Luận văn đánh giá nhận thức và khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu trong sản xuất nông nghiệp trên địa bàn xã nghĩa hội huyện nghĩa đàn tỉnh nghệ an

Luận văn phân tích nhận thức và khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu trong sản xuất nông nghiệp tại xã Nghĩa Hội, huyện Nghĩa Đàn, Nghệ An.

Chuyên ngành

Khoa học môi trường

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn

2016

120
4
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

1. MỤC LỤC

1.1. Lời cam đoan

1.2. Mục lục

1.3. Danh mục chữ viết tắt

1.4. Danh mục bảng biểu

1.5. Danh mục hình

1.6. Trích yếu luận văn

1.7. Tính cấp thiết của đề tài

1.8. Mục tiêu nghiên cứu

1.9. Phạm vi nghiên cứu

1.9.1. Phạm vi không gian

1.9.2. Phạm vi thời gian

1.10. Những đóng góp mới, ý nghĩa khoa học và thực tiễn

1.11. Tổng quan tài liệu

1.11.1. Khái quát chung về biến đổi khí hậu

1.11.2. Một số khái niệm liên quan đến BĐKH và các hiện tượng có liên quan

1.11.3. Nguyên nhân gây ra biến đổi khí hậu

1.11.4. Các biểu hiện của biến đổi khí hậu

1.11.4.1. Thời tiết ngày càng trở nên khắc nghiệt
1.11.4.2. Mực nước biển tăng cao, nước biển đang dần ấm lên
1.11.4.3. Hiện tượng băng tan ở hai cực và Greenland
1.11.4.4. Nền nhiệt độ liên tục thay đổi
1.11.4.5. Nồng độ carbon dioxide trong khí quyển đang tăng lên

1.11.5. Tình hình biến đổi khí hậu

1.11.5.1. Tình hình biến đổi khí hậu trên thế giới
1.11.5.2. Tình hình biến đổi khí hậu ở Việt Nam

1.11.6. Tác động của biến đổi khí hậu đến sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam

1.11.6.1. Tác động của nước biển dâng
1.11.6.2. Tác động của nhiệt độ cực đoan, hạn hán, rét đậm
1.11.6.3. Tác động của xâm nhập mặn

1.11.7. Thích ứng với biến đổi khí hậu trong sản xuất nông nghiệp

1.11.7.1. Các biện pháp thích ứng với biến đổi khí hậu
1.11.7.2. Thích ứng với biến đổi khí hậu trong sản xuất nông nghiệp trên thế giới
1.11.7.3. Giải pháp chiến lược thích ứng biến đổi khí hậu trong sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam

1.11.8. Vai trò nhận thức của người dân trong thích ứng với biến đổi khí hậu

1.12. Vật liệu và phương pháp nghiên cứu

1.12.1. Địa điểm nghiên cứu

1.12.2. Thời gian nghiên cứu

1.12.3. Đối tượng/vật liệu nghiên cứu

1.12.4. Nội dung nghiên cứu

1.12.5. Phương pháp nghiên cứu

1.12.5.1. Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp
1.12.5.2. Phương pháp khảo sát thực địa
1.12.5.3. Phương pháp phỏng vấn hộ nông dân làm nông nghiệp
1.12.5.4. Phương pháp phân tích
1.12.5.5. Phương pháp xử lý và đánh giá số liệu

1.13. Kết quả nghiên cứu và thảo luận

1.13.1. Kết quả nghiên cứu

1.13.2. Đặc điểm địa bàn nghiên cứu

1.13.3. Xu hướng biến đổi khí hậu tại địa bàn nghiên cứu

1.13.4. Đánh giá nhận thức của người dân về BĐKH

1.13.5. Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến sản xuất nông nghiệp

1.13.6. Khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu trong sản xuất nông nghiệp

1.13.7. Những thuận lợi và khó khăn chính của người dân trong việc thực hiện các biện pháp thích ứng với BĐKH trong sản xuất nông nghiệp

1.13.8. Đề xuất các giải pháp thích ứng với biến đổi khí hậu

1.13.9. Nhận thức của người dân về biến đổi khí hậu

1.13.10. Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến sản xuất nông nghiệp tại địa bàn xã Nghĩa Hội

1.13.11. Khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu

1.14. Kết luận và kiến nghị

Tài liệu tham khảo

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Biến Đổi Khí Hậu và Tác Động Đến Nông Nghiệp

