CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1.1 Khái niệm liên quan tới môi trường KCN [5] Khái niệm KCN: Theo Nghị định 29/2008/NĐ-CP của Chính phủ Quy định về Khu công nghiệp, Khu chế xuất, Khu kinh tế thì: “KCN là khu chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, được thành lập theo điều kiện, trình tự và thủ tục quy định tại Nghị định này.” KCN là thành phố công nghiệp, một cộng đồng hoàn chỉnh, được quy hoạch đầy đủ các tiện nghi đa dạng, có hệ thống cơ sở hạ tầng hoàn hảo, hệ thống xử lý nước thải, hệ thống thương mại, hệ thống thông tin liên lạc, bệnh viện, trường học và khu chung cư. KCN có thể được thành lập và khai thác bởi các doanh nghiệp Việt Nam, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hay liên doanh, gọi chung là Công ty phát triển hạ tầng KCN. Công ty này có quyền cho thuê đất cho các doanh nghiệp khác muốn đầu tư vào KCN và cung cấp dịch vụ khác phù hợp với nội dung của Giấy phép đầu tư / Giấy chứng nhận đầu tư, ấn định giá thuê và phí dịch vụ trong KCN. Cụm công nghiệp là những khu công nghiệp quy mô nhỏ.
Chất thải rắn công nghiệp là CTR sinh ra trong quá trình sản xuất ở các nhà máy, xí nghiệp. và được chia thành hai loại: CTR không nguy hại và CTR nguy hại. Trong đó CTR nguy hại là chất thải chứa các yếu tố độc hại, phóng xạ, dễ cháy nổ, dễ ăn mòn, gây ngộ độc hoặc có đặc tính gây hại khác. Nước thải công nghiệp là nước thải được sinh ra trong quá trình sản xuất công nghiệp: Các công đoạn sản xuất và các hoạt động phục vụ cho sản Sinh viên: Trần Thị Thu Trang – MT1801Q 2 Khóa luận tốt nghiệp Trường Đại học Dân Lập Hải Phòng xuất như nước thải khi tiến hành vệ sinh công nghiệp hay hoạt động sinh hoạt của công nhân viên.
Khí thải công nghiệp là hỗn hợp các thành phần vật chất phát thải ra môi trường không khí từ ống khói, ống thải của các cơ sở sản xuất, chế biến, kinh doanh, dịch vụ công nghiệp. Xử lý chất thải là dùng biện pháp kỹ thuật để xử lý chất thải và không làm ảnh hưởng tới môi trường, tái tạo ra các sản phẩm có lợi cho xã hội nhằm phát huy hiệu quả kinh tế. Mục tiêu của xử lý chất thải là làm giảm hoặc loại bỏ các thành phần không mong muốn trong chất thải như: các chất độc hại, không hợp vệ sinh, tận dụng vật liệu và năng lượng trong chất thải. Quản lý chất thải là hoạt động phân loại, thu gom, vận chuyển, giảm thiểu, tái sử dụng, tái chế, xử lý, tiêu hủy, thải loại chất thải.2 Đặc điểm Khu công nghiệp [5] Mỗi nước khác nhau sẽ có các chính sách phát triển KCN khác nhau.
Căn cứ vào quy chế về KCN ta có thể rút ra các đặc điểm sau: - KCN có ranh giới địa lý xác định, chuyên sản xuất công nghiệp và thực hiện các dịch vụ sản xuất công nghiệp, trong KCN không có dân cư sinh sống, KCN trên lãnh thổ nước nào thì do Chính phủ nước đó thành lập hoặc cho phép thành lập ( tạm gọi là Chính phủ nước sở tại). - Trong KCN có các doanh nghiệp KCN hoạt động là doanh nghiệp của nước sở tại, doanh nghiệp nước ngoài hoặc KCX. - Trong KCN thông thường các doanh nghiệp dược đầu tư trong các lĩnh vực sau: +) Xây dựng và kinh doanh công trình cơ sở hạ tầng. +) Sản xuất, gia công, lắp ráp các sản phẩm công nghiệp để xuất khẩu hoặc tiêu thụ trong thị trường nước đó.
