Chương 1 trình bày các khái niệm về phát triển và phát triển bền vững, nội dung phát triển bền vững của Liên Hiệp Quốc và của Việt Nam, các chỉ tiêu đánh giá phát triển bền vững địa phương, phương pháp xác định chỉ số phát triển bền vững địa phương tổng hợp và bài học kinh nghiệm cho tỉnh Đồng Nai.Khái niệm về phát triển và phát triển bền vững 1.Khái niệm về phát triển Tăng trưởng kinh tế đó chính là sự gia tăng thu nhập của nền kinh tế ở tại một khoảng thời gian nhất định, được thể hiện ở quy mô và tốc độ. Quy mô tăng trưởng là sự gia tăng nhiều hay ít…Tốc độ tăng trưởng là sự gia tăng nhanh hay chậm giữa các giai đoạn và có ý nghĩa so sánh tương đối…Thu nhập của nền kinh tế được biểu hiện dưới dạng hiện vật hoặc giá trị. Vậy bản chất của tăng trưởng là sự biến đổi về lượng và chất của nền kinh tế. Theo Nafziger ( 1984 ), phát triển kinh tế đó là sự tăng trưởng kinh tế với những biến đổi về phân phối sản lượng và cơ cấu kinh tế.
Do đó, phát triển kinh tế là sự thể hiện những biến đổi cả về kinh tế, xã hội, chính trị, môi trường tự nhiên…Hay có thể nói, phát triển kinh tế gồm: Quá trình tăng trưởng, quá trình dịch chuyển kinh tế ( Chủ yếu là việc giảm tỉ lệ nông nghiệp, tăng dần tỉ lệ công nghiệp và dịch vụ của nền kinh tế ) và là sự biến đổi ngày càng tốt hơn của xã hội ( Tăng tuổi thọ bình quân, giảm sự bất bình đẳng trong xã hội…).nhưng theo quan niệm chung nhất, phát triển là sự gia tăng về quy mô, tăng thêm về tốc độ và nâng cao chất lượng. phát triển kinh tế có thể xem là sự tăng tiến tất cả các mặt của nền kinh tế cả về lượng và chất, đó là sự kết hợp của quá trình hoàn thiện cả hai vấn đề là kinh tế - xã hội tại các nước nên nó có tính lâu dài và do các yếu tố nội tại của nền kinh tế quyết định. Khái quát nội dung phát triển kinh tế gồm: sự gia tăng tổng mức thu nhập của nền kinh tế, sự biến đổi đúng hướng của cơ cấu kinh tế, sự biến đổi ngày càng hoàn thiện tốt hơn của xã hội. Mục tiêu chính của sự phát triển kinh tế tại các nước không phải là sự tăng trưởng hay dịch chuyển cơ cấu kinh tế mà đó là việc xóa bỏ nghèo đói, suy dinh dưỡng, gia tăng tuổi thọ bình quân, khả năng tiếp cận các nhu cầu cơ bản: dịch vụ y tế, nước sạch, trình độ dân trí…Hiện nay, nhiều nước trên thế giới đã có sự tăng trưởng và phát triển kinh tế ở mức độ khá cao, Họ lo sợ đén những ảnh hưởng tiêu cực của sự tăng trưởng và phát triển nhanh đến tương lai con người.