Biến đổi khí hậu không còn là vấn đề của riêng quốc gia nào, mà là thách thức toàn cầu. Nó tác động sâu sắc đến các yếu tố cơ bản của đời sống như nước, lương thực, năng lượng, sức khỏe và môi trường. Hàng triệu người trên thế giới có nguy cơ đối mặt với nạn đói, thiếu nước, lũ lụt và bệnh tật do trái đất nóng lên và mực nước biển dâng. Theo IPCC (2013), diễn biến của biến đổi khí hậu sẽ ngày càng phức tạp và nghiêm trọng hơn. Hàng triệu ha đất canh tác có thể bị ngập lụt. Dự báo đến năm 2100, nhiệt độ trung bình ở Việt Nam có thể tăng thêm 3°C. Việt Nam là một trong 5 quốc gia chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của biến đổi khí hậu và nước biển dâng. Do đó, việc nghiên cứu và tìm hiểu về biến đổi khí hậu là vô cùng cấp thiết.

1.1. Tác Động Biến Đổi Khí Hậu Đến Sản Xuất Nông Nghiệp

Biến đổi khí hậu gây ra nhiều tác động tiêu cực đến sản xuất nông nghiệp, bao gồm thay đổi về nhiệt độ, lượng mưa, và gia tăng các hiện tượng thời tiết cực đoan như bão, lũ, hạn hán. Những thay đổi này ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất cây trồng, vật nuôi, và làm gia tăng rủi ro cho người nông dân. Theo Bộ Tài nguyên và Môi trường (2009), hậu quả của biến đổi khí hậu với Việt Nam là rất nghiêm trọng và là một nguy cơ hiện hữu cho mục tiêu xoá đói giảm nghèo, cho việc thực hiện các mục tiêu thiên niên kỷ và sự phát triển bền vững của đất nước.

1.2. Tính Cấp Thiết Nghiên Cứu Nhận Thức và Thích Ứng BĐKH

Nghiên cứu về nhận thức và khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu là vô cùng quan trọng để giúp cộng đồng, đặc biệt là người nông dân, hiểu rõ hơn về những thách thức mà họ đang đối mặt. Từ đó, họ có thể chủ động áp dụng các biện pháp thích ứng phù hợp để giảm thiểu tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu đến sản xuất nông nghiệp và đời sống. Việt Nam với bờ biển kéo dài 3260 km là một trong những quốc gia chịu tác động lớn nhất của biến đổi khí hậu.

II. Thách Thức Sản Xuất Nông Nghiệp Tại Nghĩa Hội Do BĐKH

Xã Nghĩa Hội, huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An là một xã miền núi, có điều kiện địa hình khá thuận lợi so với các xã miền núi khác trong huyện. Tuy nhiên, huyện Nghĩa Đàn trong đó có xã Nghĩa Hội được xếp vào danh sách những vùng đất có tính nhạy cảm cao. Do địa hình nên có nhiều khả năng chịu tác động mạnh và trực tiếp trước những biến đổi khí hậu, thiên tai, bão lũ, hạn hán… đe doạ cuộc sống của cộng đồng vốn phụ thuộc nhiều vào các điều kiện tự nhiên. Điều này đặt ra những thách thức lớn cho sản xuất nông nghiệp tại địa phương, đòi hỏi cần có những giải pháp thích ứng hiệu quả.

2.1. Rủi Ro Thiên Tai và Ảnh Hưởng Đến Nông Dân Nghĩa Hội

Người dân Nghĩa Hội, với nguồn thu nhập chính từ nông nghiệp, đang phải đối mặt với nhiều rủi ro do thiên tai liên quan đến biến đổi khí hậu. Bão lũ, hạn hán, và các hiện tượng thời tiết cực đoan khác không chỉ gây thiệt hại về mùa màng mà còn ảnh hưởng đến sinh kế và đời sống của họ. Theo ngân hàng thế giới (2008), Việt Nam là một trong năm quốc gia Châu Á, Thái Bình Dương chịu tác động mạnh mẽ nhất khi nước biển dâng.

2.2. Nhận Thức và Khả Năng Thích Ứng Của Nông Dân

Một trong những thách thức lớn nhất là nâng cao nhận thức và khả năng thích ứng của người nông dân với biến đổi khí hậu. Nhiều người dân vẫn chưa hiểu rõ về những tác động của biến đổi khí hậu và các biện pháp thích ứng hiệu quả. Điều này đòi hỏi cần có những chương trình giáo dục và đào tạo phù hợp để giúp họ nâng cao kiến thức và kỹ năng.

