Chương 1. TỔNG QUAN THÁP CHĂM – DẤU ẤN VĂN HÓA ĐẶC SẮC CỦA DÂN TỘC CHĂM TRÊN DÃI ĐẤT MIỀN TRUNG VIỆT NAM 1. Khái quát nhà nước Chăm pa (TK IV – XVII) Theo các thư tịch cổ của Trung Quốc như: Thủy Kinh Chú, Hậu Hán Thư, Tấn Thư, Tống Thư, Nam Tề Thư, Lương Thư. và ở Việt Nam thì có Đại Việt Sử Kí Toàn Thư,.
hay sau này tại Việt Nam có "Lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam" của tác giả Trần Quốc Vượng, Hà Văn Tấn (chương: Sự hình thành và phát triển của nhà nước Lâm Ấp); "Lịch sử Việt Nam" của tác giả Huỳnh Công Bá, NXB Thuận Hóa, 2004 hay "Vương quốc Champa" của tác giả Lương Ninh. [1],[2], [3], [4], [6],[9] cho rằng: Vương quốc Chăm (tiếng Chăm: Campapura - đô thị Chăm hay Nagara Campa - xứ sở Chăm, chữ Hán: 占婆,), là một quốc gia độc lập, tồn tại liên tục qua các thời kỳ từ năm 192 đến năm 1832 qua các tên gọi Lâm Ấp, Hoàn Vương, Chiêm Thành và cuối cùng là Panduranga-Chăm trên phần đất nay thuộc miền Trung Việt Nam. Cương vực của Chăm lúc mở rộng nhất trải dài từ dãy núi Hoành Sơn ở phía Bắc cho đến Bình Thuận ở phía Nam và từ biển Đông cho đến tận miền núi phía Tây của nước Lào ngày nay. Chăm hưng thịnh nhất vào thế kỷ thứ 9 và 10 và sau đó dần dần suy yếu dưới sức ép Nam tiến của các vương triều Đại Việt từ phía Bắc và các cuộc chiến tranh với Đế quốc Khmer.
Năm 1471, Chăm chịu thất bại nặng nề trước Đại Việt và bị mất phần lớn lãnh thổ miền bắc vào Đại Việt. Phần lãnh thổ còn lại của Chăm Pa tiếp tục bị các chúa Nguyễn thôn tính lần hồi và đến năm 1832 toàn bộ vương quốc chính thức bị sáp nhập vào Việt Nam… Vương quốc Chăm không phải là một quốc gia có thể chế chính trị "Trung ương tập quyền" mà là một dạng nhà nước liên bang gồm tộc người Chăm chiếm đa số và một số tộc người nhỏ hơn ở vùng núi Tây Nguyên. Vương quốc này có thể được kết hợp từ 5 tiểu vương quốc là: Indrapura (vùng Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế ngày nay), Amaravati (vùng Quảng Nam ngày nay), Vijaya (vùng Quảng 5 Ngãi, Bình Định ngày nay), Kauthara (vùng Phú Yên, Khánh Hòa ngày nay) và Panduranga (vùng Ninh Thuận và Bình Thuận ngày nay). Mỗi Tiểu quốc đều có thể chế chính trị theo hình thức tự trị và có quyền ly khai khỏi liên bang để xây dựng quốc gia riêng độc lập.
Vương quốc Chăm Pa đã trải qua nhiều triều đại với nhiều lần dời đô từ Bắc vào Nam và ngược lại. Dân tộc chính của Chăm Pa là tộc người Chăm được chia thành hai nhóm: Chăm ở phía Bắc và Chăm ở phía Nam. Nhóm Nam Chăm thuộc bộ tộc Cau (Kramuta Vanusa) và Nhóm Bắc Chăm thuộc bộ tộc Dừa (Naeikela Vanusa). Hai bộ tộc này vừa liên minh với nhau, vừa cạnh tranh nhau quyền đứng đầu Vương quốc Chăm….1) Về mặt lịch sử - trong quá trình hình thành nghệ thuật kiến trúc và xây dựng, tác giả D.Hall trình bày trong “Lịch Sử Đông Nam Á” [trang 293- 303][5] cho rằng từ thời kỳ đầu của thế kỷ VII đã chứng kiến những sự khởi đầu của những phát triển về nghệ thuật, chủ yếu là ở Mỹ Sơn và Trà Kiệu, gần Amaravati (Quảng Nam).
