CHƯƠNG I: TONG QUAN VAN ĐÈ NGHIÊN CỨU VÀ TINH HÌNH CHUNG CUA KHU VỰC NGHIÊN COU 1. Tổng quan tình hình ô nhiễm trên các hệ thống thủy lợ 1.1 Các nguồn chủ yéu gây ô nhiễm nguồn nước. Hiện nay, tỉnh trạng 6 nhiễm nước là vẫn d& rit đảng lo ngại ở nước ta. Ô nhiễm nước làm thay đổi theo chiều xấu đi các tính chat vật lý — hoá học - sinh học cửa nước, với sự xuất hi ác chí lạ thé lông, rắn làm cho nguồn nước trở nên độc hại với con người và sinh vật.
Lim giảm đa dang sinh vật trong nước, giảm giá trị sử dụng của nước. Cie nguồn gây 6 nhiễm nguồn nước có thể kể đến như sau: 1. Nước thải sinh hoạt ‘Qué trình đô thị hoá tại VN điễn ra rit nhanh. Những đô thị lớn tai VN như Hà Nội, TP Hồ Chi Minh, Hải Phòng, Di Nẵng bị 6 nhiễm nước rit nặng nề.
Đô thị ngày cảng phinh ra tại VN, nhưng cơ sở hạ ting lại phát triển không cân xứng, đặc biệlà hệ thống xử ý nước thải sinh hoạt tại VN võ cũng thô sơ Theo Hội Bảo vệ thiên nhiên và môi trường Việt Nam (VACNE), nước thải sinh hoạt chiếm khoảng 80% tổng số nước thai ở các thành phd, là một nguyên nhân. chính gây nên tỉnh trạng 6 nhiễm nước và vẫn để này có xu hướng cảng ngây cảng xấu di. Ước tinh, hiện chỉ có khoảng 6% lượng nước thải đô thị được xử lý. Quá trình công nghiệp hoá và biện đại hoá khiến luồng di cư đỗ về đô thị, Song việc thu gom, xử lý rác thải và nước thai sinh hoạt lại không được để ý.
Theo đánh giá VN trong vòng ít nhất là 10-15 năm nữa sẽ còn phải hứng chịu các tác động nặng nề do nước thai sinh hoạt không được xử lý Một báo cáo toàn chu mới được Tổ chức Y tế thể giới (WHO) công bổ hỏi đầu năm 2010 cho thấy, mỗi năm Việt Nam có hon 20.000 người tir vong do điều kiện nước sạch và vệ sinh nghèo nàn và thấp kém, Côn theo thống kể của Bộ Y #6, hơn 80% các bệnh truyền nhiễm ở nước ta liên quan đến ng nn nước. Người dn ở cả 3g thôn và thành tị dang phải đối mặt với nguy cơ mắc bệnh do môi trường nước dang ngày một 6 nhiễm tim trọng. Hình ảnh nước thải sinh hoạt của người ân thải tực tgp ra kênh mương ở hình 1. Nước thải công nghiệp i trường nước do nước thai từ KCN trong những năm gần đây là tăng này cao hơn rit nhiều so với tổng nước thải từ các lĩnh vực.
khác, Tinh đến thắng 6/2012, có khoảng 62% các KCN đã xây dựng hệ thống xử lý nước thải tập trung nhưng theo đánh giá chung của Cục cảnh sát phòng chồng tội phạm về môi trường PC49, các công trình này dit đã đi vào hoạt đông nhưng hiệu cquả không cao, dẫn đến tinh trang 75% nước thải KCN thải ra ngoài với lượng 6 ém cao. Điển hình là Khu vực kinh tế trong điểm phía Nam gm Tp. Hỗ Chí Minh (TPHCM), Ding Nai và Bình Dương được xem là khu vực tập trung nhiều KCN và dự án FDI lớn nhất cá nước, mặc dù ty lệ xây dựng hệ thống xứ lý nước. thải tập trung ở khu vực nảy khá cao, nhưng tỉnh trạng vi phạm các qui định về môi.
trường vẫn thường xuyên xảy ra. Hình ảnh nước thải công nghiệp của nhà may Sabeco Sông Lam thải trực tiếp ra kênh mương ở hình 1. Nước thái y té 6 Việt Nam, mỗi ngày có 120 nghìn m? nước thi y tế thả ra 350-400 tấn eh thai ytế, rong đó có 42 tấn chất thải tế độc hại cần được xử lý. Nước thải từ các bệnh viên chưa qua xử lý xã ra môi trường đang là vin để gây bite xúc trong nhân dân các khu vục lan cận vì nó gây 6 nhiễm nghiêm trọng nguồn nước mặt.
