PHẦN MỞ ĐẦU 1. LÍ DO HÌNH THÀNH ĐỀ TÀI Với vị trí địa lý thuận lợi và sự quan tâm hỗ trợ về mặt chính sách của chính quyền địa phương, Bình Dương trở thành địa điểm lý tưởng thu hút đầu tư của nhiều doanh nghiệp trong và ngoài nước. Dĩ an là một thị xã của tỉnh Bình Dương, tiếp giáp với 2 thành phố lớn là Biên Hòa và thành phố Hồ Chí Minh đồng thời là cửa ngõ quan trọng để đi các tỉnh miền Trung, Tây Nguyên và các tỉnh phía Bắc. Dĩ An là một trong những nơi tập trung nhiều khu chế xuất, khu công nghiệp, trường học và dân cư đông đúc.
Do vậy nhu cầu sử dụng nước sạch cho sinh hoạt và sản xuất rất lớn. Trước những thực trạng đó, vấn đề quan tâm lúc bấy giờ của lãnh đạo tỉnh là nhanh chóng xây dựng một hệ thống cấp nước tập trung đáp ứng nhu cầu sinh hoạt, sản xuất của người dân và doanh nghiệp. Vào năm 2000 Công Ty Cấp Thoát Nước Tỉnh Bình Dương tiến hành xây dựng Chi nhánh nước Dĩ An. Năm 2003, Chi nhánh nước Dĩ An- giai đoạn 1 được đưa vào hoạt động và công suất thiết kế Q = 15.
Đến năm 2005, Chi nhánh đã đưa giai đoạn 2 vào hoạt động, cấp nước cho toàn khu vực với tổng công suất Q = 30. Năm 2004, nhận thấy sự cần thiết phải thành lập ra các đơn vị trực thuộc tương xứng với quy mô hoạt động của Công ty, ngày 17/08/2004 Ban lãnh đạo công ty đã quyết định thành lập Xí nghiệp cấp nước Dĩ An trực thuộc Công ty Cấp Thoát Nước Tỉnh Bình Dương, là Xí nghiệp cấp nước đầu tiên của Công ty đi đầu trong việc ứng dụng những công nghệ mới vào sản xuất, cung cấp nước sạch, tự chủ trong điều hành sản xuất kinh doanh nhưng vẫn theo định hướng phát triển chung của công ty. Mặc dù các vấn đề an toàn sức khỏe, môi trường đã được Chi nhánh quan tâm xây dựng giải pháp giảm thiểu, song công tác này vẫn còn một vài hạn chế và chưa đạt hiệu quả tối đa. Chính vì vậy, đề tài: “Đánh giá rủi ro quá trình xử lí nước cấp tại Chi nhánh Cấp Nước Dĩ An” đã được thực hiện nhằm đánh giá một cách cụ thể các rủi ro về an toàn sức khỏe và môi trường trong quá trình xử lí nước cấp tại Chi nhánh, công tác quản lý an toàn sức khỏe đang được thực hiện tại Chi nhánh và đề xuất các giải pháp, xây dựng kế hoạch quản lý an toàn, sức khỏe và môi trường một cách hiệu quả cho Chi nhánh.
MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI Đề tài gồm có 2 mục tiêu nghiên cứu cụ thể sau: 1 - Đánh giá rủi ro an toàn sức khỏe, môi trường trong quá trình xử lí nước cấp tại Chi nhánh Cấp Nước Dĩ An. - Đề xuất giải pháp quản lý an toàn sức khỏe, môi trường tại Chi nhánh Cấp Nước Dĩ An nhằm hạn chế những rủi ro ảnh hưởng xấu đối với an toàn của Chi nhánh, sức khỏe người lao động và chất lượng môi trường. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU - Đối tượng nghiên cứu: các rủi ro cho an toàn, sức khỏe người lao động và môi trường trong quá trình xử lí nước cấp, các giải pháp quản lý an toàn, sức khỏe và môi trường trong quá trình xử lí nước cấp. - Phạm vi nghiên cứu: + Về không gian: Đề tài tập trung nghiên cứu tại Chi nhánh Cấp Nước Dĩ An, tỉnh Bình dương + Về thời gian: nghiên cứu từ 1/9/2020 đến 30/11/2020.
Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI Kết quả nghiên cứu nhằm đánh giá được rủi ro có thể xảy ra trong quá trình xử lí nước cấp tại Chi nhánh, công tác quản lý an toàn sức khỏe môi trường tại Chi nhánh Cấp Nước Dĩ An, từ đó đưa ra những ưu điểm, hạn chế để đề xuất giải pháp quản lý góp phần nâng cao hiệu quả trong công tác quản lý, giúp doanh nghiệp ngày càng phát triển hơn trong tương lai và cũng góp phần vào sự phát triển của các khu công nghiệp, người dân và góp phần bảo vệ nguồn nước sông Đồng Nai, đảm bảo mỹ quan và vệ sinh môi trường đô thị trên địa bàn tỉnh Bình Dương. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. TỔNG QUAN VỀ AN TOÀN SỨC KHỎE MÔI TRƯỜNG 1. Khái niệm An Toàn Sức Khỏe và Môi Trường (HSE - Health Safety and Environment) là ngành hoạt động vì sức khoẻ và sự an toàn của người lao động, sự bảo toàn của máy móc, thiết bị, tài sản và sự phát triển bển vững đối với môi trường sống.
Với quan điểm là tất cả các tai nạn, rủi ro hay các tác động đến môi trường đều có thể kiểm soát được. Ngành HSE phát triển không ngừng và đi vào nhiều lĩnh vực hoạt động cũng như cuộc sống hàng ngày để đảm bảo hay bảo vệ con người, thiết bị, tài sản và môi trường sống của chúng ta. Phòng HSE của một số công ty cũng chịu trách nhiệm về công tác bảo vệ môi trường, sức khoẻ nghề nghiệp và an toàn lao động.Stephan, ngành HSE thông thường có hai mục tiêu, đó là phòng ngừa sự cố hoặc tai nạn lao động và giảm thiểu những ảnh hưởng bất lợi có thể xảy ra trong điều kiện hoạt động bình thường. Lịch sử hình thành Cách tiếp cận quản lý HSE chính thức đầu tiên xuất hiện vào năm 1985 trong ngành công nghiệp hóa chất bởi hậu quả của các vụ tai nạn thảm khốc (như thảm họa Seveso, thảm họa Bhopal).
Sáng kiến tự phát trên toàn thế giới được gọi là "Chăm sóc có trách nhiệm" được đặt ra ở khoảng 50 quốc gia và phối hợp với Hội đồng Quốc tế của Hiệp hội Hóa học (ICCA). Nó bao gồm tám tính năng cơ bản nhằm đảm bảo sự an toàn, vệ sinh lao động và bảo vệ môi trường trong quy trình sản xuất sản phẩm cũng như cố gắng chứng minh bằng những chiến dịch xây dựng hình ảnh ngành công nghiệp hóa học đang hoạt động một cách có trách nhiệm. Tuy nhiên, sáng kiến này chỉ được giới hạn trong các ngành công nghiệp hóa chất. Từ những năm 1990, cách tiếp cận chung để quản lý HSE mà phù hợp với bất kì loại hình tổ chức nào có thể được tìm thấy trong các tiêu chuẩn quốc tế như ISO 14001 về quản lý môi trường và OHSAS 18001 về quản lý an toàn và sức khỏe lao động hoặc Đề án Kiểm soát và Quản lý Kinh tế châu Âu (EMAS).