Ngay ở phía nam của các vùng mà ngày nay thuộc Đà Nẵng và đèo Hải Vân, vẫn còn thấy một số tượng đài (Mỹ Sơn), nhưng ở Trà Kiệu thì chỉ còn các nền móng, bởi vì thành phố đã bị phá huỷ. Vào giữa thế kỷ thứ VIII, sau những biến cố lịch sử, đã làm cho Vương quốc này chuyển trung tâm quyền lực về phía nam từ Quảng Nam đến Panduranga (Phan Rang) và Kauthara (Nha Trang). Điều này tiếp tục đánh dấu sự phát triển rực rỡ của hệ thống các công trình của người Chăm xưa theo suốt dãy miền Trung trong giai đoạn này. Nghệ thuật kiến trúc Chăm không chỉ đặc sắc về nghệ thuật tạo hình, kỹ thuật xây dựng, sử dụng chất liệu mà còn đa dạng về thể loại.
Hiện nay, di tích văn hóa Chăm được phân bố đều khắp trên dải đất duyên hải miền Trung từ tỉnh Quảng Bình vào đến Bình Thuận và Đồng Nai. Ở cao nguyên Trung bộ, các di tích Chăm xuất hiện rải rác tại các tỉnh Duyên hải miền Trung và ở Gia Lai, Kontum, Đắk Lắk, Lâm Đồng. Ngoài các di tích là các Đền Tháp, người Chăm còn để lại các di tích là các toà thành cổ gồm Thị Nại, Đồ Bàn, An Thành, Uất Trì (Đều nằm ở Bình Định), Sơn Tây (Quảng Ngãi), thành Hồ (Phú Yên), thành 6 Trà Kiệu; Một số khu lăng mộ cổ của người Chăm tại xã đảo Nhơn Châu (Bình Định), Hội An (Quảng Nam) với những kiểu kiến trúc, chạm trỗ độc đáo, bí hiểm; Các Giếng cổ với mạch nước trong lành quanh năm với kỹ thuật xây dựng đặc biệt; một số Miếu thờ tại Quảng Nam, Đà Nẵng (Vườn Đình Khuê Bắc, Chùa An Sơn,.) và hàng loạt các tác phẩm điêu khắc khác. Những dấu tích để lại dưới dạng phế tích này cho thấy sự phong phú về thể loại của các loại hình kiến trúc xây dựng Chăm.
Hiện nay, dấu tích của các thể loại công trình này nằm rải rác ở nhiều nơi nhưng tập trung chủ yếu ở khu vực miền Trung từ Quảng Bình đến Quy Nhơn- Bình Định. Bản đồ phân bố phế tích Chăm-Quảng Nam (Nguồn: Trung Tâm Bảo Tồn Di Tích Quảng Nam) 8 1. Thực trạng tồn tại các Tháp Chăm hiện nay Trong di sản văn hoá người Chăm, nổi bật nhất là hệ thống đền tháp. Hầu hết từ Miền Trung cho đến Tây Nguyên, nơi nào có người Chăm sinh sống thì họ đều xây dựng đền tháp để thờ thần.
Điều đó cho ta thấy tầm quan trọng đền tháp đối với người Chăm. Theo bia kí cho biết, ngay vào thế kỉ thứ V-VII người Chăm đã xây dựng đền tháp để thờ thần và kéo dài cho đến thế kỷ XVII các đền tháp Chăm tiếp tục ra đời mang nhiều phong cách khác nhau như Mỹ Sơn, Trà Kiệu, Bằng An, Chiên Đàn (Quảng Nam), Po Kluang Garai, Po Rame (Ninh Thuận), tháp Po Sah Inư, Po Dam (Bình Thuận), Tháp Yang Pruang (Tây Nguyên)… Tất cả đền tháp Chăm được xây dựng để thờ ba vị thần chính: Siva, Vishnu, Brahma. Về sau tháp Chăm ngoài thờ thần Ấn giáo họ còn thờ các vị vua Chăm như tháp Po KluangGarai, Po Rome (Ninh Thuận). Tháp Chăm, trong Ấn Độ giáo người ta gọi là Sikhara nghĩa là đỉnh núi nhọn, biểu thị của núi Mêru, một dạng kiến trúc tiêu biểu được xây dựng theo tín ngưỡng thống nhất thờ thần Siva, một trong tam vị nhất thể của đạo Bà La Môn(Brama- Visnu-Shiva).
Núi Mêru được biểu hiện thành kiến trúc Sikhara, người Chăm gọi là Kalan, có nghĩa là đền thờ. Tuy nhiên, đối với người Chăm ở miền Trung thì Tháp vừa là kiến trúc tôn giáo vừa còn là lăng mộ (Căn cứ vào hiện trạng bài trí, kết nối của một số Tháp có thể những nơi này có thể là điểm tạo táng những nhân vật chính yếu thời đó. Sách Đại Nam nhất thống chí viết: "Phàm những chỗ xưng là tháp đều là nơi hỏa táng của quốc vương và vương hậu Chiêm Thành") và là nơi tiến hành các nghi lễ thần thánh. Hệ thống các Đền-Tháp này cũng đã có một giai đoạn tồn tại, phát triển huy hoàn, rực rỡ.