Từ đó họ quan tâm đến sự phát triển bền vững và khái niệm phát triển bền vững chính thức ra đời.2 Khái niệm về phát triển bền vững Hiện nay có nhiều khái niệm về phát triển bền vững, chủ yếu mang tính tổng quát, định tính đề cập đến các vấn đề như: Tăng trưởng kinh tế, phân phối tài sản công bằng ở một thế hệ và giữa các thế hệ, cung ứng các nguồn lực, chất lượng môi trường và sự phát triển kinh tế - môi sinh… Khái niệm “phát triển bền vững” xuất hiện trong phong trào bảo vệ môi trường từ những năm đầu của thập niên 70 của thế kỷ XX, từ đó đến nay đã có nhiều định nghĩa về phát triển bền vững được đưa ra, như: – Phát triển bền vững là sự phát triển kinh tế – xã hội lành mạnh, dựa trên việc sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên và bảo vệ môi trường, nhằm đáp ứng nhu cầu hiện tại nhưng không làm ảnh hưởng bất lợi cho các thế hệ mai sau. – Phát triển bền vững là sự phát triển kinh tế – xã hội với tốc độ tăng trưởng cao, liên tục trong thời gian dài dựa trên việc sử dụng có hiệu quả nguồn tài nguyên thiên nhiên mà vẫn bảo vệ được môi trường sinh thái. Phát triển kinh tế nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của xã hội hiện tại, song không làm cạn kiệt tài nguyên, để lại hậu quả về môi trường cho thế hệ tương lai. – Phát triển bền vững là phát triển đáp ứng các nhu cầu hiện tại mà không làm thương tổn đến khả năng của các thế hệ tương lai đáp ứng nhu cầu của họ.
Trong báo cáo Brundtland “ Our Common Future “ ( Tương lai của chúng ta ), ủy ban môi trường và phát triển thế giới ( WCED,1987 ) lần đầu tiên chính thức đưa ra định nghĩa về phát triển bền vững: “ Phát triển bền vững là sự phát triển mà đáp ứng các nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng các nhu cầu của các thế hệ tương lai “. Nội hàm của định nghĩa này nói lên hai khái niệm cơ bản quan trọng: khái niệm về nhu cầu ( Needs ), cụ thể là các nhu cầu cần thiết của những người nghèo trên thế giới phải nhận được sự ưu tiên cao nhất. Ý niệm về sự giới hạn ( Limitations ), của tình trạng công nghệ và tổ chức xã hội có khả năng ảnh hưởng trong môi trường để đáp ứng nhu cầu trong hiện tại và tương lai. Luận văn này vận dụng kết quả lý luận nghiên cứu của đề tài khoa học “ Nghiên cứu xây dựng tiêu chí phát triển bền vững cấp quốc gia ở Việt Nam – giai đoạn I “ Viện môi trường và phát triển bền vững, hội liên hiệp các hội khoa học kỹ thuật Việt Nam, 2003), làm cơ sở nghiên cứu tập trung đo lường, đánh giá mức độ phát triển về kinh tế, xã hội và môi trường của tỉnh Đồng Nai giai đoạn 2015 – 2019.3 Các mô hình phát triển bền vững 79 Đã có nhiều công trình nghiên cứu về phát triển bền vững như: công trình nghiên cứu: “Tiến tới môi trường bền vững” của Trung tâm tài nguyên và môi trường; công trình nghiên cứu “Xây dựng tiêu chí phát triển bền vững cấp quốc gia ở Việt Nam” của Liên hiệp các Hội khoa học kỹ thuật Việt Nam… Cùng với các mô hình phát triển bền vững như mô hình của WCED (1987) “Tương tác đa lĩnh vực kinh tế, chính trị, hành chính, công nghệ, quốc tế, sản xuất, xã hội” ); mô hình “ba vòng tròn kinh tế, xã hội, môi trường giao nhau” của Jacobs và Sadler (1990); mô hình của Villen “Liên hệ thống kinh tế, xã hội, sinh thái” (năm 1990); mô hình “ba nhóm mục tiêu kinh tế, xã hội, môi trường” của ngân hàng thế giới (WB)…Theo Jacobs và Sadler (năm 1990), phát triển bền vững là kết quả dung hòa và thỏa hiệp của ba hệ thống chủ yếu, đó là (i) Hệ thống bao gồm các thành phần môi trường của trái đất; các hệ sinh thái tự nhiên và nguồn tài nguyên thiên nhiên có trong tự nhiên; (ii) Hệ kinh tế bao gồm hệ sản xuất và phân phối sản phẩm; (iii) Hệ xã hội bao gồm quan hệ giữa con người với con người trong xã hội.1: Mô hình ba vòng tròn giao nhau phát triển bền vững.
