CHƯƠNG I ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN 1. Điều kiện tự nhiên 1. Vị trí địa lý Tỉnh Thái Nguyên nằm ở phía Bắc của nước ta, tiếp giáp với thủ đô Hà Nội về phía Nam của tỉnh, phía Tây tiếp giáp với tỉnh Vĩnh Phúc và tỉnh Tuyên Quang, phía Bắc tiếp giáp với tỉnh Bắc Kạn, phía Đông tiếp giáp với tỉnh Lạng Sơn, Bắc Giang. Toàn tỉnh có diện tích 3.541 km 2 và dân số hơn một triệu người, với 8 dân tộc anh em chủ yếu sinh sống đó là: Kinh, Tày, Nùng, Dao, Sán Dìu, Mông, Sán Chay và Hoa.
Tỉnh Thái Nguyên có 09 đơn vị hành chính gồm Thành phố Thái Nguyên, thị xã Sông Công và 07 huyện thị. Địa hình Thái Nguyên có địa hình đặc trưng là đồi núi đá vôi và đồi dạng bát úp. Khí hậu, thời tiết Khí hậu: Thái Nguyên có khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng ẩm, được chia làm 4 mùa rõ rệt: xuân - hạ - thu - đông. Địa hình chủ yếu là đồi núi nên khí hậu của tỉnh có những đặc điểm sau: Nhiệt độ trung bình năm đạt khoảng 23,6 0C (năm 2004).
Trong đó nhiệt độ trung bình thấp nhất đạt khoảng 17,0 0C và nhiệt độ trung bình cao nhất đạt khoảng 28,80C (thời gian tháng 6). Thái Nguyên là khu vực có độ ẩm khá cao. Trung bình năm đạt tới 82%. Độ ẩm trung bình thấp nhất đạt 77% và lớn nhất đạt 88%.
Với lượng mưa khá lớn trung bình năm 1800 2500mm, tuy nhiên lượng mưa phân bố không đều trong khu vực tỉnh theo thời gian, không gian. Thái Nguyên có 2 con sông chính chảy qua địa phận là sông Cầu, sông Công và chịu ảnh hưởng rất lớn về chế độ thuỷ văn của 2 con sông này. Luan van Sông Công: Bắt nguồn từ vùng núi Ba Lá huyện Định Hoá chảy dọc theo chân núi Tam Đảo, nằm trong vùng có lượng mưa lớn nhất của tỉnh. Sông Cầu: có dòng chảy chính là sông Cầu với chiều dài 290km, bắt nguồn từ núi Văn rồi đổ vào sông Thái Bình ở Phả Lại.
Chế độ thuỷ văn của các sông trong khu vực được chia thành 2 mùa: mùa lũ và mùa khô. Mùa lũ bắt đầu từ tháng 6 đến tháng 9, chiếm 7080% tổng lưu lượng dòng chảy trong năm. Mùa khô bắt đầu từ tháng 10 đến tháng 5 năm sau. Điều kiện kinh tế - xã hội Trước đây và hiện nay Thái Nguyên vẫn được chính phủ coi là trung tâm văn hoá và kinh tế của các dân tộc các tỉnh phía Bắc.
Trong 5 năm gần đây Thái Nguyên luôn giữ tốc độ phát triển kinh tế (GDP) bình quân. Thái Nguyên là trung tâm đào tạo lớn thứ 3 trong cả nước với 5 trường đại học, 16 trường cao đẳng, THCN và dạy nghề, có bệnh viện đa khoa khu vực. Dân số Dân số Thái Nguyên tính đến năm 2004 là 1.091 người, với mật độ trung bình 312 người/km2. Tuy nhiên dân số tập trung cao ở thành phố Thái Nguyên và thị xã Sông Công.
Đặc trưng của thành phố Thái Nguyên và thị xã Sông Công là đô thị vừa là nơi tập trung dân cư vừa là khu sản xuất công nghiệp, vừa là trung tâm hành chính văn hoá xã hội và cũng là đầu mối giao thông với các tỉnh, thành phố xung quanh. Bảng 1: Dân cư đô thị và nông thôn tại các huyện, thành thị Dân số Dân số Tên thành phố, huyện thị Tổng số dân thành thị nông thôn Thành phố Thái Nguyên 232.546 Thị xã Sông Công 44.748 Huyện Định Hoá 89.179 Huyện Phú Lương 104.714 Luan van Huyện Đồng Hỷ 123.921 Huyện Đại Từ 164.002 Huyện Phú Bình 138.773 Huyện Phổ Yên 135. Cơ cấu kinh tế Trong những năm qua (2000-2004), tốc độ tăng trưởng của ngành công nghiệp và xây dựng tăng nhanh. Tỷ trọng ngành công nghiệp và xây dựng tăng từ 30% (2000) lên tới 375 (2004).
