy định tại địa phương: Quyết định số 96/QĐ-UBND về phê duyệt kế hoạch sử dụng đất năm 2017 huyện Mỹ Đức; Quyết định số 54/2016/QĐ-UBND của UBND thành phố Hà Nội về giá dịch vụ thu gom, vận chuyển rác thải sinh hoạt.

Về kinh nghiệm quốc tế và quy trình công nghệ, tác giả tổng thuật mô hình quản lý 3R và bãi rác ngoài khơi Pulau Semakau của Singapore; kinh nghiệm phân loại rác tại nguồn và mạng lưới 1.915 xí nghiệp thiêu hủy rác của Nhật Bản; cùng công nghệ ủ sinh học composting "DANO System" và lò đốt công suất 250 tấn/ngày tại Thái Lan.

Phương pháp nghiên cứu thực tế gồm:

  • Phương pháp thu thập thông tin thứ cấp: Kế thừa tài liệu, số liệu thống kê từ Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Mỹ Đức, UBND xã Phùng Xá, văn bản quy phạm pháp luật và các công bố khoa học của các tác giả Trần Hiếu Nhuệ (2001), Trần Thị Mỹ Diệu (2016), Nguyễn Phúc Thanh và cộng sự (2010).
  • Phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp: Lập phiếu điều tra xã hội học và phỏng vấn trực tiếp $n = 30$ hộ gia đình, cá nhân phân bố quanh khu vực bãi rác, trong đó có 24 hộ thuộc thôn Tân Độ (xã Xuy Xá) và 6 hộ thuộc thôn Thượng (xã Phùng Xá). Mẫu khảo sát phân loại theo vị trí khoảng cách tới bãi rác, độ tuổi và ngành nghề sản xuất.
  • Phương pháp khảo sát thực địa: Quan sát, ghi nhận thực tế cấu trúc xây dựng bãi rác, hiện trạng lưu giữ chất thải, nước rỉ rác, khoảng cách với trục đường giao thông, sông Đáy và đồng ruộng.
  • Phương pháp xử lý dữ liệu: Ứng dụng kỹ thuật thống kê mô tả, tổng hợp và phân tích tỷ lệ phần trăm trên phần mềm Microsoft Excel, trình bày qua hệ thống bảng số liệu và biểu đồ.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tài liệu

Chương này hệ thống hóa các vấn đề lý luận về chất thải rắn sinh hoạt (CTRSH):

  • Nguồn phát sinh và thành phần: CTRSH phát sinh từ 7 nguồn cơ bản gồm khu dân cư sinh hoạt, khu thương mại, cơ quan/công sở, giao thông/xây dựng, dịch vụ công cộng, sản xuất công nghiệp và hoạt động nông nghiệp. CTRSH tại Việt Nam mang đặc trưng điển hình: hàm lượng hữu cơ cao (chiếm từ 50,27% đến 62,22%), độ ẩm cao, nhiệt trị thấp (khoảng 900 kcal/kg), lẫn nhiều tạp chất đất cát, gạch vỡ.
  • Đánh giá các công nghệ xử lý: Phân tích ba công nghệ phổ biến gồm chôn lấp (chi phí thấp nhưng tốn diện tích, tiềm ẩn nguy cơ ô nhiễm nguồn nước ngầm và nước mặt); thiêu đốt (giảm thể tích tới 90% và giảm trọng lượng tới 75%, nhưng chi phí cao gấp 10 lần chôn lấp, yêu cầu kiểm soát khí thải ngặt nghèo để ngừa phát sinh dioxin); và ủ sinh học compost (chuyển đổi rác hữu cơ thành mùn bón nông nghiệp, cần duy trì nghiêm ngặt chế độ hiếu khí và nhiệt độ).
  • Bức tranh quản lý tại Việt Nam: Phân tích các bước chuyển biến thể chế, chỉ rõ những vướng mắc thực tế khi tỷ lệ phân loại CTRSH tại nguồn còn mang tính thí điểm, việc quy hoạch khu xử lý liên vùng thiếu khả thi với chất thải thông thường, thiếu đồng bộ về hạ tầng thu gom cơ giới và kinh phí ngân sách hỗ trợ.

