Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học của đề tài 1. Căn cứ pháp lý về quản lý chất thải y tế * Văn bản pháp luật được trung ương ban hành - Luật Bảo vệ môi trường số 55/2014/QH13 ngày 23 tháng 6 năm 2014. - Nghị định số 38/2015/NĐ-CP ngày 24/4/2015 của Chính phủ về quản lý chất thải nguy hại và phế thải.
- Quyết định 170/2012/QĐ - TTg ngày 08/02/2012 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch tổng thể hệ thống xử lý chất thải rắn y tế nguy hại đến năm 2025. - Chỉ thị số 05/CT-BYT ngày 06/7/2015 của Bộ trưởng Bộ Y tế về việc tăng cường quản lý chất thải y tế trong bệnh viện. - Thông tư liên tịch số 58/2015/TTLT – BYT – BTNMT ngày 31/12/2015 của Bộ Y tế và Bộ Tài nguyên và Môi trường Quy định về quản lý chất thải y tế. - Thông tư số 36/2015/TT-BTNMT ngày 30 tháng 6 năm 2015 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường về quản lý chất thải nguy hại - Quy chuẩn kỹ thuật Việt Nam QCVN 28: 2010/ BVNMT, quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về nước thải y tế - Quy chuẩn kỹ thuật Việt Nam QCVN 2: 2012/ BVNMT, quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về khí thải lò đốt chất thải y tế.
- Quy chuẩn kỹ thuật Việt Nam QCVN 02: 2008/BVNMT, quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về lò đốt chất thải rắn y tế. - Công văn số 2340/ BYT- MT về tăng cường công tác quản lý CTYT, ngày 29/4/2014. - Công văn số 1040/MT-YT ngày 08 tháng 11 năm 2013 của Cục Quản lý môi trường y tế: Về việc thu thập thông tin về hiện trạng quản lý CTYT. 5 - Công văn số 4338/BYT-MT ngày 04/7/2014 của Bộ Y tế về việc tăng cường công tác quản lý chất thải y tế - Nghị định số 69/2011/NĐ-CP : ngày 08 tháng 08 năm 2011 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính về y tế dự phòng, môi trường y tế và phòng, chống HIV/AIDS.
- Thông tư số 31/2013/TT-BYT ngày 15/10/2013 của Bộ Y tế về việc tiến hành quan trắc, giám sát môi trường định kỳ đảm bảo đúng theo quy định. * Văn bản do địa phương ban hành - Quyết định số 2126/QĐ-UBND ngày 11/6/2015 của Chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hóa về việc phê duyệt kế hoạch quản lý chất thải y tế tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 2015 – 2020. - Quyết định số 2451/QĐ-UBND ngày 30/7/2009 của Chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hóa về việc phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường Bệnh viện Đa khoa huyện Hà Trung. - Công văn số 1091/UBND-CN ngày 29/02/2012 của UBND tỉnh Thanh Hóa về việc triển khai Quyết định 170/2012/QĐ - TTg ngày 08/02/2012 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch tổng thể hệ thống xử lý chất thải rắn y tế nguy hại đến năm 2025.
Các khái niệm liên quan Điều 3, Thông tư Liên tỉnh số 58/TTLT-BYT-BTNMT của Bộ Y Tế và Bộ Tài nguyên và Môi trường ngày 31/12/2015 [27] quy định: Chất thải y tế là chất thải phát sinh trong quá trình hoạt động của các cơ sở y tế, bao gồm chất thải y tế nguy hại, chất thải y tế thông thường và nước thải y tế. Chất thải y tế nguy hại là chất thải y tế chứa yếu tố lây nhiễm hoặc có đặc tính nguy hại khác vượt ngưỡng chất thải nguy hại, bao gồm chất thải lây nhiễm và chất thải nguy hại không lây nhiễm. 6 Quản lý chất thải y tế là quá trình giảm thiểu, phân định, phân loại, thu gom, lưu giữ, vận chuyển, tái chế, xử lý chất thải y tế và giám sát quá trình thực hiện. Thu gom chất thải y tế là quá trình tập hợp chất thải y tế từ nơi phát sinh và vận chuyển về khu vực lưu giữ, xử lý chất thải y tế trong khuôn viên cơ sở y tế.
