Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Vị trí và tầm quan trọng của rau Rau xanh là thực phẩm cần thiết không thể thiếu, cung cấp phần lớn các chất khoáng và Vitamin, góp phần cân bằng dinh dưỡng trong bữa ăn hàng ngày của con người. Đồng thời rau là cây trồng mang lại hiệu quả kinh tế cao là mặt hàng xuất khẩu quan trọng của nhiều nước. Cây rau đã được loài người trồng từ khi loài người xuất hiện.
Từ xa xưa người Ai Cập cổ đại, người Hy Lạp đã trồng và sử dụng rau bắp cải như là nguồn lương thực cho con người. Theo FAO, hiện nay nhiều nước trên thế giới trồng rất nhiều chủng loại rau với diện tích rất lớn. Tại các nước phát triển tỷ lệ cây rau so với cây lương thực là 2/1 còn các nước đang phát triển thì tỷ lệ này là 1/2 (Lê Trần Đức, 1997) [6]. Giá trị dinh dưỡng của rau xanh Rau xanh là loại thực phẩm cần thiết cho cuộc sống hàng ngày và không thay thế được, rau không chỉ cung cấp một lượng dinh dưỡng nhất định đặc biệt là chất khoáng và các loại vitamin trong khẩu phần ăn hàng ngày mà còn cung cấp cellulose giúp cho cơ thể tiêu hoá thức ăn dễ đào thải nhanh colesterolle và các chất độc khác ra khỏi cơ thể, rau còn là nguồn dược liệu quí làm tăng sức khoẻ và kéo dài tuổi thọ của con người.
Có thể thấy nguồn dinh dưỡng từ rau xanh rất phong phú, chúng bao gồm: Vitamin, protein, lipit, gluxit, các chất khoáng và chất xơ,… đáng chú ý là vitamin và chất khoáng có trong rau ưu thế hơn một số cây trồng khác (Nguyễn Thúy Hà và cs, 2010) [7]. So sánh thành phần dinh dưỡng của cây rau và cây ngũ cốc, A.Sididque (1985) (Trần Văn Lài – Lê Thị Hà, 2002) [16] cho biết rau, đặc biệt là rau ăn lá có hàm lượng vitamin và các khoáng chất cao hơn lúa mỳ và lúa nước rất nhiều lần. Các loại vitamin có trong rau như: Vitamin A, B1, B2, C, E, PP,. có tác dụng quan trọng trong quá trình phát triển của cơ thể, cùng các chất khoáng trong rau chủ yếu như K, Mg, Ca, Fe, vi lượng,.
là những chất rất cần thiết để cấu tạo nên máu và xương (Lê Trần Đức, 1997) [6]. Hiện nay, trong khẩu phần ăn của con người, rau xanh đã cung cấp khoảng 90 - 99% nguồn vitamin A, 60 - n 4 70% nguồn vitamin B2 và gần 100% vitamin C. Vitamin giúp cho các hoạt động sinh lý diễn ra bình thường trong cơ thể, nếu thiếu bất kỳ một loại vitamin nào sẽ gây rối loạn chức năng hoạt động sống của con người. Cụ thể: Nếu thiếu vitamin A sẽ gây bệnh quáng gà, hoặc mắt không có khả năng thích nghi với ánh sáng mờ, khi sự thiếu hụt này tăng lên thì bệnh quáng gà sẽ tiến triển thành bệnh Xeropthalmia, làm hỏng thị lực.
Vitamin B cần thiết cho cơ thể sử dụng Hydratcacbon, protein và ngăn ngừa bệnh thiếu máu, thiếu vitamin B gây mệt mỏi, kém ăn cơ thể tê phù. Thiếu vitamin C gây chảy máu chân răng, chân tay mệt mỏi, cơ thể suy nhược. Thiếu vitamin D trẻ chậm lớn, còi xương,… (Nguyễn Thúy Hà và cs, 2010) [7]. Như vậy nếu thiếu các loại vitamin sẽ làm giảm sức dẻo dai, giảm hiệu suất làm việc, dễ phát sinh bệnh tật, do đó trong lao động, học tập và sinh hoạt hằng ngày, mỗi người phải cần một lượng vitamin nhất định.