Chương 2: Nội dung và phương pháp nghiên cứu

Tác giả xác định cấu trúc các bước nghiên cứu thực nghiệm tại thực địa gồm 4 nội dung trọng tâm:

  1. Hiện trạng môi trường tại bãi rác Phùng Xá, huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội.
  2. Hiện trạng công tác quản lý môi trường tại bãi rác Phùng Xá.
  3. Đánh giá ảnh hưởng của bãi rác đến môi trường và đời sống người dân.
  4. Đề xuất các giải pháp cải thiện môi trường tại bãi rác Phùng Xá.

Chương này mô tả chi tiết phương thức chọn mẫu khảo sát xã hội học 30 hộ dân tại hai thôn phụ cận (Tân Độ và Thượng) và quy trình chuẩn hóa số liệu bằng thống kê mô tả nhằm phản ánh khách quan mức độ ảnh hưởng của bãi rác đến môi trường xung quanh.

Chương 3: Kết quả và thảo luận

Chương kết quả thể hiện các phát hiện thực tế qua dữ liệu điều tra:

  • Giới thiệu chung và hạ tầng bãi rác: Bãi rác Phùng Xá nằm tại phía Tây Nam thủ đô, cách trung tâm Hà Nội khoảng 50 km theo Quốc lộ 21B, giáp sông Đáy về phía Đông. Bãi rác được quy hoạch theo Quyết định số 96/QĐ-UBND của UBND huyện Mỹ Đức, xây dựng từ tháng 2/2017 và vận hành từ tháng 6/2017 dưới sự quản lý của Phòng Quy hoạch đô thị UBND huyện Mỹ Đức. Bãi rác có diện tích $500\text{ m}^2$, cách trục đường chính 60 m và cách khu dân cư hơn 100 m. Thiết kế bãi rác dạng hở, có mái tôn che nhưng hoàn toàn không có hệ thống thu gom và xử lý nước rỉ rác.
  • Hiện trạng phát sinh chất thải tại các hộ dân: Lượng rác thải sinh hoạt phát sinh từ 30 hộ điều tra dao động từ 0,5 kg đến 3 kg/hộ/ngày (trong đó 8 hộ xả 0,5 kg; 19 hộ xả 1 kg; 2 hộ xả 2 kg; 1 hộ xả 3 kg - thuộc hộ làm nghề nhôm kính). Về thành phần rác thải, rác dễ phân hủy (thực phẩm, rau, củ) chiếm 80% (24 hộ); rác khó phân hủy (nhựa, thủy tinh, cao su, nilon) chiếm 17% (5 hộ); rác thải nguy hại (pin, ắc quy từ cửa hàng sửa chữa xe, điện lạnh) chiếm 3% (1 hộ). Đa số các hộ không phân loại tại nguồn, chỉ có 5 hộ chủ động ủ rác hữu cơ làm phân bón.
  • Cơ cấu tổ chức và điểm nghẽn quản lý: Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Mỹ Đức thực hiện chức năng giám sát chuyên môn; đơn vị thu gom và vận chuyển là Công ty Cổ phần Đầu tư và phát triển công nghệ cao Minh Quân. Hợp đồng ký kết quy định công ty vận chuyển 50 tấn rác/ngày và chu kỳ 3 ngày phải giải tỏa rác khỏi điểm trung chuyển một lần. Tuy nhiên, lượng rác thực tế phát sinh trên toàn huyện Mỹ Đức lên đến 90 tấn/ngày, tạo mức thặng dư dôi dư 40 tấn/ngày không được chuyên chở kịp thời. Bên cạnh đó, Khu xử lý rác thải Xuân Sơn gặp sự cố tắc nghẽn tiếp nhận, dẫn tới tình trạng bãi rác Phùng Xá tồn đọng nghiêm trọng và người dân/đơn vị phải sử dụng biện pháp đốt lộ thiên tại chỗ.
  • Đánh giá tác động môi trường và xã hội:
    • Môi trường không khí: Mức độ ảnh hưởng của mùi hôi và khói đốt rác được phân hóa rõ theo khoảng cách địa lý. Khảo sát theo thang đo từ 1 (không mùi) đến 5 (rất khó chịu) ghi nhận: mức 1 chiếm 57% (17 hộ, cự ly 300 - 350 m); mức 2 chiếm 23% (7 hộ, cự ly 150 - 250 m); mức 3 chiếm 17% (5 hộ, cự ly 150 - 250 m); mức 4 chiếm 3% (1 hộ, cách bãi rác khoảng 100 m); không có hộ đánh giá mức 5. Tác động của mùi nồng nặc nhất vào buổi chiều, ngày nắng nóng hoặc khi có gió lớn.
    • Môi trường nước và đất: Khảo sát cảm quan nguồn nước ngầm (nước giếng khoan) cho thấy 50% số hộ nhận thấy nước không màu, 50% ghi nhận nước hơi ngả màu vàng nâu nhẹ, mùi bình thường, chưa xuất hiện dấu hiệu biến đổi lớn so với trước khi bãi rác vận hành. Tuy nhiên, khi trời mưa, nước rỉ rác không được thu gom đã chảy tràn trực tiếp ra đường giao thông, ngấm vào đất ruộng lúa và kênh rạch dẫn ra sông Đáy. Môi trường đất canh tác lúa và hoa màu xung quanh vẫn giữ được độ phì nhiêu, chưa có suy thoái rõ rệt.
    • Tác động sức khỏe: Trong số các bệnh tật người dân mắc phải, bệnh ngoài da chiếm tỷ lệ cao nhất với 80% số phiếu (do ruồi muỗi, côn trùng và dị ứng môi trường); bệnh đường hô hấp chiếm 20% (chủ yếu tập trung ở các hộ sống gần bãi rác phải hít khói đốt rác và mùi phân hủy hữu cơ); bệnh tiêu chảy ghi nhận 0%.
    • Nguyện vọng cư dân: 60% hộ đề xuất áp dụng công nghệ xử lý rác hiện đại; 20% yêu cầu thắt chặt công tác quản lý; 10% đề nghị phân loại tại nguồn; 7% kiến nghị xử lý xe chở rác vi phạm làm rơi vãi; 3% đề xuất di dời bãi rác xa khu dân cư.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã lượng hóa hiện trạng vận hành và tác động của bãi rác Phùng Xá qua các bảng tổng hợp số liệu thực chứng:

Tiêu chí khảo sát Chỉ số ghi nhận Tỷ lệ (%) / Chi tiết
Quy mô diện tích bãi rác $500\text{ m}^2$ Cách trục đường chính 60 m, cách khu dân cư >100 m
Hạn mức vận chuyển theo hợp đồng 50 tấn/ngày Công ty Minh Quân ký kết với UBND huyện Mỹ Đức
Khối lượng rác phát sinh toàn huyện 90 tấn/ngày Tồn đọng bình quân 40 tấn/ngày tại các trạm trung chuyển
Thành phần chất thải sinh hoạt Hữu cơ dễ phân hủy 80% (24/30 hộ khảo sát)
Khó phân hủy (nhựa, thủy tinh) 17% (5/30 hộ khảo sát)
Nguy hại (pin, ắc quy) 3% (1/30 hộ khảo sát)
Mức độ ô nhiễm mùi (thang 1 - 5) Mức 1 (không mùi, 300 - 350 m) 57% (17 hộ)
Mức 2 (ít mùi, 150 - 250 m) 23% (7 hộ)
Mức 3 (mùi trung bình, 150 - 250 m) 17% (5 hộ)
Mức 4 (khó chịu nhiều, ~100 m) 3% (1 hộ)
Tình trạng sức khỏe cư dân Bệnh ngoài da 80%
Bệnh đường hô hấp 20%
Bệnh tiêu chảy 0%

Về giải pháp, tác giả đề xuất hệ thống giải pháp can thiệp cụ thể:

  • Về quản lý nhà nước: UBND huyện Mỹ Đức cần kiến nghị UBND thành phố Hà Nội phê duyệt điều chỉnh hợp đồng thu gom, nâng định mức vận chuyển của Công ty Minh Quân từ 50 tấn/ngày lên 80 tấn/ngày để giải tỏa áp lực tồn ứ trên địa bàn toàn huyện. Đồng thời, nghiên cứu quy hoạch di chuyển bãi rác Phùng Xá ra xa khu dân cư để tuân thủ khoảng cách ly vệ sinh môi trường theo quy định.
  • Về công nghệ xử lý: Tham khảo thông tin từ Ban Quản lý đô thị huyện Mỹ Đức về việc nghiên cứu mô hình lò đốt rác sinh hoạt tại huyện Xuân Trường (tỉnh Nam Định) với công suất 20 tấn/ngày và chi phí đầu tư khoảng 10 tỷ đồng/lò. Đề xuất quy hoạch xây dựng cụm 6 lò đốt rác trên địa bàn huyện nhằm tự chủ xử lý triệt để chất thải sinh hoạt cho 22 xã, thị trấn.
  • Về kiểm soát ô nhiễm tại chỗ: Bổ sung rãnh thu gom và bể lắng xử lý nước rỉ rác; chính quyền xã định kỳ phun thuốc khử trùng, diệt ruồi muỗi, gián; tăng cường kiểm tra các phương tiện vận chuyển, xử phạt hành vi làm rơi vãi rác ra đường giao thông.
  • Về cộng đồng: Đẩy mạnh tuyên truyền phân loại rác tại nguồn, nhân rộng kỹ thuật ủ rác hữu cơ bằng vi sinh vật (composting) tại hộ gia đình nhằm tận dụng 80% thành phần rác thải nông nghiệp làm phân bón hữu cơ, giảm khối lượng rác đưa ra bãi tập kết.

Đóng góp của khóa luận thể hiện ở việc cung cấp bức tranh thực trạng về sự bất cập trong chuỗi thu gom - vận chuyển - xử lý chất thải rắn nông thôn tại một huyện ngoại thành Hà Nội, vạch rõ mâu thuẫn giữa quy mô hợp đồng dịch vụ công ích và nhu cầu xử lý thực tế, từ đó cung cấp căn cứ thực tiễn cho công tác quản lý tài nguyên và môi trường tại địa phương.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận tồn tại một số giới hạn xuất phát từ phạm vi nghiên cứu thực địa:

  • Đề tài chưa triển khai lấy mẫu và phân tích thực nghiệm các chỉ tiêu hóa lý, vi sinh trong phòng thí nghiệm. Việc đánh giá chất lượng nước giếng khoan, nước rỉ rác, đất canh tác và không khí hoàn toàn dựa trên nhận thức, cảm quan của người dân thông qua bảng hỏi, chưa có các thông số định lượng cụ thể (như BOD, COD, kim loại nặng, nồng độ khí CO, $\text{SO}_2$, $\text{NO}_x$ hay dioxin/furan từ hoạt động đốt rác).
  • Dung lượng mẫu khảo sát xã hội học còn hạn chế ($n = 30$ hộ) và thời gian nghiên cứu tương đối ngắn (3 tháng, từ tháng 3 đến tháng 6 năm 2022), chưa bao quát được sự biến thiên của ô nhiễm môi trường theo chu kỳ thời tiết bốn mùa trong năm.

Hướng nghiên cứu mở rộng tiếp theo:

  • Cần thực hiện quan trắc định kỳ các thông số môi trường chuẩn hóa theo Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia (QCVN) về chất lượng không khí xung quanh, nước mặt sông Đáy, nước dưới đất và trầm tích đất nông nghiệp khu vực lân cận bãi rác Phùng Xá.
  • Nghiên cứu đánh giá chi tiết tính khả thi kỹ thuật, kinh tế và tác động môi trường của dự án triển khai 6 lò đốt rác sinh hoạt công suất 20 tấn/ngày học tập từ mô hình huyện Xuân Trường trên địa bàn huyện Mỹ Đức.

Giá trị tham khảo

Báo cáo khóa luận cung cấp tư liệu tham khảo hữu ích cho sinh viên, học viên các ngành Khoa học Môi trường, Quản lý Môi trường, Kỹ thuật Môi trường và Quản lý Đô thị - Nông thôn:

  • Cung cấp mô hình phương pháp luận khảo sát xã hội học môi trường trong việc đánh giá tác động của bãi rác lộ thiên đến sức khỏe và đời sống người dân ngoại thành.
  • Cung cấp số liệu thực tế về thành phần chất thải rắn sinh hoạt nông thôn, tỷ lệ các bệnh truyền nhiễm và bệnh ngoài da liên quan đến hạ tầng xử lý rác thiếu chuẩn hóa.
  • Làm tài liệu nghiên cứu ca điển hình (case study) về các điểm nghẽn chính sách trong công tác đấu thầu dịch vụ thu gom rác, mối quan hệ vận hành giữa trạm trung chuyển cấp xã và các khu xử lý rác thải tập trung cấp đô thị.