Tuy nhiên, đến nửa cuối thế kỷ VIII là thời kỳ khủng hoảng của vương quốc Chăm khi phải chịu một loạt cuộc tấn công dữ dội trong các 9 cuộc tranh chấp. Cuộc tấn công năm 774 đã tàn phá vùng đất thánh cổ kính Po Nagar ở Nha Trang hay ba năm sau, một cuộc tấn công khác đã phá hủy một ngôi đền gần kinh độ Virapura (gần thị xã Phan Rang ngày nay). Những cuộc chiến tranh liên miên của vương quốc này với các nước lân cận cùng với sự khắc nghiệt của môi trường thiên nhiên và sự can thiệp của bàn tay con người đã khiến các công trình của người Chăm xưa phân bố trong suốt dãy miền Trung nói chung không còn nguyên vẹn. Tuy nhiên, chúng vẫn lưu giữ được những giá trị kiến trúc và mỹ thuật cổ rất quan trọng.
Trong đó, đặt biệt là hệ thống đền tháp trong khu thánh địa Mỹ Sơn (Hiện thuộc xã Duy Xuyên-Quảng Nam. Cách thành phố Đà Nẵng khoảng 70km về hướng Tây-Nam). Đồng Dương (tên Chăm cổ là Indrapura) được xây dựng vào năm 875, dưới triều vua Indravarman II mà trên bia ký mô tả là một “thành phố được trang hoàng lộng lẫy như một thành phố của thành Indra”. Đây là một tổng thể lâu đài, chùa miếu lớn nhất và quan trọng nhất của Chămpa cổ.
Theo điều tra sơ lược vào năm 1902 của H. Parmentier đã cho thấy tổng thể kiến trúc chính nằm trên một ngọn đồi cao 500m và có chiều dài từ Tây sang Đông là 1. Trong khu chính (tính từ Tây sang Đông) gồm miếu thờ chính nằm trong vành đai hình chữ nhật dài 326m, rộng 155m, một con đường rộng dài 763m, chạy tới một thung lũng rộng 240m, dài 300m. Trong thung lũng gồm nhiều khu kiến trúc có bố cục như một ngôi chùa Phật giáo hay tu viện Phật giáo.
Quanh các cổng vào và các vành đai của các khu là những chiếc cột (stamba) lớn nhỏ. Theo bi ký tìm thấy ở Đồng Dương đã chỉ ra tu viện Phật giáo này được xây dựng để thờ Laksmindra Lôkésvara. [5] Hiện nay toàn bộ khu di tích kiến trúc quan trọng ấy đã bị chiến tranh và con người biến thành bình địa. Ngoài hai khu di tích lớn Mỹ Sơn và Đồng Dương, suốt dải đất miền Trung, từ Quảng Nam-Đà Nẵng tới Bình Thuận rải rác còn nhiều tháp Chàm cổ khác như tháp Bằng An có bình đồ bát giác cao chừng 10 20m ở thôn Bằng An, xã Điện An, huyện Điện Bàn (tỉnh Quảng Nam), Tháp Chiên Đàn ở Tam Kỳ-Quảng Nam, ba tháp Khương Mỹ ở làng Khương Mỹ, xã Tam Xuân, huyện Núi Thành (Quảng Nam), tháp Phú Lộc thuộc Thôn Phú Thành xã Nhân Thành, huyện An Nhơn (tỉnh Bình Định), tháp Cánh Tiên nằm giữa khu thành cổ Đồ Bàn trên cánh đồng thôn Nam An xã Nhân Hậu, huyện An Nhơn (tỉnh Bình Định), cụm ba tháp An Chánh (hay Dương Long) ở thôn An Chánh, xã Bình An, huyện Tây Sơn (tỉnh Bình Định), tháp Thủ Thiện ở thôn Thủ Thiện, xã Bình Nghi, huyện Tây Sơn (tỉnh Bình Định), khu tháp Bánh Ít (gồm 4 tháp) ở thôn Đại Lộc xã Phước Hiệp, huyện Tuy Phước (tỉnh Bình Định), tháp Bình Lâm ở thôn Bình Lâm, xã Phước Hoà, huyện Tuy Phước (tỉnh Bình Định), cụm tháp Hưng Thạnh (gồm 2 tháp) ở phường Đống Đa, thị xã Quy Nhơn.