Ngành Nông lâm nghiệp và thuỷ sản có mức giảm tỷ trọng từ 34% (2002) xuống còn 27% (2004). Ngành dịch vụ có tốc độ tăng trưởng tương đương với tốc độ tăng trưởng chung, tỷ trọng ngành dịch vụ năm 2000 là 36%, tuy nhiên đến năm 2002 giảm xuống còn 34% và tăng lên 365 (2004). Năm 2000 GDP (bình quân đầu người) 2,8 triệu đồng đến 2004 đã tăng lên 4,7 triệu đồng, đến 2005 là 5,2 triệu dồng. Như vậy sau 5 năm bình quân GDP tăng 1,8 lần.
Biểu đồ 1: Cơ cấu kinh tế của Thái Nguyên từ 2000-2004 Cơ cấu kinh tế năm 2000 Cơ cấu kinh tế năm 2001 N«ng l©m N«ng l©m nghiÖp nghiÖp 30% 34% C«ng nghiÖp 36% 31% C«ng nghiÖp & XD & XD DÞch vô DÞch vô 36% 33% Cơ cấu kinh tế năm 2002 Cơ cấu kinh tế năm 2003 Luan van N«ng l©m N«ng l©m nghiÖp nghiÖp 34% 31% 27% C«ng nghiÖp 36% C«ng nghiÖp & XD & XD DÞch vô DÞch vô 35% 37% Luan van Cơ cấu kinh tế năm 2004 N«ng l©m nghiÖp 30% 34% C«ng nghiÖp & XD DÞch vô 36% Thái Nguyên có nhiều tiềm năng để phát triển kinh tế và xã hội. a) Tiềm năng về khoáng sản Thái Nguyên có nhiều loại khoáng sản. Tài nguyên khoáng sản của tỉnh rất phong phú về chủng loại (than đá, than mỡ, quặng sắt, titan,…) tỉnh có trữ lượng than lớn đứng thứ 2 trong cả nước, than mỡ có trữ lượng trên 15 triệu tấn và than đá koảng 90 triệu tấn, khoáng sản vật liệu xây dựng là tiềm năng nguyên liệu rất lớn để sản xuất xi măng, sản xuất đá ốp lát các loại, sản xuất nguyên liệu xây dựng… b) Tiềm năng về nông lâm nghiệp Được sự ưu đãi của thiên nhiên về khí hậu và đất đai, Thái Nguyên có nhiều khả năng phát triển nông lâm nghiệp. Diện tích rừng tự nhiên của tỉnh vào khoảng 102.190ha và rừng trồng có diện tích hơn 44.
c) Tiềm năng về du lịch Thái Nguyên có tiềm năng du lịch lớn như: Hồ Núi Cốc, khu ATK (Định Hoá), chùa Hang (Đồng Hỷ), Hang Phượng Hoàng (Võ Nhai)… tuy nhiên vẫn chưa được phát triển mạnh. Hiện trạng môi trường thành phố Thái Nguyên Từ những năm 60 của thế kỷ trước, Thái Nguyên đã được chọn là nơi xây dựng khu công nghiệp sản xuất gang thép, kim loại màu, chế tạo cơ khí, chế biến lâm sản,… Đồng thời để đáp ứng nguyên liệu cho sản xuất, công nghiệp khai khoáng cũng được hình thành với quy mô lớn hơn như khai thác quặng sát, chì, kẽm, than đã,… nhưng công nghệ thiết bị cho sản xuất và khai Luan van thác chế biến khoáng sản đều thuộc loại cũ kỹ và lạc hậu. Khi bước vào thời kỳ kinh tế thị trường, nguồn tài nguyên khoáng sản và lâm sản đều được các thành phần kinh tế đầu tư khai thác và chế biến tại chỗ bằng phương pháp thủ công hoặc công nghệ đơn giản lạc hậu. Vào những năm 90 nhiều lò luyện thiếc, chì, kẽm, lò gạch, lò vôi thủ công được xây dựng trên mặt bằng đất nông nghiệp và khu dân cư tập trung.