III. Đánh Giá Nhận Thức Về Biến Đổi Khí Hậu Tại Nghĩa Hội

Đề tài này tập trung vào việc đánh giá nhận thức của người dân về biến đổi khí hậu trong sản xuất nông nghiệp ở xã Nghĩa Hội, huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An. Số liệu khí tượng từ năm 1961-2014 tại trạm gần điểm nghiên cứu được thu thập nhằm đánh giá sự biến đổi khí hậu thông qua phân tích thống kê tương quan và ANOVA. Phương pháp phỏng vấn hộ nông dân sản xuất nông nghiệp sử dụng bảng hỏi có cấu trúc được áp dụng nhằm đánh giá nhận thức của người dân về biến đổi khí hậu, tác động của biến đổi khí hậu đối với sản xuất nông nghiệp và các biện pháp thích ứng đang được áp dụng tại địa phương.

3.1. Phương Pháp Đánh Giá Nhận Thức Của Người Dân

Để đánh giá nhận thức của người dân, nghiên cứu sử dụng phương pháp phỏng vấn trực tiếp các hộ nông dân bằng bảng hỏi có cấu trúc. Bảng hỏi tập trung vào các khía cạnh như hiểu biết về biến đổi khí hậu, nhận thức về các hiện tượng thời tiết cực đoan, và đánh giá về tác động của biến đổi khí hậu đến sản xuất nông nghiệp.

3.2. Kết Quả Đánh Giá Nhận Thức Ban Đầu Về BĐKH

Kết quả nghiên cứu cho thấy nhiệt độ không khí có xu hướng tăng rõ rệt. Giai đoạn 1961-2014, nhiệt độ trung bình tăng 0,140 C/thập kỷ, tăng gần 0,70 C trong vòng hơn 50 năm. Nhiệt độ trung bình vụ Đông Xuân tăng 0,130C/thập kỷ, vụ Hè Thu tăng 0,170 C/thập kỷ. Nhiệt độ trung bình tối cao (Tmax) tăng 0,10 C/thập kỷ. Nhiệt độ trung bình tối thấp (Tmin) tăng 0,20 C/thập kỷ. Lượng mưa tăng 7,04 mm/thập kỷ. Bão có xu hướng tăng lên cả về tần số xuất hiện và cường độ.

3.3. Nhận Thức Về Thay Đổi Thời Tiết Cực Đoan Tại Nghĩa Hội

Mùa bão bắt đầu sớm và kết thúc muộn hơn trước đây thường bắt đầu từ tháng 6 và kết thúc tháng 11. Số ngày nắng nóng và nắng nóng gay gắt tăng lên 0,18 ngày/thập kỷ. Số ngày rét đậm, rét hại có xu hướng giảm 0,16-0,17 ngày/thập kỷ. Mùa đông đến muộn và kết thúc sớm hơn trước đây điều này phù hợp với xu thế biến đổi khí hậu ở Việt Nam và toàn cầu.

IV. Khả Năng Thích Ứng Với Biến Đổi Khí Hậu Trong Nông Nghiệp

Nghiên cứu cũng tập trung vào việc đánh giá khả năng thích ứng của người dân với biến đổi khí hậu trong sản xuất nông nghiệp. Từ thực tiễn ở địa phương người dân đã áp dụng một số biện pháp nhằm thích ứng với biến đổi khí hậu như: thay đổi cơ cấu cây trồng từ trồng lúa sang trồng hoa màu, đặc biệt từ lúa sang trồng mía, thay đổi lịch thời vụ gieo trồng, thay đổi giống cây trồng, sử dụng các loại giống lai năng suất cao, ngắn ngày có khả năng chịu hạn, chịu rét.

4.1. Các Biện Pháp Thích Ứng Đang Được Áp Dụng

Người dân Nghĩa Hội đã áp dụng nhiều biện pháp thích ứng khác nhau, bao gồm thay đổi cơ cấu cây trồng, thay đổi lịch thời vụ, sử dụng giống cây trồng chịu hạn, và áp dụng các biện pháp kỹ thuật canh tác tiên tiến. Sử dụng thuốc bảo vệ thực vật để diệt trừ sâu bênh, một số biện pháp kỹ thuật như: phủ nilon, làm luống, che phủ để tránh rét, tránh úng.