Thậm chí nhiều nơi ứ đọng, thắm thấu còn ảnh hưởng đến mạch nước ngằm. Mỗi ngày các bệnh viện xả hàng tiệu mết khối nước thải ra môi trường, một phần tong số đó mang theo mim bệnh hòa vào dòng chảy mương, mắng, sông ngòi qua các khu dân cư. Hình ảnh nước. thải Y tải re ip ahd ao giới thiệu ở hình 1.
Nước thái các làng nghề “Theo thống kê, hiện cả nước có 1.450 làng nghề, trong đó có hơn 300 làng nghề truyền thống. Trên thực tế hầu hết các cơ sở sản xuất nhỏ của làng nghề vẫn. nằm xen lẫn khu dân ew hoặc tập trung thành cụm, nhưng không có ranh giới rỡ rệt giữa khu sản xuất và khu sinh hoạt tại cơ sở, công nghệ thi lạc hậu, thủ công, thiết bị cũ chấp vá, thiểu đồng bộ. Từ các tồn tại trên din đến năng suất, chất lượng sản phẩm rit yếu kém, đặc biệt do các cơ sở sản xuất còn hoạt động theo hướng phân tán, tự phát, quy mô nhỏ đã dẫn đến khó khan trong vige tổ chức quan lý chất thải (xử ý thụ gom) để giảm thiểu ô nhiễm môi trường.
Theo kết quả điều tra khảo sit mới đây nhất ma Bộ Khoa bọc - Công nghệ công bổ cho thấy 100% mẫu nước thải, thậm chi cả nước mặt, nước ngằm ở các làng nghề đều vượt các tiêu chuẩn cho phép. Tỷ lệ người dân làng nghề mắc bệnh cao hơn ở các làng thudn nông, thường gặp ở các bệnh về đường hô hip, dau mắt, bệnh đường rug, bệnh ngoài da, Tại một số làng nghé đặc thù, xuất hiện các bệnh nguy hiểm như ung thư, quái thai, nhiễm độc kim loại nặng. Nhiều dong sông chảy qua các làng nghề hiện nay dang bị 6 nhiễm năng; nhiều ruộng lúa cây trồng bị giảm năng suất do 6 nhiễm không khí từ làng nghề. Hình ảnh nước thải làng nghề thải trực tiếp ra sông giới thiệu ở hình 1.
Chất thải rắn (các nguồn rác thải) Ce KCN mới do được đầu tư công nghệ hiện đại, hệ thống xử lý khí thải đồng bộ trước khi xả thải ra môi trường, dẫn đến tình trạng ô nhiễm môi trường, không khí tại các KCN nay đã được cải thiện một cách rò rệt. Thống kê cho thấy, năm 2011 mỗi ngày các KCN nước ta thai ra khoảng 8000 tin chất thai rin (CTR), tương đương khoảng ba triệu tin một năm. Tuy nhiên, lượng CTR đang tăng lên cùng với việc gia tăng tỷ lệ lắp diy các KCN, nếu như tính trung bình cả nước, năm 2005 - 2006, một ha diện tích đất cho thuê phát sinh CTR khoảng 134 tắn/năm, thì đến năm 2008 - 2009, con số nay đã tăng lên 204 tắn/năm (tăng 50%). Sự gia tăng phát thải trên đơn vj diện tích đã phan ánh sự thay đổi trong cơ edu sản xuất công nghiệp, xuất hiện các ngành có mức phát thải cao và quy mô ngày cảng lớn tại các khu công nghiệp và dự báo tổng phát thải CTR từ các KCN năm 2015 sẽ vào khoảng 6 đến 7,5 triệu tắn/năm và đến năm 2020 đại từ 9 đến 13,5 triệu tắn/năm.
