Tổng quan nghiên cứu

Theo thống kê y tế quốc gia, các cơ sở khám chữa bệnh tại Việt Nam phát sinh hơn 350 tấn chất thải rắn mỗi ngày, trong đó có khoảng 40,5 tấn chất thải y tế nguy hại và hơn 150.000 mét khối nước thải cần được kiểm soát nghiêm ngặt. Sự gia tăng nhanh chóng về nhu cầu khám chữa bệnh kéo theo áp lực môi trường ngày càng lớn, đặc biệt là tại hệ thống cơ sở y tế tuyến huyện. Bệnh viện Đa khoa huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa là đơn vị y tế đa khoa công lập được thành lập từ năm 1963, giữ vai trò trọng yếu trong việc chăm sóc sức khỏe cho nhân dân địa phương và các vùng phụ cận. Với quy mô được giao ban đầu là 150 giường bệnh, bệnh viện thường xuyên hoạt động trong tình trạng quá tải khi số giường thực kê lên đến 400 giường, phục vụ tới 67.112 lượt khám bệnh và 22.972 lượt bệnh nhân điều trị nội trú mỗi năm.

Vấn đề đặt ra là khối lượng rác thải và nước thải y tế phát sinh liên tục vượt công suất thiết kế ban đầu, tạo ra thách thức lớn đối với hạ tầng bảo vệ môi trường của đơn vị. Mục tiêu của đề tài là đánh giá toàn diện thực trạng phát sinh, phân loại, thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn cùng nước thải tại Bệnh viện Đa khoa huyện Hà Trung giai đoạn 2017 - 2018, đồng thời phân tích mức độ tuân thủ quy chuẩn kỹ thuật quốc gia. Nghiên cứu mang ý nghĩa khoa học sâu sắc khi thiết lập hệ thống dữ liệu môi trường thực chứng cho 13 khoa và 4 phòng chức năng, đồng thời cung cấp giải pháp thực tiễn nhằm kiểm soát triệt để 100% nguồn thải nguy hại, bảo vệ sức khỏe cộng đồng và nâng cao chất lượng dịch vụ y tế.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên khung lý thuyết quản lý tổng hợp chất thải rắn y tế của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) kết hợp hệ thống văn bản pháp quy hiện hành của Việt Nam, trọng tâm là Thông tư liên tịch số 58/2015/TTLT-BYT-BTNMT và Luật Bảo vệ Môi trường năm 2014. Khung lý thuyết phân định chất thải y tế thành 5 nhóm cơ bản: chất thải lây nhiễm sắc nhọn, chất thải lây nhiễm không sắc nhọn, chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao, chất thải hóa học nguy hại và chất thải thông thường. Mô hình nhiệt phân - thiêu đốt 2 cấp (buồng sơ cấp 600 - 850°C, buồng thứ cấp 1.050 - 1.100°C) theo Quy chuẩn QCVN 02:2012/BTNMT và nguyên lý xử lý nước thải sinh học đạt Quy chuẩn QCVN 28:2010/BTNMT Cột B được áp dụng làm thước đo đánh giá hiệu quả kỹ thuật.

Bên cạnh đó, đề tài vận dụng các khái niệm cốt lõi bao gồm: chu trình quản lý chất thải khép kín từ nguồn phát sinh đến điểm tiêu hủy cuối cùng; chỉ số phát thải bình quân trên giường bệnh (dao động từ 0,13 đến 1,5 kg/giường/ngày đối với rác thông thường); và ngưỡng an toàn phơi nhiễm nghề nghiệp đối với cán bộ y tế.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng kết hợp dữ liệu thứ cấp và dữ liệu sơ cấp thực địa trong khung thời gian 12 tháng, từ tháng 6 năm 2017 đến tháng 6 năm 2018. Dữ liệu thứ cấp được thu thập từ báo cáo quản lý môi trường định kỳ giai đoạn 2016 - 2018 của Bệnh viện Đa khoa huyện Hà Trung và số liệu quan trắc của 47 bệnh viện trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa. Dữ liệu sơ cấp được thiết lập qua chương trình điều tra chọn mẫu với quy mô 300 đối tượng khảo sát thực tế, bao gồm: 150 cán bộ nhân viên y tế (bác sĩ, điều dưỡng, kỹ thuật viên, hộ lý), 50 bệnh nhân điều trị nội trú từ 2 ngày trở lên và 100 người nhà bệnh nhân.

Phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống được triển khai tại 13 khoa lâm sàng và cận lâm sàng nhằm đảm bảo tính đại diện cao, kết hợp phương pháp chọn mẫu chủ đích toàn bộ 100% đội ngũ hộ lý trực tiếp làm công tác vệ sinh. Việc lựa chọn phương pháp phân tích thống kê mô tả, kiểm định tương quan và so sánh đối chiếu với các quy chuẩn kỹ thuật quốc gia giúp lượng hóa chính xác nồng độ các chất ô nhiễm trong nước thải (như BOD5, COD, Coliform) và đánh giá khách quan nhận thức tuân thủ quy trình phân loại rác thải tại nguồn của từng nhóm đối tượng.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Nghiên cứu ghi nhận khối lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh tại Bệnh viện Đa khoa huyện Hà Trung dao động từ 229 kg đến 250 kg/ngày, trong khi lượng chất thải y tế nguy hại phát sinh ở mức 5 kg đến 13 kg/ngày. Tỷ lệ chất thải y tế nguy hại chiếm khoảng 2,1% đến 5,2% tổng lượng chất thải rắn, tương ứng với hệ số phát thải từ 0,012 kg đến 0,032 kg/giường bệnh thực kê/ngày. Lượng nước thải y tế phát sinh trung bình đạt từ 0,4 đến 0,95 mét khối/giường/ngày, tương đương lưu lượng xả thải khoảng 160 đến 380 mét khối/ngày đêm.

Về công tác xử lý chất thải rắn nguy hại, bệnh viện sử dụng lò đốt 2 buồng LD với công suất 15 - 20 kg/giờ, tần suất vận hành 4 lần/tuần, mức tiêu hao nhiên liệu từ 0,5 đến 0,7 kg dầu DO cho mỗi kg rác thải. Khảo sát 300 đối tượng cho thấy có 92,5% nhân viên y tế nắm vững quy trình phân loại rác bằng mã màu, nhưng chỉ 68% người nhà bệnh nhân hiểu đúng về vị trí bỏ rác lây nhiễm sắc nhọn. Đối với hệ thống xử lý nước thải, các chỉ số sau xử lý như BOD5 giảm từ mức 140 mg/l xuống dưới 50 mg/l, Coliform giảm 96,5%, cơ bản đáp ứng giới hạn Cột B của Quy chuẩn QCVN 28:2010/BTNMT.

Thảo luận kết quả

Sự gia tăng đột biến của lượng chất thải rắn và nước thải xuất phát trực tiếp từ tình trạng quá tải giường bệnh thực kê lên tới 266,7% so với chỉ tiêu giao (400 giường so với 150 giường kế hoạch). Khi so sánh với các bệnh viện tuyến huyện cùng quy mô tại Thanh Hóa như Bệnh viện Đa khoa huyện Quảng Xương (350 kg chất thải sinh hoạt/ngày, 25 kg chất thải nguy hại/ngày) hay Bệnh viện Đa khoa huyện Thọ Xuân (80 kg chất thải sinh hoạt/ngày, 20 kg chất thải nguy hại/ngày), công tác thu gom và phân loại ban đầu tại Hà Trung đạt hiệu quả khá đồng đều nhờ duy trì thùng chứa chuyên dụng 4 màu tại 100% các khoa phòng.

Dữ liệu nghiên cứu được trực quan hóa qua biểu đồ cơ cấu chất thải rắn và bảng đối sánh chất lượng nước thải đầu vào - đầu ra. Mặc dù 93,62% bệnh viện trên toàn tỉnh đã hoàn thiện hệ thống xử lý nước thải tập trung, hệ thống tại Hà Trung vẫn đối mặt với nguy cơ suy giảm vi sinh kị khí do hóa chất khử khuẩn nồng độ cao phát sinh từ phòng mổ và khu vực xét nghiệm. Chi phí vận hành lò đốt hiện tại tương đương 80.000 đồng/kg rác thải nguy hại cũng tạo ra gánh nặng tài chính đáng kể khi không được phân bổ đầy đủ vào cơ cấu viện phí.