4.2. Thuận Lợi và Khó Khăn Trong Quá Trình Thích Ứng

Những thuận lợi của người dân khi áp dụng các biện pháp thích ứng là ngày càng có nhiều giống lúa lai ngắn ngày, cho năng suất cao khả năng chống chịu với sâu bệnh và thời tiết tốt. Khó khăn gặp phải là trình độ nhận thức chưa cao, hạn chế về năng lực thông tin và nguồn vốn đầu tư cho sản xuất nông nghiệp thấp, trong khi đó lợi nhuận mang lại từ sản xuất nông nghiệp rất thấp không đủ chi phí đầu tư.

V. Giải Pháp Nâng Cao Thích Ứng BĐKH Cho Nông Nghiệp Nghệ An

Từ thực tiễn ở địa phương đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao nhận thức của chính quyền địa phương và người dân về biến đổi khí hậu để người dân và chính quyền địa phương chủ động ứng phó và giảm thiểu tác động của biến đổi khí hậu. Cần có những chính sách hỗ trợ và khuyến khích người dân áp dụng các biện pháp thích ứng hiệu quả, đồng thời tăng cường đầu tư vào nghiên cứu và phát triển các giống cây trồng chịu hạn, chịu mặn.

5.1. Tăng Cường Giáo Dục và Nâng Cao Nhận Thức

Một trong những giải pháp quan trọng nhất là tăng cường giáo dục và nâng cao nhận thức cho người dân về biến đổi khí hậu và các biện pháp thích ứng. Cần có những chương trình đào tạo và tập huấn phù hợp để giúp họ hiểu rõ hơn về những thách thức mà họ đang đối mặt và cách ứng phó hiệu quả.

5.2. Chính Sách Hỗ Trợ và Khuyến Khích Thích Ứng

Chính quyền các cấp cần có những chính sách hỗ trợ và khuyến khích người dân áp dụng các biện pháp thích ứng hiệu quả. Điều này có thể bao gồm cung cấp vốn vay ưu đãi, hỗ trợ kỹ thuật, và tạo điều kiện thuận lợi cho việc tiếp cận thông tin và công nghệ mới.

VI. Kết Luận và Kiến Nghị Về Thích Ứng BĐKH Tại Nghĩa Hội

Nghiên cứu này đã cung cấp những thông tin quan trọng về nhận thức và khả năng thích ứng của người dân với biến đổi khí hậu trong sản xuất nông nghiệp tại xã Nghĩa Hội, huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An. Kết quả nghiên cứu cho thấy cần có những giải pháp đồng bộ để nâng cao nhận thức, tăng cường khả năng thích ứng, và giảm thiểu tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu đến đời sống và sinh kế của người dân.

6.1. Ý Nghĩa Khoa Học và Thực Tiễn Của Nghiên Cứu

Đề tài góp phần hệ thống hóa các tư liệu về biến đổi khí hậu, nhận thức của người dân về biến đổi khí hậu thông qua xu thế biến đổi các hiện tượng thời tiết diễn ra tại địa phương. Cung cấp phương pháp luận cần thiết trong nghiên cứu nhận thức của người dân về tác động của biến đổi khí hậu đến sản xuất nông nghiệp và biện pháp thích ứng.

6.2. Kiến Nghị Để Phát Triển Nông Nghiệp Bền Vững

Cần có những nghiên cứu sâu hơn về tác động của biến đổi khí hậu đến các lĩnh vực khác của đời sống kinh tế - xã hội tại địa phương. Đồng thời, cần tăng cường hợp tác giữa các nhà khoa học, chính quyền, và cộng đồng để xây dựng những giải pháp thích ứng hiệu quả và bền vững.

05/06/2025
Luận văn đánh giá nhận thức và khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu trong sản xuất nông nghiệp trên địa bàn xã nghĩa hội huyện nghĩa đàn tỉnh nghệ an

Trích đoạn nội dung tài liệu

mở đầu Tên tác giả: Đậu Thị Phương Tên luận văn: “Đánh giá nhận thức và khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu trong sản xuất nông nghiêp trên địa bàn xã Nghĩa Hội, huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An”. Ngành khoa học: Môi trường Mã Số: 60.01 Tên cơ sở đào tạo: Học viện nông nghiệp Việt Nam 2. Trích yếu Đề tài này nhằm đánh giá nhận thức và sự thích ứng của người dân với biến đổi khí hậu trong sản xuất nông nghiệp ở xã Nghĩa Hội, huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao sự hiểu biết và khả năng thích ứng của người dân đối với biến đổi khí hậu. Số liệu khí tượng từ năm 1961-2014 tại trạm gần điểm nghiên cứu được thu thập nhằm đánh giá sự BĐKH thông qua phân tích thống kê tương quan và ANOVA.

