Đặt vấn đề Trồng trọt và chăn nuôi là hai bộ phận chính trong phát triển của nghành nông nghiệp. Hiện nay trong cơ cấu nghành nông nghiệp có xu hướng giảm tỷ lệ nghành trồng trọt và tăng tỷ lệ nghành chăn nuôi bên cạnh đó nhu cầu của người tiêu dùng đối với các sản phẩm chăn nuôi ngày càng cao không những về số lượng mà cả về chất lượng. Chăn nuôi hiện nay là một nghành mũi nhọn trong việc chuyển đổi cơ cấu sản xuất nông nghiệp theo hướng hàng hóa đa dạng vật nuôi, trong đó co lợn và gà được chăn nuôi phổ biến nhất ở Việt Nam. Theo sô liệu của Tổng cục thống kê năm 2014 đàn lợn nước ta khoảng 26,76 triệu con, đàn trâu bò khoangr,75 triệu con, đàn gia cầm khoảng 327,69 triệu con.
Trong đó chăn nuôi nông hộ hiện tại vẫn chiếm tỷ trọng khoangr65-70% về số lượng và sản lượng. Từ số gia súc gia cầm đó quy đổi được lượng chất thải đàn gia súc, gia cầm của thải ra khoảng trên 76 triệu tấn, và khoảng trên 30 triệu khối chất lỏng. Phân của vật nuôi chưa nhiều chất chứa nitơ, photpho, kẽm, đồng, chì, asen, niken. và các vi sinh vật gây hại khác không những gây ô nhiễm không khí mà còn làm ô nhiễm đất, làm rối loạn độ phì của đất, mặt nước mà cả nguồn nước ngầm.
Bên cạnh những hiệu quả kinh tế về chăn nuôi trang trại cũng đang bộc lộ một số tồn tại, hạn chế cần khắc phục như: đa số quy mô trang trại chăn nuôi còn nhỏ, thiếu quy hoạch tổng thể về lâu dài của các địa phương dẫn đến các trang trại phát triển manh mún, thiếu đầu tư và đặc biệt gây ô nhiễm môi trường do chất thải, từ các hoạt động chăm sóc gia súc gia cầm và vệ sinh chuồng trại. Vì chất thải sau chăn nuôi lợn thường có mùi hôi thối, các chất tạo mùi thường có sẵn trong nước hoặc do vi sinh vật tạo thành từ các vật chất hữu cơ, nếu chất thải sau chăn nuôi xử lý không tốt sẽ gây ô nhiễm môi 2 trường và lây lan dịch bệnh nghiêm trọng cho động vật và người. Do vậy, việc xử lý chất thải trong chăn nuôi là vấn đề quan trọng hàng đầu hiện nay trong ngành chăn nuôi. Xã Phú Lương, Huyện Phú Binh, tỉnh Thái Nguyên đã và đang trên đà phát triển với mật độ dân số ngày càng tăng.
Ngành chăn nuôi lợn trên địa bàn xã những năm qua đã có bước phát triển mạnh mẽ về số lượng trang trại chiếm một phần không nhỏ trong ngành chăn nuôi. Nhưng vấn đề nước thải tại một số trang trại nuôi trên địa bàn xã rất đáng lo ngại, theo điều tra cho thấy 50% nước thải của các trang trại được qua xử lý bằng hầm ủ Biogas nhưng chất lượng của các hầm này chưa đạt tiêu chuẩn nên nước thải môi trường vẫn còn gây ô nhiễm. Xuất phất từ thực tế, để đánh giá hiện trạng môi trường nước thải xung quanh các trang trại chăn nuôi lợn trên địa bàn Xóm Việt Ninh, Xã Lương Phú, tỉnh Thái Nguyên, em đã tiến hành thực hiện đề tài: “Đánh giá hiện trạng quản lý chất thải và biện pháp xử lý tại trang trại Long Cương, Xóm Việt Ninh, Xã Lương Phú, Huyện Phú, tỉnh Thái Nguyên”. Mục đích của đề tài - Đánh giá hiện trạng quản lý chất lượng nước thải, không khí trong chăn nuôi tại trang trại.
