Đặt vấn đề nghiên cứu Trải qua thời kỳ biến động lớn của nền kinh tế Việt Nam năm 2020-2021, cùng với sự thay đổi nhiều về cơ cấu trong tất cả các ngành nhằm sớm phục hồi phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt ngành Xây dựng nói chung, các doanh nghiệp nhà thầu xây lắp đang mở rộng hợp tác dưới hình thức “liên danh” (JV) – đã bắt đầu khi chính sách Đổi Mới của Việt Nam ban hành từ năm 1987, với nhiều loại hình kết hợp giữa các đối tác trong và ngoài nước. Ngoài ra, theo Nghị quyết 11/NQ-CP ngày 30/01/2022 của Chính phủ về Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội, việc thúc đẩy phát triển kết cấu hạ tầng xây dựng chiếm 32.74% và được đầu tư bổ sung 113.5 nghìn tỷ đồng từ nguồn vốn ngân sách nhà nước, cho thấy tầm quan trọng của ngành Xây dựng qua các thời kỳ luôn được Nhà nước quan tâm đầu tư (hình 1. Cụ thể, theo báo cáo của Tổng cục Thống kê 12 quý I năm 2022 thì GDP của ngành Xây dựng tăng trưởng đáng kể so với năm 2021. Đặc biệt với nguồn vốn đầu tư nước ngoài (FDI) theo báo cáo của Tổng cục thống kê đến quý I/2022 cao hơn 7.3% so với cùng kỳ năm 2021, dự báo sự phát triển mạnh mẽ của mảng xây dựng dân dụng, công nghiệp trong năm 2022.1: Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội của Chính phủ năm 2022 [1] HV: PHẠM VĂN LONG - 1970324 1 GVHD: TS.
NGUYỄN THANH VIỆT LUẬN VĂN THẠC SỸ & TS. ĐỖ TIẾN SỸ Hình 1.2: Mức độ tăng trưởng GDP ngành Xây dựng và cả nước đến quý I/2022 [https://www.3: Vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam từ năm 2018 đến 20/03/2022 [https://www.vn] Trước những năm 2020, khoảng 60-70% vốn FDI dành cho các dự án (DA) công nghiệp và xây dựng, nhiều nhà thầu quốc tế đã tham gia vào các DA lớn tại Việt Nam như DA xây dựng Đại lộ Đông Tây (Nhật Bản), Nhà máy lọc dầu Dung Quất (Pháp), Cầu Mỹ Thuận (Việt Nam – Úc), Tuyến metro Bến Thành – Suối Tiên (Nhật – Hàn), DA Cầu dây văng Cần Thơ (TaiseiKajima – Nippon Steel), DA Keangnam Landmark Tower, Hà Nội (Keangnam Enterprises)… (Vu, T. và đồng tác giả, 2020). Cũng như các nước đang phát triển trên thế giới, các DA liên danh nhà thầu xây dựng (CCJV) tuy có nhiều lợi ích như nâng cao năng lực, chia sẻ rủi ro và chi HV: PHẠM VĂN LONG - 1970324 2 GVHD: TS.
NGUYỄN THANH VIỆT LUẬN VĂN THẠC SỸ & TS. ĐỖ TIẾN SỸ phí, được tiếp cận kiến thức, công nghệ hiện đại, tăng khả năng cạnh tranh… nhưng vẫn tồn tại nhiều thách thức, rủi ro. Trong đó, vượt chi phí (COs) là một trong những nguyên nhân rất phổ biến quyết định hiệu quả DA, đã được nghiên cứu nhiều trên thế giới (Ahady, S. và cộng sự, 2017).
Ví dụ như ở Malaysia, hầu hết các DA xây dựng đều bị vượt chi phí từ 5 đến 10% tổng giá trị hợp đồng (Kamaruddeen, A. và cộng sự, 2020) hay giá nguyên vật liệu cũng là một yếu tố chính gây COs ở các DA xây dựng nhà cao tầng ở Indonesia (Kaming P. và đồng tác giả, 1997). Trong bối cảnh chiến sự căng thẳng giữa Nga – Ukraine từ tháng 12/2021 cho đến nay, giá vật liệu xây dựng (thép, xi măng, gỗ…) ở nhiều quốc gia trên thế giới có nhiều biến động lớn, do vậy, chi phí DA sẽ vượt mức so với dự kiến.