Sinh viên: Trần Thị Thu Trang – MT1801Q 3 Khóa luận tốt nghiệp Trường Đại học Dân Lập Hải Phòng +) Thực hiện các dịch vụ hỗ trợ sản xuất công nghiệp. - Doanh nghiệp KCN có những quyền chính sau: +) Thuê đất trong KCN để xây dựng nhà xưởng và công trình kiến trúc phục vụ sản xuất kinh doanh. +) Sử dụng có trả tiền các công trình cơ sở hạ tầng, các tiện nghi diện tích công cộng và các dịch vụ khác trong KCN. +) Thuê các phương tiện vận tải và các dịch vụ khác ở ngoài KCN.
- Doanh nghiệp KCN có những nghĩa vụ sau: +) Tuân thủ pháp luật nước sở tại, quy chế điều lệ của KCN. +) Đăng ký với BQL KCN về số lượng sản phẩm xuất khẩu hoặc tiêu thụ thị trường trong nước. +) Thực hiện các nghĩa vụ tài chính với nhà nước sở tại. +) Thực hiện các quy định về an toàn lao động vệ sinh môi trường, kế toán và an ninh trật tự phù hợp với quy định của KCN.
- Chính phủ nước sở tại luôn mong muốn và tạo điều kiện thuận lợi để các doanh nghiệp KCN xây dựng và phát triển cơ sở hạ tầng trong KCN.3 Tình hình Phát triển KCN Thế giới và Việt Nam 1.1 Tình hình phát triển KCN trên thế giới [2] Phát triển kinh tế cùng với quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa toàn cầu kết hợp với sự gia tăng dân số đã làm cho lượng chất thải tạo thành ngày càng tăng. Trong đó, lượng chất thải được tạo ra nhiều nhất tại các nước phát triển, đặc biệt là chất thải tại các khu công nghiệp. Anh là nước công nghiệp đầu tiên và là KCN được thành lập năm 1896 ở Manchester và sau đó là vùng công nghiệp Chicago (Mỹ), KCN Napoli (Ý) vào Sinh viên: Trần Thị Thu Trang – MT1801Q 4 Khóa luận tốt nghiệp Trường Đại học Dân Lập Hải Phòng những năm đầu thập kỷ 40 của thế kỷ trước. Đến những năm 50, 60 của thế kỷ XX, các vùng công nghiệp và các KCN phát triển nhanh chóng và rộng khắp các nước công nghiệp như là một hiện tượng lan tỏa, tác động và ảnh hưởng.
Vào thời kỳ này Mỹ có 452 vùng công nghiệp và gần 1.000 KCN, Pháp có 230 vùng công nghiệp, Canada có 21 vùng công nghiệp. Tiếp theo các nước công nghiệp đi trước, vào năm 60, 70 của thế kỷ trước, hàng loạt các KCN và KCX hình thành và phát triển nhanh chóng ở các nước công nghiệp hóa thế hệ sau như: Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore, Malaysia, Thái Lan. Cũng trong thời kỳ này, ở các nước XHCN trước đây, Liên Xô, Đức, Tiệp Khắc đang tiến hành xây dựng các xí nghiệp liên hợp, các cụm công nghiệp lớn, các trung tâm công nghiệp tập trung. Mặc dù có thể dưới những tên gọi khác nhau gắn với tính đăc thù của ngành sản xuất, nhưng chúng đều có những tính chất, đặc trưng chung của KCN.
Trong những năm mới phát triển, KCN được xem là mô hình quy hoạch công nghiệp. Khu công nghiệp được sử dụng như một công cụ phát triển kinh tế và mục đích kinh tế này ngày càng được chú trọng, đặc biệt là các nước đang phát triển. Vì vậy, ngày nay từ rất sớm một số nước đang phát triển ở Đông Nam Á cũng đã có số lượng KCN tăng lên đáng kể nhằm tạo bước đột phá trong nên kinh tế của họ. Hoạt động của các KCN một mặt mang lại lợi ích kinh tế, mặt khác lại phát sinh tác hại môi trường do hoạt động công nghiệp đã không được quan tâm đúng mức trong một thời gian dài.