Đề xuất và khuyến nghị

Trên cơ sở kết quả nghiên cứu thực nghiệm, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp chiến lược nhằm chuẩn hóa toàn diện công tác quản lý chất thải y tế giai đoạn 2018 - 2020:

  1. Nâng cấp quy trình phân loại và lưu giữ rác thải tại nguồn: Bổ sung ngay 120 bộ thùng rác đạt chuẩn có nắp đạp chân và mã màu theo Thông tư liên tịch số 58/2015/TTLT-BYT-BTNMT tại 13 khoa phòng; đặt mục tiêu nâng tỷ lệ phân loại chính xác chất thải lây nhiễm từ 92,5% lên 98% trước quý IV năm 2019 do Khoa Kiểm soát nhiễm khuẩn chủ trì thực hiện.
  2. Hiện đại hóa công nghệ xử lý chất thải rắn nguy hại: Chuyển đổi dần lò đốt thủ công sang công nghệ vi sóng hoặc tiệt khuẩn nhiệt ướt Newster NW10 công suất 30 - 50 kg/giờ nhằm loại bỏ 100% nguy cơ phát sinh khí độc Dioxin/Furan, giảm 20% chi phí tiêu hao nhiên liệu dầu DO vào năm 2020 do Phòng Hành chính quản trị và Ban Giám đốc chỉ đạo.
  3. Cải tạo và nâng công suất hệ thống xử lý nước thải y tế: Bổ sung bể điều hòa thể tích 50 mét khối kết hợp công nghệ màng sinh học hiếu khí AAO để duy trì lưu lượng xử lý 300 mét khối/ngày đêm, cam kết kiểm soát 100% các thông số BOD5, COD và Amoni đạt chuẩn QCVN 28:2010/BTNMT Cột B trước tháng 12 năm 2019.
  4. Tăng cường đào tạo nhân lực và truyền thông nội viện: Tổ chức định kỳ 4 khóa tập huấn chuyên sâu/năm cho 100% cán bộ, hộ lý và nhân viên vệ sinh; đồng thời lắp đặt 50 bảng chỉ dẫn trực quan tại khu vực chờ khám bệnh để nâng tỷ lệ người nhà bệnh nhân thực hành đúng phân loại rác lên trên 85% trong giai đoạn 2018 - 2020.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Luận văn là tài liệu tham khảo chuyên môn giá trị cho 4 nhóm đối tượng trọng điểm:

  1. Ban Giám đốc và cán bộ quản lý bệnh viện tuyến huyện: Nắm bắt phương pháp tối ưu hóa chi phí vận hành lò đốt, xây dựng quy chế kiểm soát nhiễm khuẩn nội viện và quản lý hiệu quả nguồn thải khi quy mô giường bệnh tăng từ 150 lên 400 giường.
  2. Học viên cao học, sinh viên và nhà nghiên cứu ngành Khoa học Môi trường: Khai thác khung phương pháp luận điều tra xã hội học kết hợp quan trắc kỹ thuật, sử dụng bộ số liệu khảo sát thực tế từ 300 mẫu phỏng vấn làm tài liệu tham khảo cho các đề tài nghiên cứu tương tự.
  3. Cán bộ quản lý môi trường tại Sở Y tế và Sở Tài nguyên và Môi trường: Sử dụng kết quả đánh giá thực trạng của 47 cơ sở y tế trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa để tham mưu chính sách quy hoạch 9 cụm xử lý chất thải y tế nguy hại tập trung theo Quyết định số 2126/QĐ-UBND.
  4. Các đơn vị tư vấn và thiết kế công nghệ môi trường y tế: Ứng dụng các thông số tính toán tải lượng ô nhiễm (0,4 - 0,95 mét khối nước thải/giường/ngày) để lựa chọn giải pháp công nghệ xử lý sinh học kết hợp khử trùng phù hợp với điều kiện kinh tế của các bệnh viện địa phương.

Câu hỏi thường gặp

Chất thải y tế nguy hại tại Bệnh viện Đa khoa huyện Hà Trung phát sinh với khối lượng bao nhiêu mỗi ngày?
Theo kết quả khảo sát thực tế giai đoạn 2017 - 2018, lượng chất thải y tế nguy hại phát sinh tại bệnh viện dao động từ 5 kg đến 13 kg/ngày, chiếm từ 2,1% đến 5,2% tổng lượng chất thải rắn (229 - 250 kg/ngày). Định mức phát sinh này phản ánh đúng đặc thù mô hình bệnh viện tuyến huyện đa khoa phục vụ 400 giường bệnh thực kê.

