mở đầu Tên tác giả: Đậu Thị Phương Tên luận văn: “Đánh giá nhận thức và khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu trong sản xuất nông nghiêp trên địa bàn xã Nghĩa Hội, huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An”. Ngành khoa học: Môi trường Mã Số: 60.01 Tên cơ sở đào tạo: Học viện nông nghiệp Việt Nam 2. Trích yếu Đề tài này nhằm đánh giá nhận thức và sự thích ứng của người dân với biến đổi khí hậu trong sản xuất nông nghiệp ở xã Nghĩa Hội, huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao sự hiểu biết và khả năng thích ứng của người dân đối với biến đổi khí hậu. Số liệu khí tượng từ năm 1961-2014 tại trạm gần điểm nghiên cứu được thu thập nhằm đánh giá sự BĐKH thông qua phân tích thống kê tương quan và ANOVA.
Phương pháp phỏng vấn hộ nông dân sản xuất nông nghiệp sử dụng bảng hỏi có cấu trúc được áp dụng nhằm đánh giá nhận thức của người dân về biến đổi khí hậu, tác động của biến đổi khí hậu đối với sản xuất nông nghiệp và các biện pháp thích ứng đang được áp dụng tại địa phương. Kết quả nghiên cứu cho thấy nhiệt độ không khí có xu hướng tăng rõ rệt. Giai đoạn 1961-2014, nhiệt độ trung bình tăng 0,140 C/thập kỷ, tăng gần 0,70 C trong vòng hơn 50 năm. Nhiệt độ trung bình vụ Đông Xuân tăng 0,130C/thập kỷ, vụ Hè Thu tăng 0,170 C/thập kỷ.
Nhiệt độ trung bình tối cao (Tmax) tăng 0,10 C/thập kỷ. Nhiệt độ trung bình tối thấp (Tmin) tăng 0,20 C/thập kỷ. Lượng mưa tăng 7,04 mm/thập kỷ. Bão có xu hướng tăng lên cả về tần số xuất hiện và cường độ.
Mùa bão bắt đầu sớm và kết thúc muộn hơn trước đây thường bắt đầu từ tháng 6 và kết thúc tháng 11. Số ngày nắng nóng và nắng nóng gay gắt tăng lên 0,18 ngày/thập kỷ. Số ngày rét đậm, rét hại có xu hướng giảm 0,16-0,17 ngày/thập kỷ. Mùa đông đến muộn và kết thúc sớm hơn trước đây điều này phù hợp với xu thế biến đổi khí hậu ở Việt Nam và toàn cầu.
x Nhận thức của người dân về xu hướng biến đổi nhiệt độ: Phần lớn người dân đều nhận thấy được sự thay đổi của nhiệt độ và lượng mưa, sự gia tăng các hiện tượng cực đoan: bão, lũ, nắng nóng, hạn hán trong vòng 30 năm trở lại đây. Các hiện tượng khí hậu cực đoan được người dân cho rằng ảnh hưởng nhiều nhất đến sản xuất nông nghiệp là: bão, lũ, nắng nóng, hạn hán. Theo đánh giá của người dân biến đổi khí hậu tác động mạnh mẽ làm giảm diện tích đất nông nghiệp, làm chuyển dịch cơ cấu cây trồng, làm thay đổi lịch thời vụ, giảm năng suất và chất lượng nông sản và làm tăng và phát sinh sâu bệnh hại cây trồng. Từ thực tiễn ở địa phương người dân đã áp dụng một số biện pháp nhằm thích ứng với biến đổi khí hậu như: thay đổi cơ cấu cây trồng từ trồng lúa sang trồng hoa màu, đặc biệt từ lúa sang trồng mía, thay đổi lịch thời vụ gieo trồng, thay đổi giống cây trồng, sử dụng các loại giống lai năng suất cao, ngắn ngày có khả năng chịu hạn, chịu rét.