Tại Thái Lan, KCN đầu tiên được thành lập năm 1972, đó là khu Bangchan rộng khoảng hơn 198 ha ở huyện Min Buri của Bangkok. Cùng năm, Ban quản lý các KCN Thái Lan (IEAT) được thành lập. Hiện nay, IEAT đang quản lý hoặc cùng quản lý 38 KCN đang hoạt động phân bố ở Bangkok và 14 tỉnh khác, với 400 nghìn lao động trong 3300 doanh nghiệp. Ngoài ra còn có các KCN do chính quyền địa phương và tư nhân phát triển.
Tại Malaysia, số lượng các KCN đang hoạt động tăng lên nhanh chóng từ con số 0 năm 1970 lên 105 năm 2002. Trong khi đó ở các vùng phát triển con Sinh viên: Trần Thị Thu Trang – MT1801Q 5 Khóa luận tốt nghiệp Trường Đại học Dân Lập Hải Phòng số các KCN đã tăng lên từ con số 8 năm 1970 lên 188 năm 2002 và hầu như các KCN được đặt tại các trung tâm tăng trưởng quan trọng. Tại Indonesia, tính đến tháng 11/2007 có 225 KCN đang hoạt động với tổng diện tích 75.457 ha, hầu hết ở trên đảo Java. Số lượng các KCN ở Indonesia tăng mạnh từ năm 1990 đến khi khủng hoảng 1997 nổ ra.
Từ năm 2003, khi hiệp định thương mại tự do ASEAN có hiệu lực, các KCN phát triển khá mạnh trở lại. Tuy nhiên, tỷ lệ thấp lấp đầy khá thấp, bình quân khoảng 42% vào năm 2006. Vào đầu những năm 1990, các KCN đã được xây dựng tràn lan tại Trung Quốc. Đến cuối năm 1991, Trung Quốc chỉ có 117 KCN.
Tuy nhiên, con số này đã lên đến 2.700 vào cuối năm 1992 và các khu này được phê duyệt từ các cấp khác nhau, từ cấp chính quyền trung ương, cấp tỉnh, thành phố, thị trấn cho đến cấp quận và nhiều khu thậm chí được xây dựng mà không có cấp chính quyền nào phê chuẩn Và trong những năm gần đây, trước chiến lược mới của Trung Quốc nhằm phát triển miền Tây nước này nhiều KCN mới chính thức được chính quyền Trung ương phê duyệt. Do vậy, số lượng các KCN lại có cơ hội bùng nổ lần nữa. Theo Bộ Tài nguyên và đất đai, trong số 3.837 KCN chỉ có 6% được phê duyệt bởi Quốc vụ viện và 26.6% được phê duyệt bởi chính quyền cấp tỉnh.2 Tình hình phát triển KCN ở Việt Nam [8] Đối với Việt Nam, chủ trương xây dựng và phát triển KCN, KCX đã được Đảng và Nhà nước ta đề ra trên cơ sở nghiên cứu, vận dụng lý luận chung, kinh nghiêm của các nước trong khu vực và xuất phát từ thực tiễn nước ta. Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước đã tích cực thực hiện các đường lối đổi mới, mở cửa, hội nhập quốc tế thông qua việc ban hành luật và chính sách thu hút đầu tư trực tiếp từ nước ngoài với nhiều ưu đãi, khuyến khích.
Cùng với thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài là các chính sách khuyến khích đầu tư trong Sinh viên: Trần Thị Thu Trang – MT1801Q 6 Khóa luận tốt nghiệp Trường Đại học Dân Lập Hải Phòng nước, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư về tiếp cận mặt bằng sản xuất kinh doanh, thủ tục hành chính.