Câu hỏi thường gặp

Bãi rác Phùng Xá được xây dựng từ thời gian nào, quy mô diện tích và thiết kế hạ tầng ra sao? Bãi rác được phê duyệt theo Quyết định số 96/QĐ-UBND của UBND huyện Mỹ Đức, khởi công xây dựng vào tháng 2/2017 và chính thức vận hành từ tháng 6/2017. Bãi có diện tích $500\text{ m}^2$, nằm cách trục đường chính 60 m, cách khu dân cư hơn 100 m, được thiết kế hở có mái tôn che chắn nhưng không có hệ thống thu gom và xử lý nước rỉ rác.

Nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng ứ đọng rác kéo dài và phát sinh đốt rác tại bãi Phùng Xá là gì? Nguyên nhân trực tiếp do lượng phát sinh rác thải thực tế trên địa bàn toàn huyện Mỹ Đức là 90 tấn/ngày, trong khi hợp đồng ký kết với Công ty Minh Quân chỉ vận chuyển 50 tấn/ngày, dẫn tới 40 tấn rác bị tồn lưu mỗi ngày tại các bãi tập kết. Thêm vào đó, Khu xử lý chất thải rắn Xuân Sơn thường xuyên quá tải, xe chuyên dụng chậm chuyển rác so với quy định 3 ngày/lần, dẫn đến rác bị lưu cữu lâu ngày và phải đốt lộ thiên tại chỗ.

Thành phần rác thải sinh hoạt phát sinh từ các hộ dân tại địa bàn nghiên cứu có đặc trưng gì? Qua khảo sát 30 hộ dân, thành phần rác thải dễ phân hủy (rau, củ, thực phẩm thừa) chiếm tỷ trọng áp đảo lên tới 80% (24 hộ); rác thải khó phân hủy (nhựa, cao su, thủy tinh, nilon) chiếm 17% (5 hộ); và chất thải nguy hại (pin, ắc quy từ các cửa hàng sửa chữa kỹ thuật) chiếm 3% (1 hộ).

Tác động sức khỏe nào được người dân ghi nhận nhiều nhất từ hoạt động của bãi rác Phùng Xá? Bệnh ngoài da là vấn đề phổ biến nhất, chiếm 80% tổng số phản ánh do sự bùng phát của ruồi, muỗi và côn trùng trung gian truyền bệnh từ bãi rác. Kế tiếp là các bệnh về đường hô hấp chiếm 20%, tập trung ở các hộ sống gần bãi rác do hít phải mùi hôi thối kỵ khí và khói độc từ quá trình đốt rác thủ công.

Giải pháp công nghệ xử lý rác dài hạn được các cơ quan chức năng huyện Mỹ Đức nghiên cứu là gì? Theo thông tin từ Ban Quản lý đô thị huyện Mỹ Đức, địa phương đã tham khảo mô hình lò đốt rác sinh hoạt tại huyện Xuân Trường (tỉnh Nam Định) với công suất 20 tấn/ngày, kinh phí xây dựng ước tính khoảng 10 tỷ đồng/lò. Huyện đã xây dựng định hướng đề xuất thành phố cho triển khai 6 lò đốt nhằm xử lý dứt điểm rác thải phát sinh hàng ngày cho 22 xã, thị trấn trên địa bàn.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Phạm Quang Linh đã phác họa toàn diện hiện trạng quản lý và những rủi ro môi trường hiện hữu tại bãi rác trung chuyển Phùng Xá, huyện Mỹ Đức. Bằng phương pháp điều tra xã hội học trên 30 hộ dân kết hợp khảo sát thực địa, tác giả đã chỉ rõ điểm nghẽn hạ tầng khi bãi rác không có hệ thống xử lý nước rỉ rác, công tác vận chuyển rác bị quá tải dẫn đến việc đốt rác lộ thiên gây ô nhiễm không khí và gia tăng tỷ lệ mắc bệnh ngoài da (80%) cùng bệnh hô hấp (20%). Các giải pháp nâng hạn mức thu gom lên 80 tấn/ngày kết hợp nghiên cứu đầu tư 6 lò đốt rác công suất 20 tấn/ngày và thúc đẩy phân loại, ủ phân hữu cơ tại nguồn là những đề xuất có cơ sở thực tiễn nhằm hướng tới quản lý chất thải bền vững tại khu vực nông thôn Hà Nội.