Vào năm 1998, hướng dẫn HSE cũng được lập ra bởi Tổng công ty Tài chính Quốc tế. Một ví dụ điển hình về những hoạt động của một nhóm thuộc một công ty làm về Sức khỏe, An toàn và Môi trường (HSE) tập trung vào trao đổi thông tin, kinh nghiệm liên quan đến những khía cạnh về sức khỏe, an toàn và môi 3 trường của một vật liệu cùng với quảng bá những cách thức thực hiện hiệu quả chẳng hạn như sử dụng vật liệu tái chế. Ở Việt Nam, Công ty Tài chính quốc tế IFC (thuộc Ngân hàng Thế giới) đã hỗ trợ Tổng cục Môi trường thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường trong việc rà soát và xây dựng kế hoạch 5 năm về xây dựng và hoàn thiện các quy định và tiêu chuẩn kỹ thuật về môi trường và đến năm 2007 đã cho ra đời Cuốn sách Sổ tay Hướng dẫn chung về Môi trường, Sức khỏe và An toàn, đánh dấu một bước quan trọng trong quan hệ hợp tác của Bộ và IFC 1. Lợi ích của HSE Bảo vệ con người và môi trường Hệ thống quản lý HSE sẽ giúp cho doanh nghiệp giảm tỉ lệ tử vong hay thương tật do TNLĐ, giảm tác động đối với môi trường xung quanh.
Các BNN sẽ được kiểm soát, môi trường sẽ trong lành hơn, NLĐ và cộng đồng sẽ có được một môi trường sống và làm việc an toàn và thân thiện. Tăng lợi nhuận và uy tín cho doanh nghiệp Khi một tai nạn hay sự cố xảy ra, doanh nghiệp sẽ phải bỏ ra rất nhiều chi phí để khắc phục. Có những chi phí hữu hình như chi phí trả cho NLĐ bị tai nạn, cho người bị hại hay chi phí sửa chữa thiết bị, phục hồi sản xuất, khôi phục môi trường còn có những chi phí không thể tính toán bằng tiền được đó là mất uy tín trên thương trường. Giảm tai nạn sự cố nghĩa là doanh nghiệp đã tăng được lợi nhuận cho mình.
Bên cạnh đó việc đáp ứng tầm quan trọng ngày càng tăng của an toàn, sức khỏe nghề nghiệp và bảo vệ môi trường uy tín của doanh nghiệp đạt được điều đó. Đảm bảo tuân thủ pháp luật Hệ thống quản lý HSE sẽ giúp cho doanh nghiệp một công cụ nhận diện đầy đủ và chính xác các yêu cầu pháp luật mà doanh nghiệp cần tuân thủ. Điều này vô cùng quan trọng đối với những doanh nghiệp mong muốn có sự phát triển bển vững. Trong thời kì hội nhập lợi ích kinh tế được đánh giá cao hơn dựa vào các vấn đề bảo vệ môi trường, độ an toàn và đảm bảo sức khỏe cho người lao động ngày càng được quan tâm nhiều hơn.
Vì vậy chỉ có thực hiện tốt hệ thống quản lý HSE, thì hiệu suất lao động của con người mới được nâng cao tạo động lực cho sự phát triển. TỔNG QUAN VỀ CHI NHÁNH CẤP NƯỚC DĨ AN 1. Lịch sử thành lập và phát triển của Chi nhánh 4 Bình Dương nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và có nhiều khu công nghiệp( KCN), cụm công nghiệp đang hoạt động. Khu vực phía Đông Nam với thành phố Thuận An là trung tâm được quy hoạch thành địa bàn phát triển công nghiệp tập trung lớn của tỉnh Bình Dương.
Tại khu vực này nhiều khu công nghiệp đã được Chính Phủ cấp giấy phép đầu tư xây dựng và đã có nhiều nhà đầu tư xây dựng các Chi nhánh xí nghiệp trong khu công nghiệp này. Nhu cầu dùng nước cho sinh hoạt và sản xuất tại khu công nghiệp trên ngày càng lớn và tăng nhanh chóng. Khu vực TX.Thủ Dầu Một khi đó đang được cấp nước tại Chi nhánh nước Thủ Dầu Một, công suất 21. Ở khu vực phía Đông Nam kinh tế xã hội phát triển mạnh mẽ, nhưng lúc này chưa có hệ thống cấp nước tập trung.
Phần lớn nước sinh hoạt của người dân lấy từ các giếng đào, nước dùng cho các cơ sở sản xuất từ các giếng khoan với lưu lượng mỗi giếng từ 10-30m3/h. Tuy nhiên, nguồn nước ngầm ở đây có trữ lượng rất nghèo nàn, mùa khô thường cạn kiệt, ảnh hưởng lớn đến sinh hoạt của người dân cũng như sự phát triển chung của khu vực.