Sử dụng thuốc bảo vệ thực vật để diệt trừ sâu bênh, một số biện pháp kỹ thuật như: phủ nilon, làm luống, che phủ để tránh rét, tránh úng. Những thuận lợi của người dân khi áp dụng các biện pháp thích ứng là ngày càng có nhiều giống lúa lai ngắn ngày, cho năng suất cao khả năng chống chịu với sâu bệnh và thời tiết tốt. Khó khăn gặp phải là trình độ nhận thức chưa cao, hạn chế về năng lực thông tin và nguồn vốn đầu tư cho sản xuất nông nghiệp thấp, trong khi đó lợi nhuận mang lại từ sản xuất nông nghiệp rất thấp không đủ chi phí đầu tư. Từ thực tiễn ở địa phương đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao nhận thức của chính quyền địa phương và người dân về biến đổi khí hậu để người dân và chính quyền địa phương chủ động ứng phó và giảm thiểu tác động của biến đổi khí hậu.
xi THESIS ABSTRACT 1. Summary Author: Dau Thi Phuong Thesis title: “Evaluation of awareness and ability to adapt to climate change in agricultural production in Hoi Nghia Commune, Nghia Dan district, Nghe An province”. Major: Environment Code: 60.01 Training facility: Viet Nam National University of Viet Nam 2. Thesis Abstract With the purposes of assessing the awareness and adaptation of people to climate change in agricultural production in Hoi Nghia Commune, Nghia Dan District, Nghe An Province, some measures are proposed to improve knowledge and adaptability of residents to climate change in this thesis.
In particularly, Meteorological data from 1961 to 2014 and statistical correlation analysis and ANOVA are used to evaluate the climate change through. The method of interviewing agricultural producing farmers using a structured questionnaire was applied to assess the awareness of people about climate change and the impact on agricultural production and adaptation measures being taken in this local area. The research results showed that air temperature tends to rise significantly. During the period from 1961 to 2014, the average temperature rose by 0.140C per decade (increasing nearly 0.70 C in more than 50 years).
The average temperature of winter-spring and summer-autumn crop grew by 0,130C per decade and 0,170C per decade, respectively. the highest average temperature (Tmax) increased by 0,10C/decade, the lowest average temperature (Tmin) rose by 0,20 C/decade, rainfall increased by 7,04mm/decade. Storms tended to increase in both frequency and intensity. The typhoon season started early and ended later than before (usually starting in June and ending the month November), the figure for hot sunny days and hot days rose 0.18/decade, the number of piercing cold days tends to reduce to 0,16-0,17 day/decade.
The winter starts early and ends later than xii before which are appropriate to the climate change tendency in Viet Nam as well as in the world. The awareness about temperature change tendency: Most people have noticed about the change in temperature and rainfall, the increase in extreme phenomena such as storms, floods, heat and drought, cold weather in 30 years recently. The most extreme climate phenomena having great and serious impact on agriculture production included storms, floods, heat and drought. According to the residents, the negative effects of climate change comprise: reducing strongly agricultural land, making the plant restructuring, changing the seasonal schedule, reducing productivity and quality of agricultural products and increasing crop pests.
From local situation, people have applied a several measures to mitigate drawbacks‘s climate change such as: Changing structure of plants from rice to “hoa màu” (particularly from rice to sugarcane), changing planting schedule, changing plant varieties, using short term high-yielding hybrid varieties which can resist cold and drought weather, using pesticides to eradicate pests and taking some technical measures such as covered by nylon, covered to avoid the cold and waterlogging. Advantages of applying adaptation measures are more short-term hybrid rice which are high yields and abilities to resistant with pests and bad weather. Difficulties are that the level of awareness is not high (limited in information abilities) and capital investment for agricultural production is low whereas profits from agricultural production are very low and does not cover for investment costs. From reality, some solutions can be proposed to raise awareness of local authorities and citizens about climate change to help them respond actively and mitigate the impacts of the climate change.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI Biến đổi khí hậu không còn là vấn đề của một quốc gia riêng lẻ mà là cả vấn đề chung của toàn cầu.