- Đề xuất biện pháp xử lý giảm thiểu ô nhiễm tại trang trại 1.4 Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa trong khoa học - Áp dụng kiến thức đã học của nhà trường vào thực tế. - Nâng cao kiến thức thực tế. - Tích luỹ kinh nghiệm cho công việc sau khi ra trường.
- Bổ sung tư liệu cho học tập. Ý nghĩa thực tiễn 3 Qua quá trình nghiên cứu thực trạng chất thải của các trang trại chăn nuôi lợn để biết được mặt mạnh, mặt yếu kém, những khó khăn và tồn tại trong việc quản lý và xử lý chất thải từ đó tìm ra những giải pháp bảo vệ môi trường phù hợp với điều kiện của trang trại, giúp các trang trại chăn nuôi lợn có công tác quản lý môi trường được tốt hơn. - Góp phần giải quyết vấn đề ô nhiễm tại trang trại. 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.
CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 2. Cơ sở pháp lý - Luật bảo vệ môi trường đã được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ngày 23 tháng 06 năm 2014 - Nghị định 19/2015/NĐ-CP hướng dẫn Luật Bảo vệ môi trườngcủa chính phủ về việc quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo Vệ Môi Trường. - Thông tư số 27/2015/TT-BTNMT của Bộ Tài nguyên và Môi trường : Về đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường và kế hoạch bảo vệ môi trường - Thông tư số 04/2016/TT-BTNMT về ban hành quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải chăn nuôi (QCVN 62-MT:2016/BTNMT). - Thông tư 71/2011/TT-BNNPTNT ngày 25 tháng 10 năm 2011 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia lĩnh vực Thú y.
+ Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia: Cơ sở chăn nuôi gia súc, gia cầm - Quy trình kiểm tra, đánh giá điều kiện vệ sinh thú y. Ký hiệu: QCVN 01 - 79: 2011/BNNPTNT + Quy chuẩn kỹ th1uật quốc gia: Bệnh động vật - Yêu cầu chung lấy mẫu bệnh phẩm, bảo quản và vận chuyển. Ký hiệu:QCVN 01 - 83: 2011/BNNPTNT - Quyết định số 2509/QĐ-BNN-CN 22/06/2016 về Quy chế chứng nhận và Quy trình thực hành chăn nuôi tốt cho chăn nuôi lợn, gà an toàn trong nông hộ. 5 - Quyết định số 1788/QĐ-TTg 01/10/2013 của Thủ tướng Chính phủ : Phê duyệt Kế hoạch xử lý triệt để các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng đến năm 2020.
- QCVN 62-MT: 2016 / BTNMT Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải dừa có hiệu lực thi hành từ ngày 15/06/2016 * Luật phòng chống bệnh truyền nhiễm ( Luật số 03/2007/QH12, ngày 21/11/2007): + Điều 5: Nhà nước hỗ trợ thiệt hại tiêu hủy gia súc, gia cầm mang tác nhân gây bênh truyền nhiễm. + Điều 15: Vệ sinh trong chăn nuôi, vận chuyển, giết mổ, gia súc, gia cầm và động vật khác phải đảm bảo vệ sinh môi trường, không gây ô nhiễm môi trường, nguồn nươc sinh hoạt. +Điều 16: Trong khi nuôi phải đảm bảo không bị nhiễm vào sản phẩm các tác nhân hây bệnh truyền nhiễm 2. Cơ sở thực tiễn 2.
Tình hình nghiên cứu và xử lý chất thải chăn nuôi trên Thế giới - Để đáp ứng nhu cầu thực phẩm của con người, ngành chăn nuôi trên thế giới đã phát triển rất nhanh và đạt được nhiều thành tựu to lớn. Trên thế giới, chăn nuôi hiện chiếm khoảng 70% đất nông nghiệp và 30% tổng diện tích đất tự nhiên (không kể diện tích bị băng bao phủ). Chăn nuôi đóng góp khoảng 40% tổng GDP nông nghiệp toàn cầu. Tuy nhiên, bên cạnh việc sản xuất và cung cấp một số lượng lớn sản phẩm quan trọng cho nhu cầu của con người, ngành chăn nuôi cũng đã gây nên nhiều hiện tượng tiêu cực về môi trường.