Ngoài việc cung cấp vitamin, rau còn cung cấp một lượng chất khoáng đáng kể như: Ca, P, Fe,… Trong các chất khoáng cần thiết cho cơ thể con người thì Ca và Fe được chú ý hơn cả, Ca rất cần thiết cho việc đảm bảo chức năng xương và răng, Fe ngăn ngừa bệnh thiếu máu. Các loại muối khoáng cần thiết cho cấu tạo tế bào, các loại enzyme, muối khoáng còn là tác nhân gây xúc tác điều hòa các quá trình sinh tổng hợp trong cơ thể con người, chúng có tác dụng trung hòa độ chua do dạ dày tiết ra khi tiêu hóa thức ăn, đồng thời làm tăng khả năng đồng hóa protit. Rau xanh còn cung cấp một lượng chất xơ, có khả năng làm tăng hoạt động của nhu mô ruột và hệ tiêu hóa, ngăn ngừa được chứng táo bón. Chất xơ ảnh hưởng có lợi đến hàm lượng cholesterol trong máu, do vậy ảnh hưởng tốt đến huyết áp và tim, ngăn ngừa được sỏi mật và ung thư ruột.
Số lượng chất xơ lớn có trong rau và với giá trị năng lượng thấp của nó sẽ có tác dụng ngăn ngừa bệnh béo phì. Bên cạnh đó nó có vai trò trong việc điều trị bệnh đái tháo đường. Nhờ có hàm lượng chất xơ này rau được coi như một loại thức ăn có lợi cho sức khỏe (Nguyễn Thúy Hà và cs, 2010) [7]. Một số cây rau được sử dụng như những cây dược liệu quí như: Tỏi ta, Gừng, Nghệ, Tía tô, Hành tây, Lá lốt,.
được coi là dược liệu tốt cho hệ tiêu hoá của người và động vật. Rau ngót, Mướp đắng, Khoai sọ, Đậu đen là thuốc bổ âm làm mát cơ thể. Mướp hoang, Rau diếp là thuốc thông mạch điều kinh tan kết tụ. Bí đỏ, Rau sam là thuốc trị lị, trừ giun rất tốt.
Theo quan điểm của các nhà dinh dưỡng học thì mỗi người cần 250 - 300g rau xanh/ngày để đáp ứng cho sự hoạt động bình thường của con người. Giá trị kinh tế Ngoài giá trị dinh dưỡng rau là loại cây trồng mang lại hiệu quả kinh tế cao. Rau là loại cây có thể trồng được ở nhiều vùng sinh thái khác nhau. Mặt khác rau là loại cây trồng có thời gian sinh trưởng ngắn và có thể trồng nhiều vụ trong năm do vậy rau được coi là loại cây trồng chủ lực trong việc chuyển dịch cơ cấu cây trồng xoá đói giảm nghèo cho nông dân Việt Nam.
Vào những năm 1986 - 1990 kim ngạch xuất khẩu đã đạt trên 70 triệu USD/năm. Từ năm 1991 đến nay lượng rau xuất khẩu là 10. So với lúa gạo, giá trị đem lại từ xuất khẩu rau quả gấp 1,5 - 3 lần. Năm 1997 kim ngạch xuất khẩu rau của nước ta đạt 140 triệu USD tăng 170% so với năm 1985 và chiếm 1,6 % tổng kim ngạch xuất khẩu trong cả nước.
Đài Loan thu nhập tính bằng tiền trên 1 ha rau hơn hẳn các cây trồng khác.Theo số liệu thống kê trên toàn nước Mỹ năm 1997 cho thấy, tổng giá trị thu được trên 1 ha trồng rau cao hơn so với lúa nước và lúa mỳ, trong đó trồng cà chua cho thu nhập cao hơn hơn khoảng 4 lần so với lúa nước và 20 lần so với lúa mỳ (G. Theo số liệu điều tra của Viện kinh tế nông nghiệp (dẫn theo Trần Văn Lài) [16] năm 1996 tại 4 tỉnh Hà Nội, Hà Tây, Nam Định và Thái Bình cho thấy tổng thu nhập trên 1 ha của ngô là 3.000 đồng, khoai tây 15.000 đồng, bắp cải là 11.000 đồng, dưa chuột là 23. Kết quả điều tra của Tô Thị Thu Hà và Nguyễn Văn Hiền (2005) [8], tại vùng ven đô Hà Nội thu nhập của việc trồng rau cao gấp 4 lần so với các cây lương thực, trong khi chi phí chỉ gấp 2 lần, điều này dẫn đến lãi thuần của cây rau cao hơn 14 lần so với cây lương thực. Ngoài việc dùng rau làm cây thực phẩm, một số loại rau như khoai tây còn được coi là một trong năm cây lương thực trên thế giới sau lúa, ngô, mỳ, mạch.