Biến đổi khí hậu tác động đến những yếu tố cơ bản của đời sống con người trên phạm vi toàn cầu như: nước, lương thực, năng lượng, sức khoẻ và môi trường. Hàng trăm triệu người trên thế giới có thế lâm vào nạn đói, thiếu nước, lụt lội, bệnh tật do trái đất nóng lên và mực nước biển dâng. Theo dự báo của Uỷ ban liên chính phủ về BĐKH IPCC (2013) nhận định trong thời gian tới, chắc chắn diễn biến của BĐKH sẽ phức tạp và nghiêm trọng hơn. Hàng triệu ha đất canh tác có thể bị ngập lụt.
Dự báo đến năm 2100 nhiệt độ trung bình ở Việt Nam có thể tăng thêm 30C, cũng theo nghiên cứu của Uỷ ban liên chính phủ thì Việt Nam là một trong 5 quốc gia chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của BĐKH và nước biển dâng. Việt Nam với bờ biển kéo dài 3260 km là một trong những quốc gia chịu tác động lớn nhất của biến đổi khí hậu. Theo ngân hàng thế giới (2008), Việt Nam là một trong năm quốc gia Châu Á, Thái Bình Dương chịu tác động mạnh mẽ nhất khi nước biển dâng. Nếu mực nước biển dâng 1m, sẽ có khoảng 39% diện tích đồng bằng sông Cửu Long, trên 10% diện tích vùng đồng bằng sông Hồng, trên 2,5% diện tích thuộc các tỉnh ven biển miền Trung và trên 20% diện tích thành phố Hồ Chí Minh có nguy cơ ngập.
Gần 35% dân số thuộc các tỉnh vùng đồng bằng sông Cửu Long, trên 9% dân số vùng đồng bằng sông Hồng, Quảng Ninh, gần 9% dân số các tỉnh ven biển miền Trung và khoảng 7% dân số thành phố Hồ Chí Minh bị ảnh hưởng trực tiếp, trên 4% hệ thống đường sắt, trên 9% hệ thống quốc lộ và khoảng 12% hệ thống tỉnh lộ sẽ bị ảnh hưởng. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2009) cho rằng hậu quả của biến đổi khí hậu với Việt Nam là rất nghiêm trọng và là một nguy cơ hiện hữu cho mục tiêu xoá đói giảm nghèo, cho việc thực hiện các mục tiêu thiên niên kỷ và sự phát triển bền vững của đất. Nước ta có phần lớn dân số sinh sống ở vùng nông thôn, vùng miền núi, ven biển và nguồn thu nhập chính của họ chủ yếu là từ nông nghiệp, ngư nghiệp và lâm nghiệp… phụ thuộc rất nhiều vào khí hậu và điều kiện tự nhiên. Biến đổi khí hậu đặt ra cho họ những thách thức lớn hơn trong việc xoá đói giảm nghèo và phát triển bền vững.
Chính vì vậy đây là những nơi dễ bị tổn thương nhất do tác dụng của BĐKH. 1 Trong bối cảnh BĐKH trên toàn cầu và ở Việt Nam, xã Nghĩa Hội thuộc huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An là một xã miền núi, có điều kiện địa hình khá thuận lợi so với các xã miền núi khác trong huyện. Tuy nhiên, huyện Nghĩa Đàn trong đó có xã Nghĩa Hội được xếp vào danh sách những vùng đất có tính nhạy cảm cao. Do địa hình nên có nhiều khả năng chịu tác động mạnh và trực tiếp trước những BĐKH thiên tai, bão lũ, hạn hán… đe doạ cuộc sống của cộng đồng vốn phụ thuộc nhiều vào các điều kiện tự nhiên.
Với những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài: “Đánh giá nhận thức và khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu trong sản xuất nông nghiêp trên địa bàn xã Nghĩa Hội, huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An”.