Tổng quan nghiên cứu

Sản lượng fomalđehyt trên toàn cầu hiện đạt khoảng 20 triệu tấn mỗi năm với tốc độ tăng trưởng bình quân 5 phần trăm hàng năm, đứng thứ tư trong bảng xếp hạng các hóa chất công nghiệp thông dụng nhất. Tại Việt Nam, nhu cầu tiêu thụ dung dịch fomalđehyt 37 phần trăm ước tính đạt từ 30.000 đến 35.000 tấn mỗi năm nhằm phục vụ nhiều lĩnh vực kinh tế và y tế. Trong ngành y học, fomalđehyt là dung môi kinh điển giữ vai trò thiết yếu để cố định, khử trùng và bảo quản mẫu mô bệnh phẩm nhờ khả năng liên kết chéo bền vững với protein. Tuy nhiên, từ tháng 4 năm 2004, Cơ quan Nghiên cứu Ung thư Quốc tế đã chính thức xếp fomalđehyt vào nhóm 1 các chất có bằng chứng chắc chắn gây ung thư ở người, đặc biệt là ung thư vòm họng và bệnh bạch cầu. Dù vậy, tại các cơ sở khám chữa bệnh ở Việt Nam, điều kiện vệ sinh lao động và nguy cơ phơi nhiễm độc chất của nhân viên y tế tại các khoa phòng chuyên biệt vẫn chưa nhận được sự quan tâm thích đáng. Luận văn tập trung giải quyết vấn đề đánh giá thực trạng ô nhiễm fomalđehyt trong môi trường không khí làm việc và lượng hóa nguy cơ rủi ro sức khỏe cho nhân viên y tế tại Khoa Giải phẫu bệnh. Nghiên cứu được triển khai tại ba cơ sở y tế trọng điểm gồm Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức, Bệnh viện K và Bệnh viện Xanh Pôn tại Hà Nội trong giai đoạn 2010 đến 2012. Ý nghĩa cốt lõi của đề tài là thiết lập bộ chỉ số định lượng về nồng độ phơi nhiễm thực tế và mức độ rủi ro sức khỏe phi ung thư cũng như ung thư theo chuẩn quốc tế, tạo cơ sở khoa học tin cậy để đề xuất giải pháp kiểm soát ô nhiễm không khí và bảo vệ sức khỏe cho đội ngũ y tế.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng mô hình Đánh giá Rủi ro Sức khỏe Con người theo hướng dẫn của Hội đồng Tiêu chuẩn Thực phẩm Quốc tế và Cơ quan Bảo vệ Môi trường Hoa Kỳ. Mô hình này bao gồm bốn bước nền tảng: nhận diện mối nguy hại, đánh giá phơi nhiễm, đánh giá độc tính và đặc tính rủi ro sức khỏe. Đồng thời, đề tài ứng dụng lý thuyết độc chất học phơi nhiễm nghề nghiệp qua đường hô hấp để xác định cơ chế hấp thụ và chuyển hóa của fomalđehyt trong cơ thể người. Khi hít vào, fomalđehyt phản ứng nhanh với các đại phân tử sinh học tạo thành axit formic và liên kết không đảo ngược với cấu trúc di truyền. Nghiên cứu tập trung vào năm khái niệm định lượng then chốt: Liều tiếp nhận hàng ngày trung bình, Thương số nguy hại phi ung thư, Hệ số nguy cơ ung thư với hệ số góc an toàn 4,5 đơn vị trên mỗi miligam trên kilogam thể trọng mỗi ngày, Giới hạn tiếp xúc ca làm việc trung bình 8 giờ theo Quyết định 3733/2002/QĐ-BYT với ngưỡng 0,5 miligam trên mét khối, và Giới hạn tiếp xúc ngắn tối đa 1,0 miligam trên mét khối.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn được thu thập từ việc đo đạc quan trắc môi trường thực địa tại 13 phòng làm việc thuộc Khoa Giải phẫu bệnh và 7 phòng làm việc đối chứng tại ba bệnh viện, kết hợp với điều tra phỏng vấn trực tiếp nhân viên y tế và hồi cứu sổ sách quản lý cấp phát hóa chất.

Về cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu, nghiên cứu thực hiện khảo sát toàn bộ 100 phần trăm các phòng chức năng tham gia vào quy trình xử lý, cắt lọc, đúc nhuộm và lưu trữ mẫu bệnh phẩm, đồng thời chọn mẫu đối chứng là các khoa phòng không tiếp xúc hóa chất trong cùng cơ sở y tế như Khoa Kế toán tài chính, Khoa Huyết học và Khoa Vi sinh. Toàn bộ nhân viên y tế làm việc trực tiếp tại các vị trí này đều được đưa vào diện điều tra dịch tễ học nghề nghiệp.