COs có thể xảy ra do nhiều nguyên nhân khác nhau ở các giai đoạn khác nhau trong suốt vòng đời DA. Nó không những tác động đến hiệu quả DA nói chung mà còn ảnh hưởng tiêu cực đến vấn đề tài chính của các bên liên quan, làm giảm lợi nhuận, tổn hại đến danh tiếng, mất uy tín, niềm tin của khách hàng, có thể mất cơ hội cho các DA tiếp theo, dễ dẫn đến phá sản. Sự hợp tác trong CCJV thông thường muốn đạt được nhiều lợi ích như cải thiện năng lực chuyên môn, giao tiếp, xây dựng đội ngũ, kỹ năng quản lý, báo cáo, nhiều cơ hội mới, trong đó có lợi nhuận sau JV tăng so với vốn đầu tư. Nhiều nghiên cứu ở Việt Nam đã phân tích các yếu tố gây COs ở giai đoạn thi công như Vu, H.
và đồng tác giả (2016), Long Le-Hoai và đồng tác giả (2008), Vu T. và đồng tác giả (2020),… Các nghiên cứu này đã chỉ những nguyên nhân gây COs chung cho toàn bộ ngành công nghiệp xây dựng. Tuy nhiên, đến nay vẫn chưa có nghiên cứu nào khảo sát vấn đề COs trong giai đoạn thi công cho các công trình liên danh xây dựng. Đề tài này được thực hiện nhằm xác định các nguyên nhân chính gây gia tăng chi phí xây dựng và chi phí thiết bị trong các công trình liên danh xây dựng.
Hay nói một cách khác là xác định các nguyên nhân chính gây tăng mức đầu tư trong giai đoạn thi công của công trình. Đặc biệt đối với DA liên danh xây dựng cho thấy không chỉ có sự phối hợp của các đơn vị mà sự đồng bộ và nhịp nhàng giữa các đơn vị liên danh còn có nhiều bất cập. Do đó, việc phân tích các nguyên nhân dẫn đến COs trong dự án liên danh nhằm HV: PHẠM VĂN LONG - 1970324 3 GVHD: TS. NGUYỄN THANH VIỆT LUẬN VĂN THẠC SỸ & TS.
ĐỖ TIẾN SỸ nắm bắt được mối quan hệ của các nguyên nhân đó với nhau là điều cần thiết. Vì vậy, mô hình cấu trúc tuyến tính (SEM) được sử dụng để phân tích mối liên hệ giữa các nguyên nhân và đưa ra giải pháp mang lại hiệu quả nhất.2 Mục tiêu nghiên cứu - Xác định các nguyên nhân gây vượt chi phí đối với các dự án liên danh giữa các nhà thầu xây dựng giai đoạn thi công; - Đánh giá mức độ ảnh hưởng và xếp hạng các nguyên nhân này, xác định mối liên hệ giữa chúng với nhau; - Đề xuất các chiến lược, giải pháp nhằm giảm vượt chi phí trong dự án liên danh xây dựng.3 Phạm vi nghiên cứu - Đối tượng nghiên cứu: Các nguyên nhân gây vượt chi phí đối với các dự án liên danh giữa các nhà thầu xây dựng giai đoạn thi công. - Đối tượng khảo sát: những người có kinh nghiệm trong lĩnh vực thi công và quản lý dự án nhà cao tầng. + Chủ đầu tư (CĐT), chuyên viên Ban QLDA.
+ Đơn vị Tư vấn thiết kế (TVTK) + Đơn vị Tư vấn quản lý dự án (QLDA). + Đơn vị Tư vấn giám sát (TVGS) + Nhà thầu (NT) chính, NT phụ, nhà cung cấp + Các đối tượng khác liên quan đến dự án - Giới hạn nghiên cứu: Các dự án nhà cao tầng ở TP. HCM và các tỉnh lân cận. HV: PHẠM VĂN LONG - 1970324 4 GVHD: TS.