Cùng với quá trình đô thị hoá, dân số, nhà hàng, khách sạn ở thành phố, thị xã, thị trấn tăng rất nhanh. Có thể nói các hoạt động kinh tế xã hội trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên trong thời gian qua đã có những tác động gây ảnh hưởng xấu đến tài nguyên và môi trường tỉnh. Đến nay Thái Nguyên phải đương đầu với nhiều khó khăn trở ngại để đạt được sự phát triển bền vững. Hiện trạng môi trường nước Theo số liệu hiện có Thái Nguyên có khoảng 3-4 tỷ m 3mặt/năm và 1,5 2 tỷ m3 nước dưới mặt đất (nước ngầm)/1năm.
Các kết quả phân tích hiện có cũng cho thấy nguồn nước mặt của Thái Nguyên có chứa chất gây ô nhiễm từng lúc, từng khu vực đã đến mức báo động chất lượng nước ngầm đã có dấu hiệu bị ô nhiễm. a) Nước cấp Trong nhiều năm qua, nhất là những năm gần đây các cấp, các tổ chức doanh nghiệp, cộng đồng dân cư đã quan tâm đến công tác bảo vệ môi trường nhất là môi trường nước. Hiện nay Thái Nguyên đã xây dựng hơn 50 công trình cấp nước sạch tập trung đảm bảo cung cấp nước sạch cho hơn 80% dân số đô thị và gần 50% đối với dân cư nông thôn. Tại thị xã Sông Công có một nhà máy nước với công suất hơn 5.
Riêng thành phố Thái Nguyên có hai nhà máy nước với tổng công suất lên đến 45. Ngoài các công trình cấp nước tập trung, nhân dân tự khai thác và quản lý nước ngầm để sử dụng. Tỉnh Thái Nguyên đã huy động được nhiều nguồn vốn để đầu tư xây dựng nâng cấp một số công trình trọng điểm, đào và khoan gần 200 giếng nước sạch, cải tạo hơn 13.100 giếng nước sinh hoạt… Luan van b) Nước thải Nước thải sinh hoạt: sông Cầu và sông Công còn là nơi tập trung nước thải của dân cư sống ven sông, thị trấn, thị xã và thành phố. Với lượng nước thải 70 lít/người/ngày (2004) thì lượng nước thải xuống sông Cầu và sông Công như bảng sau (bảng 2).
Bảng 2: Lượng nước thải sinh hoạt và sông Cầu, sông Công Tên Tổng lượng nước Tên đô thị Dân số sông thải (m3/ngày) Thành phố Thái Nguyên 164.542,580 Thị trấn ĐH và Giang Tiên (Phú 7.769 543,830 Sông Lương) Cầu Thị trấn Úc Sơn (Phú Bình) 7.645,400 Thị xã Sông Công 22.513,270 Sông Thị trấn Đại Từ 8.197 573,790 Công Thị trấn Ba Hàng (Phổ Yên) 13.000,770 Theo báo cáo hiện trạng môi trường 2002-2003 của tỉnh, trong nước thải sinh hoạt tại thành phố Thái Nguyên năm 2002 có hàm lượng COD vượt TCVN: 5942-1995 cột B 1,3 3 lần, BOD5 vượt 1,1 2,5 lần. Nước thải công nghiệp: sông Cầu, sông Công và một số nhánh chảy vào hai sông này, hiện nay vẫn là nơi xả nước thải chưa qua xử lý hoặc xử lý sơ bộ của một số cơ sở sản xuất công nghiệp như Công ty gang thép Thái Nguyên, Công ty luyện kim mầu, Công ty nông sản Phú Lương, Nhà máy bia Vicoba, nhà máy tấm lợp Amiăng, nhà máy giấy Hoàng Văn Thụ, Công ty Diezen sông Công, Xí nghiệp chè Đại Từ,… Trong nước thải của các cơ sở sản xuất này có chứa một số chất gây ô nhiễm nguồn nước như nước thải của Công ty gang thép Thái Nguyên có nồng độ BOD, NH 4, SO2, Zn, Cn, Phenol, Luan van dầu mỡ… đều vượt tiêu chuẩn cho phép. Nước thải của Công ty Luyện kim mầu có chứa As, CN, Fe, Phenol và khu công nghiệp sông Công trong nước thải có chứa BOD, COD, CN, phenol, suyfua. Nước thải của nhà máy giấy Hoàng Văn Thụ đang là nguồn gây ô nhiễm nghiêm trọng cho nước sông Cầu, cụ thể được thể hiện trong bảng 3.