Phương pháp phân tích được lựa chọn là kỹ thuật lấy mẫu không khí chủ động bằng máy Kimoto của Nhật Bản với tốc độ hút 0,3 lít trên phút trong thời gian 1 giờ cho mỗi lần đo. Nhằm phản ánh chính xác sự biến động nồng độ độc chất trong ngày, mẫu được lấy tại 4 múi giờ rải đều ca làm việc gồm 8 đến 9 giờ, 10 đến 11 giờ, 13 giờ 30 đến 14 giờ 30 và 15 giờ 30 đến 16 giờ 30, sau đó gộp mẫu đại diện cho ca 8 giờ. Phân tích định lượng fomalđehyt được thực hiện bằng phương pháp đo quang trên máy quang phổ tử ngoại khả kiến ở bước sóng 548 nanomét theo tiêu chuẩn kỹ thuật của Viện Y học lao động và Vệ sinh môi trường kết hợp quy trình NIOSH 3500. Phương pháp này được lựa chọn do độ nhạy vượt trội với giới hạn phát hiện đạt 0,001 miligam. Toàn bộ dữ liệu được phân tích thống kê qua phần mềm chuyên dụng trong mốc thời gian từ 2010 đến 2012.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, lượng tiêu thụ hóa chất fomalđehyt tại các bệnh viện có sự chênh lệch lớn tương ứng với quy mô tiếp nhận bệnh phẩm. Bệnh viện K ghi nhận khối lượng xử lý cao nhất với 3.000 mẫu bệnh phẩm và sử dụng 20 lít dung dịch fomalđehyt đậm đặc mỗi tháng. Con số này cao gấp 2 lần so với Bệnh viện Việt Đức với 1.600 mẫu bệnh phẩm và 10 lít hóa chất đậm đặc mỗi tháng, đồng thời cao gấp 4 lần về lượng hóa chất và gấp 15 lần về số mẫu so với Bệnh viện Xanh Pôn với 200 mẫu và 5 lít mỗi tháng.

Thứ hai, mức độ ô nhiễm không khí tại Khoa Giải phẫu bệnh ở mức nghiêm trọng khi có 40 phần trăm vị trí đo tại Bệnh viện Việt Đức với 2 trên 5 phòng và 40 phần trăm vị trí tại Bệnh viện K với 2 trên 5 phòng vượt Tiêu chuẩn Vệ sinh lao động theo Quyết định 3733/2002/QĐ-BYT.

Thứ ba, nồng độ fomalđehyt tập trung cao đột biến tại các phòng thao tác thủ công. Tại Bệnh viện K, Phòng pha bệnh phẩm có nồng độ lên tới 2,21 miligam trên mét khối, vượt giới hạn cho phép 4,42 lần; Phòng kỹ thuật mô học thông thường đạt 0,93 miligam trên mét khối, vượt chuẩn 1,86 lần. Tại Bệnh viện Việt Đức, Phòng nhận và cắt bệnh phẩm đạt 1,17 miligam trên mét khối, vượt chuẩn 2,34 lần; Phòng rửa dụng cụ và pha hóa chất đạt 0,88 miligam trên mét khối, vượt chuẩn 1,76 lần. Ngược lại, tất cả 7 vị trí đối chứng đều có nồng độ dưới ngưỡng phát hiện 0,001 miligam.

Thứ tư, kết quả đánh giá nguy cơ sức khỏe chỉ ra rằng chỉ số rủi ro phi ung thư tại các vị trí phơi nhiễm cao đều lớn hơn 1, dao động từ 1,76 đến 4,42, khẳng định khả năng gây hại rõ rệt cho hệ hô hấp. Đồng thời, hệ số rủi ro ung thư tích lũy cả đời của nhân viên y tế tại các khu vực này vượt mức 10 lũy thừa âm 4 đến 10 lũy thừa âm 3, thuộc nhóm nguy cơ cao đến rất cao.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng ô nhiễm không khí vượt ngưỡng xuất phát từ diện tích phòng thao tác quá chật hẹp, chỉ từ 7 đến 10 mét vuông, thiếu hoàn toàn hệ thống hút khí cục bộ chuyên dụng. Tại các phòng cắt và pha bệnh phẩm, nhân viên y tế thường mở cửa sổ và sử dụng quạt điện thông thường, khiến hơi hóa chất không được triệt tiêu mà bị phát tán mạnh sang các khu vực lân cận. Bên cạnh đó, việc ngâm lưu bệnh phẩm trong các hộp nhựa không kín khít làm lượng hơi độc bay hơi liên tục trong 18 đến 24 giờ.