NGUYỄN THANH VIỆT LUẬN VĂN THẠC SỸ & TS. ĐỖ TIẾN SỸ CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN 2.1 Các định nghĩa, khái niệm 2.1 Nhà thầu liên danh Theo Khoản 35 Điều 4 Luật Đấu thầu số 43/2013/QH13 ngày 26/11/2013 của Quốc Hội đã định nghĩa “NT chính là NT chịu trách nhiệm tham dự thầu, đứng tên dự thầu và trực tiếp ký, thực hiện hợp đồng nếu được chọn. NT chính có thể là NT độc lập hoặc thành viên của NT liên danh. Theo mục h, Khoản 1, Điều 5 của Luật này quy định: “NT nước ngoài khi tham dự thầu quốc tế tại Việt Nam phải liên danh với NT trong nước hoặc sử dụng NT phụ trong nước trừ trường hợp NT trong nước không đủ năng lực tham gia vào bất kỳ phần công việc nào của gói thầu.
Theo Khoản 3, Điều 5 của Luật này quy định: “Trường hợp JV phải có văn bản thỏa thuận giữa các thành viên, trong đó quy định rõ trách nhiệm của thành viên đứng đầu JV và trách nhiệm chung, trách nhiệm riêng của từng thành viên trong JV”. Theo Khoản 6, Điều 11 của Luật này quy định: “Trường hợp JV tham gia dự thầu, từng thành viên trong JV có thể thực hiện bảo đảm dự thầu riêng rẽ hoặc thỏa thuận để một thành viên chịu trách nhiệm thực hiện bảo đảm dự thầu cho thành viên đó và cho các thành viên khác trong JV. Tổng giá trị của bảo đảm dự thầu không thấp hơn giá trị yêu cầu trong hồ sơ mời thầu, hồ sơ yêu cầu”. Theo Khoản 1, Điều 65 & 71 của Luật này quy định: “Đối với nhà thầu JV, tất cả thành viên tham gia JV phải trực tiếp ký, đóng dấu (nếu có) vào văn bản hợp đồng”.
Như vậy, NT liên danh hoặc NT độc lập có thể là NT chính khi tham gia dự thầu hoặc trực tiếp ký, thực hiện hợp đồng nếu được lựa chọn. Liên danh NT là việc hai hay nhiều doanh nghiệp đứng tên để cùng nhau dự thầu dưới tư cách là NT liên danh và thực hiện gói thầu là một phần hoặc toàn bộ DA theo hồ sơ mời thầu. Sự khác nhau giữa “liên danh” và “liên doanh” theo bảng sau [https://dauthau.asia/]: HV: PHẠM VĂN LONG - 1970324 5 GVHD: TS. NGUYỄN THANH VIỆT LUẬN VĂN THẠC SỸ & TS.
ĐỖ TIẾN SỸ Bảng 2.1: Sự khác nhau giữa liên danh và liên doanh Liên danh Liên doanh Mối liên kết để nhằm thực hiện công Mối liên kết để cùng nhau thực hiện việc nào đó dựa trên danh nghĩa của hoạt động kinh doanh – thương mại nhau bằng cách thành lập pháp nhân mới. Được quy định lần đầu tại Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1987 đến Được quy định trong Luật đấu thầu và nay từ “liên danh” không còn dùng vì đến nay vẫn còn sử dụng đã bị thay thế bằng cụm từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Mục đích chủ yếu để các doanh nghiệp chưa đủ điều kiện tham gia dự thầu có cơ hội tham gia cạnh tranh, hợp tác Mục đích thành lập một pháp nhân hợp mang tính cục bộ, thực hiện DA xong tác lâu dài không chỉ dừng lại ở một thì kết thúc. Và có 2 mục đích phổ biến hay vài DA rồi kết thúc.
khi doanh nghiệp sử dụng hình thức này là hồ sơ năng lực không đủ để dự thầu hoặc không đủ vốn. Một hình thức của hợp đồng hợp tác Đầu tư theo hình thức thành lập pháp kinh doanh (BCC) nhân Đối với trường hợp đấu thầu quốc tế, Thu hút nguồn lực nước ngoài, tạo nền luật yêu cầu doanh nghiệp nước ngoài tảng pháp lý cho nhà đầu tư nước ngoài phải JV với doanh nghiệp trong nước an tâm trong hoạt động đầu tư, quan trừ trường hợp doanh nghiệp trong trọng thực hiện cam kết khi gia nhập nước không đủ năng lực WTO (World Trade Organization), các FTA (Free Trade Agreement).