Vận chuyển chất thải y tế là quá trình chuyên chở chất thải y tế từ nơi lưu giữ chất thải trong cơ sở y tế đến nơi lưu giữ, xử lý chất thải của cơ sở xử lý chất thải y tế cho cụm cơ sở y tế, cơ sở xử lý chất thải y tế nguy hại tập trung hoặc cơ sở xử lý chất thải nguy hại tập trung có hạng mục xử lý chất thải y tế.3 Phân loại chất thải y tế Theo hệ thống phân loại của tổ chức Y tế Thế giới (1997) [32]. - Chất thải thông thường: Đó là các chất thải không độc hại, về bản chất tương tự như rác thải sinh hoạt. - Chất thải là bệnh phẩm: Mô, cơ quan, phần tử bào thai người, xác động vật thí nghiệm, máu, dịch thể. - Chất thải chứa phóng xạ: Chất thải từ các quá trình chiếu chụp X quang, phân tích tạo hình cơ quan trong cơ thể, điều trị và khu trị khối u.
- Chất thải hoá học: Có tác dụng độc hại, ăn mòn, gây cháy hay nhiễm độc gen hoặc không độc. - Chất thải nhiễm khuẩn: Gồm các chất thải chứa tác nhân gây bệnh như vi sinh vật kiểm định, bệnh phẩm bệnh nhân bị cách ly hoặc máu nhiễm khuẩn. - Các vật sắc nhọn: Kim tiêm, lưỡi dao, kéo mổ, chai lọ vỡ.có thể gây thương tích cho người và vật. - Dược liệu: Dư thừa, quá hạn sử dụng.
Theo quyết định số 43/QĐ-BYT ngày 30/11/2017 [17] phân loại như sau: + Nguyên tắc phân loại chất thải y tế: 7 - Chất thải y tế nguy hại và chất thải y tế thông thường phải phân loại để quản lý ngay tại nơi phát sinh và tại thời điểm phát sinh; - Từng loại chất thải y tế phải phân loại riêng vào trong bao bì, dụng cụ, thiết bị lưu chứa chất thải theo quy định. Trường hợp các chất thải y tế nguy hại không có khả năng phản ứng, tương tác với nhau và áp dụng cùng một phương pháp xử lý có thể được phân loại chung vào cùng một bao bì, dụng cụ, thiết bị lưu chứa; - Khi chất thải lây nhiễm để lẫn với chất thải khác hoặc ngược lại thì hỗn hợp chất thải đó phải thu gom, lưu giữ và xử lý như chất thải lây nhiễm. + Vị trí đặt bao bì, dụng cụ phân loại chất thải: - Mỗi khoa, phòng, bộ phận phải bố trí vị trí để đặt các bao bì, dụng cụ phân loại chất thải y tế; - Vị trí đặt bao bì, dụng cụ phân loại chất thải y tế phải có hướng dẫn cách phân loại và thu gom chất thải. + Phân loại chất thải y tế: - Chất thải lây nhiễm sắc nhọn: Đựng trong thùng hoặc hộp có màu vàng; - Chất thải lây nhiễm không sắc nhọn: Đựng trong túi hoặc trong thùng có lót túi và có màu vàng; - Chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao: Đựng trong túi hoặc trong thùng có lót túi và có màu vàng; - Chất thải giải phẫu: Đựng trong 2 lần túi hoặc trong thùng có lót túi và có màu vàng; - Chất thải nguy hại không lây nhiễm dạng rắn: Đựng trong túi hoặc trong thùng có lót túi và có màu đen; - Chất thải nguy hại không lây nhiễm dạng lỏng: Đựng trong các dụng cụ có nắp đậy kín; - Chất thải y tế thông thường không phục vụ mục đích tái chế: Đựng trong túi hoặc trong thùng có lót túi và có màu xanh; 8 - Chất thải y tế thông thường phục vụ mục đích tái chế: Đựng trong túi hoặc trong thùng có lót túi và có màu trắng.