Khi so sánh với các nghiên cứu quốc tế, kết quả này hoàn toàn tương đồng với các công bố tại 8 bệnh viện lớn ở Tehran với nồng độ phòng giải phẫu bệnh đạt 0,96 ppm và các khảo sát tại Mỹ dao động từ 0,6 đến 1,7 ppm. Điểm khác biệt là tại các nước phát triển, hệ thống tủ hút chuyên dụng đã giúp giảm thiểu đáng kể thời gian phơi nhiễm trực tiếp của nhân viên.

Về phương diện trực quan hóa dữ liệu, các kết quả đo đạc và lượng hóa rủi ro được tổng hợp trực quan thông qua biểu đồ cột thể hiện sự chênh lệch nồng độ fomalđehyt giữa các phòng chức năng và bảng ma trận đánh giá mức độ rủi ro sức khỏe. Cách trình bày này giúp làm nổi bật các điểm nóng ô nhiễm cần ưu tiên can thiệp khẩn cấp.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, nâng cấp hạ tầng kỹ thuật bằng việc lắp đặt tủ hút khí độc chuyên dụng và hệ thống hút mùi cục bộ tại tất cả các bàn nhận, cắt và pha mẫu bệnh phẩm. Mục tiêu là kiểm soát nồng độ fomalđehyt trong không khí phòng làm việc duy trì dưới mức quy chuẩn 0,5 miligam trên mét khối, giảm trên 70 phần trăm nồng độ phơi nhiễm hiện tại. Thời gian triển khai hoàn thành trong 6 tháng, do Ban Giám đốc bệnh viện phê duyệt và Phòng Vật tư - Thiết bị y tế chủ trì thực hiện.

Thứ hai, chuẩn hóa vật tư lưu trữ và quy trình thao tác kỹ thuật bằng cách chuyển đổi hoàn toàn sang bình chứa thủy tinh có nút nhám hoặc hộp nhựa chuyên dụng có gioăng đệm cao su kín khí tuyệt đối để ngâm giữ mô bệnh phẩm. Biện pháp này hướng tới mục tiêu loại bỏ 100 phần trăm hiện tượng rò rỉ hơi độc ra môi trường trong thời hạn 3 tháng, do Trưởng khoa Giải phẫu bệnh chịu trách nhiệm giám sát.

Thứ ba, trang bị phương tiện bảo hộ cá nhân đặc thù đạt tiêu chuẩn an toàn hóa chất, bắt buộc 100 phần trăm kỹ thuật viên và bác sĩ tiếp xúc trực tiếp phải sử dụng mặt nạ phòng độc có phin lọc hơi hữu cơ chuyên dụng và găng tay nitrile chống thấm thay thế cho khẩu trang y tế thông thường. Kế hoạch cấp phát và tập huấn sử dụng cần hoàn tất trong vòng 1 tháng dưới sự điều phối của Hội đồng An toàn vệ sinh lao động bệnh viện.

Thứ tư, thiết lập chương trình quan trắc môi trường lao động định kỳ 6 tháng một lần và tổ chức khám sức khỏe chuyên khoa hô hấp, da liễu cùng xét nghiệm công thức máu chuyên sâu 1 năm một lần cho toàn bộ nhân viên khoa Giải phẫu bệnh. Chương trình này cần được duy trì thường niên do Khoa Kiểm soát nhiễm khuẩn phối hợp cùng Trung tâm Y tế dự phòng địa phương thực hiện.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Thứ nhất, Ban Giám đốc và các nhà quản lý bệnh viện có thể sử dụng các số liệu thực chứng và phân tích rủi ro trong luận văn làm căn cứ khoa học để xây dựng kế hoạch đầu tư cơ sở vật chất, phân bổ ngân sách cải tạo môi trường làm việc và ban hành quy chế an toàn vệ sinh lao động đặc thù cho khối cận lâm sàng.

Thứ hai, đội ngũ bác sĩ, kỹ thuật viên và nhân viên y tế tại Khoa Giải phẫu bệnh có thể tham khảo để nâng cao nhận thức về độc tính của hóa chất, hiểu rõ các công đoạn có nguy cơ phơi nhiễm cao nhất và áp dụng đúng quy trình bảo hộ nhằm giảm thiểu tác hại sức khỏe lâu dài.

Thứ ba, các nhà nghiên cứu, cán bộ chuyên trách an toàn lao động và chuyên gia môi trường y tế có thể ứng dụng khung lý thuyết đánh giá rủi ro sức khỏe bốn bước và phương pháp lấy mẫu đa thời điểm để mở rộng nghiên cứu sang các loại độc chất khác trong bệnh viện như dung môi hữu cơ hay khí mê.

Thứ tư, giảng viên, học viên cao học và sinh viên các chuyên ngành Khoa học môi trường, Sức khỏe nghề nghiệp và Y tế công cộng có thể khai thác tài liệu này như một tài liệu tham khảo điển hình về phương pháp luận kết hợp giữa kỹ thuật trắc quang hóa học và mô hình lượng hóa rủi ro dịch tễ học.