Phương pháp phỏng vấn hộ nông dân sản xuất nông nghiệp sử dụng bảng hỏi có cấu trúc được áp dụng nhằm đánh giá nhận thức của người dân về biến đổi khí hậu, tác động của biến đổi khí hậu đối với sản xuất nông nghiệp và các biện pháp thích ứng đang được áp dụng tại địa phương. Kết quả nghiên cứu cho thấy nhiệt độ không khí có xu hướng tăng rõ rệt. Giai đoạn 1961-2014, nhiệt độ trung bình tăng 0,140 C/thập kỷ, tăng gần 0,70 C trong vòng hơn 50 năm. Nhiệt độ trung bình vụ Đông Xuân tăng 0,130C/thập kỷ, vụ Hè Thu tăng 0,170 C/thập kỷ.

Nhiệt độ trung bình tối cao (Tmax) tăng 0,10 C/thập kỷ. Nhiệt độ trung bình tối thấp (Tmin) tăng 0,20 C/thập kỷ. Lượng mưa tăng 7,04 mm/thập kỷ. Bão có xu hướng tăng lên cả về tần số xuất hiện và cường độ.

Mùa bão bắt đầu sớm và kết thúc muộn hơn trước đây thường bắt đầu từ tháng 6 và kết thúc tháng 11. Số ngày nắng nóng và nắng nóng gay gắt tăng lên 0,18 ngày/thập kỷ. Số ngày rét đậm, rét hại có xu hướng giảm 0,16-0,17 ngày/thập kỷ. Mùa đông đến muộn và kết thúc sớm hơn trước đây điều này phù hợp với xu thế biến đổi khí hậu ở Việt Nam và toàn cầu.

x Nhận thức của người dân về xu hướng biến đổi nhiệt độ: Phần lớn người dân đều nhận thấy được sự thay đổi của nhiệt độ và lượng mưa, sự gia tăng các hiện tượng cực đoan: bão, lũ, nắng nóng, hạn hán trong vòng 30 năm trở lại đây. Các hiện tượng khí hậu cực đoan được người dân cho rằng ảnh hưởng nhiều nhất đến sản xuất nông nghiệp là: bão, lũ, nắng nóng, hạn hán. Theo đánh giá của người dân biến đổi khí hậu tác động mạnh mẽ làm giảm diện tích đất nông nghiệp, làm chuyển dịch cơ cấu cây trồng, làm thay đổi lịch thời vụ, giảm năng suất và chất lượng nông sản và làm tăng và phát sinh sâu bệnh hại cây trồng. Từ thực tiễn ở địa phương người dân đã áp dụng một số biện pháp nhằm thích ứng với biến đổi khí hậu như: thay đổi cơ cấu cây trồng từ trồng lúa sang trồng hoa màu, đặc biệt từ lúa sang trồng mía, thay đổi lịch thời vụ gieo trồng, thay đổi giống cây trồng, sử dụng các loại giống lai năng suất cao, ngắn ngày có khả năng chịu hạn, chịu rét.

Sử dụng thuốc bảo vệ thực vật để diệt trừ sâu bênh, một số biện pháp kỹ thuật như: phủ nilon, làm luống, che phủ để tránh rét, tránh úng. Những thuận lợi của người dân khi áp dụng các biện pháp thích ứng là ngày càng có nhiều giống lúa lai ngắn ngày, cho năng suất cao khả năng chống chịu với sâu bệnh và thời tiết tốt. Khó khăn gặp phải là trình độ nhận thức chưa cao, hạn chế về năng lực thông tin và nguồn vốn đầu tư cho sản xuất nông nghiệp thấp, trong khi đó lợi nhuận mang lại từ sản xuất nông nghiệp rất thấp không đủ chi phí đầu tư. Từ thực tiễn ở địa phương đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao nhận thức của chính quyền địa phương và người dân về biến đổi khí hậu để người dân và chính quyền địa phương chủ động ứng phó và giảm thiểu tác động của biến đổi khí hậu.