Hình ảnh chất thải rắn thải trực tiếp ra môi trường giới thiệu ở hình 1.16, Nước tải từ khu vực sản xuất nông nghiệp “Trong những năm gin diy, sin xuất nông nghiệp nước ta có nhiều biểu hiện lạm dụng thuốc tăng trưởng, thuốc bảo vệ thực vật cũng như phân bón. Tắt cả dự lượng đó tham gia vào làm ô nhiễm nước sông Do hiện tượng thấm nước mà dư lượng các loại thuốc trừ. cũng như phân bn ở các vùng sin xuất nông nghiệp có thể gây 6 nhiễm nước ngằm và đất. Sự cổ mặt của những chất này, ké cả khi có nồng độ rất nhỏ cũng gây những hậu quả nghiêm trọng.
Ước tinh trên địa ban tinh có khoảng một nửa lượng phân bón đưa. vào đất được cây trồng sử dụng, nữa côn lại là nguồn gây ô nhiễm mỗi trường. Hệ số sử dụng phân đạm khoảng 60%; trong đó từ 15-20% bị huỷ ra khỏi đắt dưới dạng khí, 20-25% được chuyển vào chất hữu cơ trong dit; 20-25% bị rữn ôi ra sông suối dưới dang NO3. Còn lượng phôpho bị rửa trôi khỏi đất và đi vào hệ thống sông suối đưới dạng dit bị sỏi môn trung bình khoảng 6-15kg phôtpho (dang P205) trên 1 ha đất canh tác.
Hình ảnh nước thải do sin xuất nông nghiệp thải trự tip ra kênh mương giới thiệu ở hình 1. Tình hình ð nhiễm nước mặt trên một số hệ thẳng thủy lợi ở nước ta 1. Hệ thống thuỷ lợi Bắc Hing Hải Bắc Hưng Hải là hệ thống công trình thuỷ lợi lớn nhất trong 9 hệ thống thuỷ lợi ở vùng Bắc Bộ với diện ích canh tác gin 135.00 ha thuộc các tinh ai Dương, Hưng Yên, Bắc Ninh và. một phần diện ích của thành phố Hà Nội.
Hệ thống thuỷ lợi Bắc Hưng Hải có nhiệm vụ tưới, tiêu và ạo nguồn cho cắp nước sinh host, công nghiệp và sin xuất của cúc làng nghề trong khu vực hưởng lợi. Cũng với quá trình hiện đại hoá và phát triển dân số ở khu vực nông thôn, nguồn gây 6 nhiễm trên lưu. vực Hệ thống Bắc Hưng Hải ngày cing da dạng và nhiều nơi đã bi 6 nhiễm đến mức báo động. ‘Theo số iệu quan trắc chit lượng nước trong hệ thống Bắc Humg Hải do Viện Khoa học Thuý lợi Việt Nam thực hiện từ năm 2003 đến nay, tại 40 điểm quan trắc trong hệ thống him lượng các chất 6 nhiễm đều lớn hơn so với mẫu nước tại cổng Xuân Quan (nước nguồn vio hệ thông).
Tai sông Chu Bây, tram bơm Bình Hin vi trạm bơm An Vũ có hàm lượng các chit hữu cơ tính theo COD vượt tiêu chuẩn cấp. nước cho nông nghiệp. Đây là những vỉ tri bị ảnh hưởng rất lớn của chất thải đồ thị, khu công nghiệp và các king nghé. Tại 25/40 vj tí quan trắc trong hệ thống đều phat hiện thấy ham lượng NO; ~ 1a sản phẩm của quá trình phân huỷ của các chat hữu cơ chứa dam vượt tiêu chuẳn nước dùng cho nông nghiệp “Tổng hợp số liệu các lần quan tắc cho thẤy hàm lượng các chất vô cơ chênh lệch giữa mùa mưa và mùa khô rit lớn và ö xu hướng tăng cao trong mùa mưa, nguyên nhân chủ yếu của sự biển thiên này là do ảnh hướng của nhiệt độ đến tốc độ phân huỹ chất hữu cơ; tại hu hết các vị tí trong hệ thống đều có hàm lượng Coliforms tổng số cao hơn nhiều lẫn so vớ tiêu chuẩn cho phép như tạ vịtrí cổng Báo Dip, Xuân Thuỷ, Cầu Bảy, Đoàn Thượng.
Ngoài ra, các điểm quan trie đều có him lượng kim loại nặng cao hơn so v nước nguồn vào hệ thống chứng tổ ảnh hưởng rất lớn của nguồn chất thải và nước thải từ các làng nghề đến chất lượng nước trong hệ thông.