Câu hỏi thường gặp

Câu hỏi 1: Nồng độ fomalđehyt đo được tại các bệnh viện trong nghiên cứu vượt quy chuẩn bao nhiêu lần?

Trả lời: Tại Bệnh viện K, Phòng pha bệnh phẩm có nồng độ cao nhất đạt 2,21 miligam trên mét khối, vượt 4,42 lần so với Tiêu chuẩn Vệ sinh lao động 0,5 miligam trên mét khối. Tại Bệnh viện Việt Đức, Phòng nhận và cắt bệnh phẩm đạt 1,17 miligam trên mét khối, vượt 2,34 lần quy chuẩn hiện hành.

Câu hỏi 2: Mô hình đánh giá rủi ro sức khỏe trong luận văn được tính toán dựa trên các thông số nào?

Trả lời: Nghiên cứu áp dụng mô hình của Cơ quan Bảo vệ Môi trường Hoa Kỳ dựa trên các thông số thực tế của nhân viên y tế gồm tốc độ hô hấp 3,6 mét khối trong ca 8 giờ, tần suất làm việc 240 ngày mỗi năm, thời gian công tác 30 năm, trọng lượng cơ thể trung bình 60 kilogam và hệ số dốc ung thư đường hô hấp 4,5.

Câu hỏi 3: Phơi nhiễm fomalđehyt vượt ngưỡng kéo dài gây ra những hậu quả sức khỏe cụ thể nào?

Trả lời: Tiếp xúc ngắn hạn ở nồng độ trên 2 ppm gây cay mắt, rát họng, chảy nước mũi và khó thở cấp tính. Tiếp xúc mạn tính trong nhiều năm làm tăng nguy cơ viêm xoang, viêm da tiếp xúc dị ứng, tổn thương móng tay và đặc biệt là làm tăng nguy cơ mắc bệnh ung thư vòm họng cùng các bệnh lý ác tính dòng bạch cầu.

Câu hỏi 4: Vì sao khẩu trang y tế thông thường không thể bảo vệ nhân viên y tế trước hơi fomalđehyt?

Trả lời: Khẩu trang y tế thông thường chỉ có cấu trúc màng lọc cơ học giữ được các hạt bụi và giọt bắn vi sinh vật kích thước micro-mét, hoàn toàn không có khả năng hấp phụ hay ngăn chặn các phân tử khí fomalđehyt có kích thước siêu nhỏ dễ dàng bay hơi ở nhiệt độ phòng.

Câu hỏi 5: Quy trình xử lý bệnh phẩm hiện nay có thể thay thế hoàn toàn dung dịch fomalđehyt được không?

Trả lời: Hiện nay trên 90 phần trăm cơ sở y tế vẫn bắt buộc dùng fomalđehyt 10 phần trăm vì tính ưu việt trong bảo tồn cấu trúc tế bào và chi phí rẻ. Một số dung dịch cố định thay thế không chứa andehyt đã được nghiên cứu nhưng chưa thể ứng dụng đại trà do giá thành cao và hạn chế về độ ổn định tiêu bản.

Kết luận

  • Khảo sát thực địa khẳng định 40 phần trăm vị trí làm việc tại Khoa Giải phẫu bệnh của các bệnh viện lớn có nồng độ fomalđehyt vượt Tiêu chuẩn Vệ sinh lao động từ 1,76 đến 4,42 lần.
  • Lượng hóa thành công mức độ nguy hại sức khỏe với chỉ số rủi ro phi ung thư lớn hơn 1 và nguy cơ rủi ro ung thư nghề nghiệp ở mức cao đến rất cao đối với nhân viên y tế tiếp xúc trực tiếp.
  • Xác định các mắt xích ô nhiễm trọng điểm tập trung tại khâu pha chế, nhận cắt mẫu bệnh phẩm và rửa dụng cụ tái sử dụng do thao tác thủ công và hạ tầng thông gió chưa đạt chuẩn.
  • Đóng góp bộ dữ liệu thực chứng tin cậy phục vụ công tác xây dựng chính sách, bổ sung tiêu chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường lao động đặc thù trong các cơ sở y tế.
  • Hoàn thiện gói giải pháp đồng bộ 4 nội dung kết hợp giữa kỹ thuật thông gió hút độc, chuẩn hóa dụng cụ lưu trữ, trang bị bảo hộ chuyên dụng và quan trắc sức khỏe định kỳ.

Về lộ trình tiếp theo, các cơ sở y tế cần khẩn trương phê duyệt đề án trang bị tủ hút khí độc chuyên dụng và cấp phát mặt nạ phòng độc lọc hơi hữu cơ cho 100 phần trăm nhân viên Khoa Giải phẫu bệnh ngay trong quý tới nhằm xóa bỏ triệt để các rủi ro sức khỏe nghề nghiệp tiềm tàng.