Mô hình phát triển bền vững của UNCED ( 1993 ), đề cao các mục tiêu kinh tế ( nâng cao thu nhập người dân, phát triển các nghành nghề kinh tế và GDP, GNP), mục tiêu xã hội ( thỏa mãn các nhu cầu của mọi người dân và các cộng đồng dân cư ), mục tiêu môi trường ( giữ lâu dài cân bằng của các hệ sinh thái nuôi dưỡng sự sống ). Theo Mohan Munasinghe (1993) đưa ra mô hình phát triển bền vững ba cực: cực kinh tế thể hiện khả năng phát triển kinh tế của một nước dựa trên yếu tố nguồn nhân lực – vật lực– tài lực. Đó là vấn đề khó khăn để hội đủ hiệu quả cả 3 yếu tố này, yêu cầu cần phải đảm bảo tăng trưởng kinh tế hiệu quả và ổn định. Cực xã hội thể hiện sự phát triển kinh tế phải gắn với phát triển xã hội, đảm bảo chất lượng cuộc sống của mọi người dân được nâng cao.
Cực môi trường đòi hỏi quá trình phát triển của con người phải coi trọng và bảo vệ môi trường chung của thế giới. Bên cạnh đó còn có mô hình của ủy ban môi trường và phát triển thế giới về phát triển bền vững gồm: kinh tế, chính trị, xã hội, hành chính, công nghệ, sản xuất 80 và quốc tế…Mô hình này xem xét phát triển bền vững của một quốc gia, yêu cầu phải đảm bảo phát triển hài hòa của các yếu tố trên…Tuy có nhiều mô hình phát triển bền vững khác nhau, nhưng hiện nay mô hình tam giác phát triển bền vững được sử dụng rộng rãi và phổ biến. Vũ Thịnh Trường ( 2019 ), Giáo trình lý thuyết phát triển bền vững.2: Mô hình tam giác phát triển bền vững. Mối quan hệ giữa các phương diện phát triển bền vững Trong các mối tương quan qua lại của phát triển bền vững, đặc biệt khi xét về khía cạnh ba trụ cột kinh tế, xã hội, môi trường dễ dàng nhận thấy đó là các mối quan hệ qua lại giữa kinh tế - môi trường, kinh tế - xã hội, xã hội – môi trường.
Trong đó, mối quan hệ kinh tế - môi trường nhắc đến các giá trị môi trường cần phải được định giá và đưa vào trong các giá trị của hoạt động kinh tế tương ứng nhằm đánh giá đúng giá trị của nguồn lực được sử dụng.Tính không chắc chắn, không thể hoàn lại và những sự sụp đổ thảm khốc của môi trường tự nhiên đòi hỏi các quyết định kinh tế cần phải được phân tích, đánh giá và cân nhắc kỹ lưỡng các tác động mà nó có thể gây ra. Còn mối quan hệ kinh tế - xã hội đề cập đến nguyên tắc “ Công bằng trong cùng thế hệ “ các thành quả kinh tế phải được phân phối công bằng giữa các cá nhân trong xã hội, hay người nghèo phải được đảm bảo các nhu cầu cơ bản và các cơ hội việc làm để duy trì cuộc sống với một tiêu chuẩn nhất định. Người dân phải được chính quyền tham khảo ý kiến và trao quyền cho họ tham gia vào quá trình ra quyết định các vấn đề kinh tế liên quan trực tiếp đến họ thì mối quan hệ xã hội – môi trường nhắc đến nguyên tắc “ Công bằng giữa các thế hệ “ quan tâm đến phát triển bền vững đòi hỏi thế hệ tương lai phải được đền bù cho các cơ hội mà họ bị lấy đi do các hoạt động của thế hệ hiện tại.