Các đặc trưng của chất thải y tế * Nguồn gốc phát sinh theo báo cáo môi trường quốc gia của Bộ Tài nguyên và Môi trường (2011) [7] như sau: - Theo Qui chế quản lý chất thải y tế (Bộ Y tế) thì chất thải y tế là vật chất ở thể rắn, lỏng và khí, được thải ra từ các cơ sở y tế bao gồm chất thải y tế nguy hại và chất thải thông thường. Chất thải y tế nguy hại là chất thải y tế chứa yếu tố nguy hại cho sức khỏe con người và môi trường như dễ lây nhiễm, gây ngộ độc, phóng xạ, dễ cháy, dễ nổ, dễ ăn mòn hoặc có đặc tính nguy hại khác nếu những chất thải này không được tiêu hủy hoàn toàn. - Các chất thải rắn y tế nguy hại bao gồm: Chất thải lây nhiễm sắc nhọn (bơm kim tiêm, đầu sắc nhọn của dây truyền dịch, lưỡi dao mổ, đinh mổ, cưa, các ống tiêm, mảnh thủy tinh vỡ và các vật sắc nhọn khác), chất thải lây nhiễm không sắc nhọn (bông, băng, gạc); chất thải có nguy cơ lây nhiễm (bệnh phẩm và dụng cụ đựng dính bệnh phẩm); chất thải giải phẫu (các mô, cơ quan, bộ phân cơ thể người, rau thai, bào thai); chất thải hóa học nguy hại (dược phẩm quá hạn, kém phẩm chất không còn khả năng sử dụng, chất hóa học ngy hại sử dụng trong y tế), chất thải chứa kim loại nặng (thủy ngân từ nhiệt kế, huyết áp kế bị vỡ). - Chất thải lỏng y tế nguy hại: Được phát sinh từ các hoạt động chuyên môn (từ các phòng phẫu thuật, thủ thuật, xét nghiệm, thí nghiệm.) và sinh hoạt của nhân viên bệnh viện, bệnh nhân và người chăm nuôi (từ các nhà vệ sinh, giặt giũ, từ việc làm vệ sinh phòng bệnh.
Đối với nước thải bệnh viện ngoài những yếu tố ô nhiễm thông thường như chất hữu cơ, dầu mỡ động thực vật, vi khuẩn thông thường còn có những chất bẩn khoáng và hữu cơ đặc thù như các vi khuẩn gây bệnh, chế 9 phẩm thuốc, chất khử trùng, các dung môi hóa học, dư lượng thuốc kháng sinh, các đồng vị phóng xạ được sử dụng trong quá trình chẩn đoán và điều trị. - Chất thải thông thường (hay chất thải không nguy hại): Là chất thải không chứa các yếu tố lây nhiễm, hóa học nguy hại, phóng xạ, dễ cháy nổ, bao gồm: + Chất thải sinh hoạt phát sinh từ các buồng bệnh (trừ các buồng bệnh cách ly). + Chất thải phát sinh từ các hoạt động chuyên môn y tế (chai, lọ thủy tinh, chai lọ huyết thanh, các vật liệu nhựa, các loại bột bó trong gãy xương kín. Những chất thải này không dính máu, dịch sinh học và các chất hóa học nguy hại); chất thải phát sinh từ các công việc hành chính (giấy, báo, tài liệu, túi nilon.); chất thải ngoại cảnh (lá cây, rác ở các khu vực ngoại cảnh).
* Thành phần chất thải y tế theo Báo cáo diễn biến môi trường Việt Nam của Bộ Tài nguyên và Môi trường (2011) [6] đã đưa ra gồm các thành phần chính là: Căn cứ vào các đặc điểm lý học, hóa học, sinh học và tính chất nguy hại, chất thải trong các cơ sở y tế được phân thành 5 nhóm, cụ thể như sau: Bảng 1.