Ngoài chất thải rắn và chất thải lỏng, chăn nuôi hiện đóng góp khoảng 18% hiệu ứng nóng lên của trái đất (global warming) do thải ra các khí gây hiệu ứng nhà kính: khí CO2 chiếm 9%, khí mêtan (CH4) 37% và oxit nitơ (N2O) là 6 65%. Những loại khí này sẽ còn tiếp tục tăng lên trong thời gian tới FAO (Teruo Higa,2002) [12] - Theo dự báo của FAO, 2011 về nhu cầu sử dụng các sản phẩm chăn nuôi của thế giới dự kiến sẽ còn tiếp tục tăng gấp đôi trong nửa đầu của thế kỷ này. Nhưng cũng đồng thời trong thời gian trên con người sẽ phải chứng kiến nhiều sự biến đổi môi trường và khí hậu theo chiều hướng không mong đợi, môi trường sống ngày càng bị đe dọa bởi chính các hoạt động chăn nuôi. Do vậy, việc hướng tới một ngành chăn nuôi chất lượng cao không chỉ giúp đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của con người về các sản phẩm có nguồn gốc động vật mà đồng thời phải chịu trách nhiệm với chính con người về mặt môi trường và xã hội khi sản xuất ra những sản phẩm đó(Bùi Xuân An,2007)(Bùi Xuân An, 2007)[1] - Theo số liệu thống kê của Tổ chức Nông lương thế giới FAO năm 2011 số lượng đầu gia súc và gia cầm chính của thế giới như sau: tổng đàn trâu là 182,2 triệu con và phân bố chủ yếu ở các nước Châu Á, tổng đàn bò 1.164,8 triệu con, dê 591,7 triệu con, cừu 847,7 triệu con, lợn 887,5 triệu con, gà 14.191,1 triệu con và tổng đàn vịt là 1.
Tốc độ tăng về số lượng vật nuôi hàng năm của thế giới trong thời gian vừa qua thường chỉ đạt trên dưới 1% năm( Teruo Higa,2002)[12] - Về số lượng, đàn bò nhiều nhất là Brazin 204,5 triệu con, thứ hai là Ấn Độ 172,4 triệu con, thứ ba là Hoa Kỳ 94,5 triệu con, thứ tư là Trung Quốc 92,1 triệu con, thứ năm Ethiopia và thứ sáu Argentina có trên 50 triệu con bò( Teruo Higa,2002)[12] - Ấn Độ là một quốc gia đứng đầu về chăn nuôi trâu, hiện nay số lượng trâu của Ấn Độ có khoảng 106,6 triệu con (chiếm trên 58% tổng số trâu của thế giới), hứ hai là Pakistan 29,9 triệu con, thứ ba là Trung Quốc 23,7 triệu con, thứ 7 tư là Nepan 4,6 triệu con, thứ năm Egypt 3,5 triệu con, thứ sáu Philippine 3,3 triệu con và Việt Nam đứng thứ 7 thế giới đạt 2,8 triệu con trâu. - Các cường quốc về chăn nuôi lợn của thế giới: số đầu lợn hàng năm số một là Trung Quốc 451,1 triệu con, thứ hai là Hoa Kỳ 67,1 triệu, thứ barazin 37,0 triệu, Việt Nam đứng thứ 4 có 27,6 triệu con và đứng thứ năm là Đức 26,8 triệu con lợn. - Về chăn nuôi gà thì Trung Quốc là một quốc gia có nền chăn nuôi gia cầm phát triển nhất thế giới, hiện nay số lượng gà của Trung Quốc đứng vị trí số một trên thế giới là 4.702,2 triệu con, tiếp đến thứ hai là Indonesia 1.341,7 triệu con, thứ ba là Brazin 1.205,0 triệu con, thứ bốn là ấn Độ 613 triệu con và thứ năm là Iran 513triệu con gà. Việt Nam về chăn nuôi gà có 200 triệu con đứng thứ 13 thế giới.
- Chăn nuôi vịt đứng thứ nhất vẫn là Trung Quốc có 771 triệu con, thứ hai là Việt Nam 84 triệu, thứ ba là Indonesia 42,3 triệu, thứ tư là Bangladesh 24 triệu và cuối cùng đứng thứ năm là Pháp có 22,5 triệu con vịt.