Khoai tây hiện là nguồn tinh bột chủ yếu của nhiều nước. Bên cạnh đó rau còn là nguồn nguyên liệu cung cấp cho ngành thực phẩm như: công nghệ sản xuất nước giải khát, đồ hộp, bánh kẹo và làm hương liệu chế biến thuốc, n 6 dược liệu. Ngoài ra rau còn góp phần phát triển kinh tế khác như chăn nuôi (là nguồn thức ăn cho chăn nuôi). Tình hình sản xuất và tiêu thụ rau trên thế giới và Việt Nam 1.
Tình hình sản xuất và tiêu thụ rau trên Thế giới Trên thế giới rau là loại cây được trồng từ lâu đời. Người Hy Lạp, Ai Cập cổ đại đã biết trồng rau và sử dụng rau bắp cải như một nguồn thực phẩm. Năm 1961 - 1965, tổng lượng rau của thế giới là 200.234 tấn; từ năm 1971 - 1975 tổng lượng rau đạt 293.657 tấn và từ năm 1981 - 1985 là 392.060 tấn; đến năm 1996 tổng lượng rau đã lên đến 565. Sản lượng rau trên thế giới tăng lên rất nhanh, điều đó chứng tỏ nhu cầu rau của con người ngày càng tăng.
Trên thế giới những nước có sản lượng rau tăng nhanh nhất là Ý, năm 1982 đạt 9.000 tấn; đến năm 1996 sản lượng tăng đạt 13. Ở Hà Lan, năm 1985 bình quân 84 kg/người/năm; đến năm 1990 đạt 202kg/người/năm. Ở Canada mức tiêu thụ rau bình quân là 70 kg/người/năm. Từ năm 2000 trở lại đây diện tích trồng rau trên thế giới tăng bình quân mỗi năm trên 600.000 ha, sản lượng rau cũng tăng dần qua các năm.
Cho đến nay, tình hình sản xuất rau trên thế giới không ngừng phát triển cả về diện tích và sản lượng thể hiện qua bảng 1.1: Tình hình sản xuất rau trên thế giới qua các năm Năm Diện tích (ha) Năng suất (kg/ha) Sản lượng (tấn) 2003 17.1 ta thấy: Tình hình sản xuất rau trên thế giới từ năm 2003 trở lại đây có tăng về diện tích; nhưng năng suất và sản lượng thì không ổn định, cụ thể: - Về diện tích: Từ năm 2006 - 2009 diện tích trồng rau trên thế giới biến động từ 17.556 ha; đến năm 2010 diện tích rau đạt 18.088 ha, tăng 1,09% so với năm 2009 [37]. - Về năng suất: Trong giai đoạn 2003 - 2007, năng suất rau đều tăng từ 132.858 kg/ha lên 142. Trong đó, năng suất rau năm 2007 cao nhất, đạt 142.199 kg/ha, tăng 510 kg/ha so với năm 2006; sau đó năng suất rau giảm dần ở những năm tiếp theo và năng suất rau thấp nhất vào năm 2010 (đạt 132.858 kg/ha), giảm 4,19% so với năm 2009 và thấp hơn năng suất trung bình giai đoạn 2003 - 2010 (đạt 139.653 kg/ha) là 6. - Về sản lượng: Trong vòng 8 năm (2003 - 2010), sản lượng rau cao nhất ở năm 2008 (đạt 249.
Tuy năm này không phải là năm có diện tích và năng suất rau cao nhất, nhưng cũng không phải là thấp so với các năm khác trong giai đoạn này, cụ thể: Năm 2010, diện tích rau lớn nhất, đạt 18.088 ha; nhưng năng suất năm này thấp nhất, chỉ đạt 132.858 kg/ha, thấp hơn năng suất cao nhất (năm 2007 đạt 142.341 kg/ha và thấp hơn năng suất trung bình trong giai đoạn (2003 - 2010) 6. Còn năm 2008 là năm có diện tích rau tuy không phải là nhiều nhất (đạt 17.