Hệ thống lò đốt chất thải rắn y tế tại bệnh viện vận hành theo thông số kỹ thuật nào?
Bệnh viện sử dụng lò đốt 2 cấp LD công suất thiết kế 15 - 20 kg/giờ, buồng sơ cấp duy trì nhiệt độ 600 - 850°C để sấy khô khí hóa và buồng thứ cấp duy trì 1.050 - 1.100°C với thời gian lưu cháy 1,5 - 2 giây để triệt tiêu khí độc hại, tiêu hao khoảng 0,5 - 0,7 kg dầu DO cho mỗi kg rác thải.

Chất lượng nước thải sau xử lý của Bệnh viện Hà Trung có đáp ứng quy chuẩn quốc gia không?
Nước thải y tế sau khi qua quy trình xử lý sinh học và khử trùng bằng hóa chất Clo đã giảm hàm lượng BOD5 từ 140 mg/l xuống dưới 50 mg/l, chỉ số Coliform đạt mức kiểm soát an toàn, đảm bảo đáp ứng các thông số kỹ thuật theo Quy chuẩn QCVN 28:2010/BTNMT Cột B trước khi xả ra môi trường tiếp nhận.

Khảo sát xã hội học về quản lý chất thải trong luận văn được tiến hành trên cỡ mẫu bao nhiêu?
Nghiên cứu đã thực hiện điều tra phỏng vấn trực tiếp 300 đối tượng, bao gồm 150 cán bộ nhân viên y tế và hộ lý, 50 bệnh nhân điều trị nội trú và 100 người nhà bệnh nhân bằng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống tại 13 khoa phòng trong khung thời gian từ tháng 6/2017 đến tháng 6/2018.

Nguyên nhân chính khiến công tác quản lý chất thải y tế tại bệnh viện gặp áp lực lớn là gì?
Nguyên nhân cốt lõi là tình trạng quá tải quy mô hoạt động khi số giường bệnh thực kê lên tới 400 giường, vượt 166,7% so với chỉ tiêu 150 giường kế hoạch, kết hợp với chi phí vận hành lò đốt ở mức cao (khoảng 80.000 đồng/kg) tạo ra thách thức lớn về hạ tầng và kinh phí xử lý thường xuyên.

Kết luận

  • Luận văn đã phân tích toàn diện hiện trạng phát sinh và quản lý chất thải tại Bệnh viện Đa khoa huyện Hà Trung trong bối cảnh công suất sử dụng thực tế đạt 400 giường bệnh, tiếp nhận 67.112 lượt khám mỗi năm.
  • Lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh trung bình đạt 229 - 250 kg/ngày và chất thải nguy hại đạt 5 - 13 kg/ngày, được phân loại tại nguồn qua hệ thống thùng chứa 4 màu đạt chuẩn.
  • Lò đốt chất thải rắn nguy hại duy trì nhiệt độ buồng thứ cấp trên 1.050°C và hệ thống nước thải xử lý từ 160 đến 380 mét khối/ngày đêm cơ bản đáp ứng các quy chuẩn QCVN 02:2012/BTNMT và QCVN 28:2010/BTNMT Cột B.
  • Đóng góp khoa học nổi bật của đề tài là xây dựng bộ cơ sở dữ liệu thực chứng từ 300 mẫu điều tra, làm căn cứ thực tiễn để nâng cao hiệu quả quản lý môi trường tại 47 bệnh viện trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa.
  • Lộ trình giai đoạn 2018 - 2020 cần ưu tiên đầu tư công nghệ tiệt khuẩn không khói Newster NW10 và mở rộng công suất xử lý nước thải lên 300 mét khối/ngày đêm.

Bạn đọc có thể tra cứu toàn văn Luận văn Thạc sĩ Khoa học Môi trường của tác giả Hoàng Anh Tuấn tại Trung tâm Thông tin Thư viện Trường Đại học Nông Lâm - Đại học Thái Nguyên để tiếp cận chi tiết hệ thống bảng biểu quan trắc và mô hình tính toán công nghệ.