xi THESIS ABSTRACT 1. Summary Author: Dau Thi Phuong Thesis title: “Evaluation of awareness and ability to adapt to climate change in agricultural production in Hoi Nghia Commune, Nghia Dan district, Nghe An province”. Major: Environment Code: 60.01 Training facility: Viet Nam National University of Viet Nam 2. Thesis Abstract With the purposes of assessing the awareness and adaptation of people to climate change in agricultural production in Hoi Nghia Commune, Nghia Dan District, Nghe An Province, some measures are proposed to improve knowledge and adaptability of residents to climate change in this thesis.

In particularly, Meteorological data from 1961 to 2014 and statistical correlation analysis and ANOVA are used to evaluate the climate change through. The method of interviewing agricultural producing farmers using a structured questionnaire was applied to assess the awareness of people about climate change and the impact on agricultural production and adaptation measures being taken in this local area. The research results showed that air temperature tends to rise significantly. During the period from 1961 to 2014, the average temperature rose by 0.140C per decade (increasing nearly 0.70 C in more than 50 years).

The average temperature of winter-spring and summer-autumn crop grew by 0,130C per decade and 0,170C per decade, respectively. the highest average temperature (Tmax) increased by 0,10C/decade, the lowest average temperature (Tmin) rose by 0,20 C/decade, rainfall increased by 7,04mm/decade. Storms tended to increase in both frequency and intensity. The typhoon season started early and ended later than before (usually starting in June and ending the month November), the figure for hot sunny days and hot days rose 0.18/decade, the number of piercing cold days tends to reduce to 0,16-0,17 day/decade.

The winter starts early and ends later than xii before which are appropriate to the climate change tendency in Viet Nam as well as in the world. The awareness about temperature change tendency: Most people have noticed about the change in temperature and rainfall, the increase in extreme phenomena such as storms, floods, heat and drought, cold weather in 30 years recently. The most extreme climate phenomena having great and serious impact on agriculture production included storms, floods, heat and drought. According to the residents, the negative effects of climate change comprise: reducing strongly agricultural land, making the plant restructuring, changing the seasonal schedule, reducing productivity and quality of agricultural products and increasing crop pests.

From local situation, people have applied a several measures to mitigate drawbacks‘s climate change such as: Changing structure of plants from rice to “hoa màu” (particularly from rice to sugarcane), changing planting schedule, changing plant varieties, using short term high-yielding hybrid varieties which can resist cold and drought weather, using pesticides to eradicate pests and taking some technical measures such as covered by nylon, covered to avoid the cold and waterlogging. Advantages of applying adaptation measures are more short-term hybrid rice which are high yields and abilities to resistant with pests and bad weather. Difficulties are that the level of awareness is not high (limited in information abilities) and capital investment for agricultural production is low whereas profits from agricultural production are very low and does not cover for investment costs. From reality, some solutions can be proposed to raise awareness of local authorities and citizens about climate change to help them respond actively and mitigate the impacts of the climate change.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI Biến đổi khí hậu không còn là vấn đề của một quốc gia riêng lẻ mà là cả vấn đề chung của toàn cầu.

Biến đổi khí hậu tác động đến những yếu tố cơ bản của đời sống con người trên phạm vi toàn cầu như: nước, lương thực, năng lượng, sức khoẻ và môi trường. Hàng trăm triệu người trên thế giới có thế lâm vào nạn đói, thiếu nước, lụt lội, bệnh tật do trái đất nóng lên và mực nước biển dâng. Theo dự báo của Uỷ ban liên chính phủ về BĐKH IPCC (2013) nhận định trong thời gian tới, chắc chắn diễn biến của BĐKH sẽ phức tạp và nghiêm trọng hơn. Hàng triệu ha đất canh tác có thể bị ngập lụt.

Dự báo đến năm 2100 nhiệt độ trung bình ở Việt Nam có thể tăng thêm 30C, cũng theo nghiên cứu của Uỷ ban liên chính phủ thì Việt Nam là một trong 5 quốc gia chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của BĐKH và nước biển dâng. Việt Nam với bờ biển kéo dài 3260 km là một trong những quốc gia chịu tác động lớn nhất của biến đổi khí hậu. Theo ngân hàng thế giới (2008), Việt Nam là một trong năm quốc gia Châu Á, Thái Bình Dương chịu tác động mạnh mẽ nhất khi nước biển dâng. Nếu mực nước biển dâng 1m, sẽ có khoảng 39% diện tích đồng bằng sông Cửu Long, trên 10% diện tích vùng đồng bằng sông Hồng, trên 2,5% diện tích thuộc các tỉnh ven biển miền Trung và trên 20% diện tích thành phố Hồ Chí Minh có nguy cơ ngập.

Gần 35% dân số thuộc các tỉnh vùng đồng bằng sông Cửu Long, trên 9% dân số vùng đồng bằng sông Hồng, Quảng Ninh, gần 9% dân số các tỉnh ven biển miền Trung và khoảng 7% dân số thành phố Hồ Chí Minh bị ảnh hưởng trực tiếp, trên 4% hệ thống đường sắt, trên 9% hệ thống quốc lộ và khoảng 12% hệ thống tỉnh lộ sẽ bị ảnh hưởng. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2009) cho rằng hậu quả của biến đổi khí hậu với Việt Nam là rất nghiêm trọng và là một nguy cơ hiện hữu cho mục tiêu xoá đói giảm nghèo, cho việc thực hiện các mục tiêu thiên niên kỷ và sự phát triển bền vững của đất. Nước ta có phần lớn dân số sinh sống ở vùng nông thôn, vùng miền núi, ven biển và nguồn thu nhập chính của họ chủ yếu là từ nông nghiệp, ngư nghiệp và lâm nghiệp… phụ thuộc rất nhiều vào khí hậu và điều kiện tự nhiên. Biến đổi khí hậu đặt ra cho họ những thách thức lớn hơn trong việc xoá đói giảm nghèo và phát triển bền vững.

Chính vì vậy đây là những nơi dễ bị tổn thương nhất do tác dụng của BĐKH. 1 Trong bối cảnh BĐKH trên toàn cầu và ở Việt Nam, xã Nghĩa Hội thuộc huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An là một xã miền núi, có điều kiện địa hình khá thuận lợi so với các xã miền núi khác trong huyện. Tuy nhiên, huyện Nghĩa Đàn trong đó có xã Nghĩa Hội được xếp vào danh sách những vùng đất có tính nhạy cảm cao. Do địa hình nên có nhiều khả năng chịu tác động mạnh và trực tiếp trước những BĐKH thiên tai, bão lũ, hạn hán… đe doạ cuộc sống của cộng đồng vốn phụ thuộc nhiều vào các điều kiện tự nhiên.

Với những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài: “Đánh giá nhận thức và khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu trong sản xuất nông nghiêp trên địa bàn xã Nghĩa Hội, huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An”.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Đánh Giá Nhận Thức và Khả Năng Thích Ứng Với Biến Đổi Khí Hậu Trong Sản Xuất Nông Nghiệp Tại Nghĩa Hội, Nghệ An" cung cấp cái nhìn sâu sắc về nhận thức của cộng đồng nông dân đối với biến đổi khí hậu và khả năng thích ứng của họ trong sản xuất nông nghiệp. Nghiên cứu này không chỉ nêu bật những thách thức mà nông dân đang phải đối mặt mà còn đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao khả năng thích ứng, từ đó giúp cải thiện năng suất và bền vững trong sản xuất nông nghiệp.

Để mở rộng kiến thức về chủ đề này, bạn có thể tham khảo thêm tài liệu Luận án tiến sĩ nghiên cứu đánh giá và dự báo tác động do thiên tai đến trồng trọt trên địa bàn tỉnh Nghệ An có xét đến yếu tố biến đổi khí hậu, nơi cung cấp cái nhìn tổng quan về tác động của thiên tai trong bối cảnh biến đổi khí hậu. Bên cạnh đó, tài liệu Luận văn thạc sĩ phát triển nông nghiệp tỉnh Vĩnh Long theo hướng tăng trưởng xanh sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các phương pháp phát triển nông nghiệp bền vững. Cuối cùng, tài liệu Luận án tiến sĩ cơ sở địa lý cho phát triển nông lâm nghiệp các huyện ven biển tỉnh Quảng Nam cũng là một nguồn tài liệu quý giá để tìm hiểu về phát triển nông lâm nghiệp trong bối cảnh biến đổi khí hậu. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các vấn đề liên quan đến nông nghiệp và biến đổi khí hậu.