ĐẶT VẤN ĐỀ Nông nghiệp đóng vai trò vô cùng quan trọng trong đời sống và kinh tế ở các nước trên toàn thế giới. Cùng với trồng trọt, ngành chăn nuôi nói chung và ngành chăn nuôi lợn nói riêng đang trên đà phát triển và dần trở thành ngành chính trong nền kinh tế nông nghiệp. Trên các nước trên thế giới ngành nông nghiệp có hình thái khác nhau. Ở nước ta, ngành nông nghiệp luôn là một ngành giữ vị trí quan trọng trong nền kinh tế nước nhà nhưng lại bị chi phối, tác động bởi nhiều yếu tố khác nhau dẫn đến gặp nhiều khó khăn trong quá trình phát triển và mở rộng quy mô đặc biêt là ngành chăn nuôi nói chung và chăn nuôi lợn nói riêng.
Ngành chăn nuôi không chỉ giữ được vị trí quan trọng trong việc cung cấp thực phẩm mà còn là nguồn thu lợi nhuận lớn cho đất nước. Vì vậy, đề chăn nuôi đạt hiệu quả cao, ta cần làm thế nào? Hải Dương là một tỉnh có ngành chăn nuôi gia súc, gia cầm, thủy cầm phát triển, mang lại hiệu quả kinh tế cao. Hải Dương hiện có 776 trang trại chăn nuôi lợn, với gần 400 nghìn con. Diện tích đất trang trại chăn nuôi đang sử dụng hơn 300 ha.
Sản lượng thịt lợn hơi đạt 60. Đàn lợn nái sinh sản chiếm 12 -13% tổng đàn, về chất lượng đàn lợn nái ngoại khoảng 27%, Móng Cái 3%, nái lai nhiều máu ngoại 70%. Ngành chăn nuôi lợn còn gặp nhiều khó khăn như quy mô nhỏ lẻ, khâu chọn giống còn nhiều bất cập… Ngoài ra, do diễn biến phức tạp của nhiều loại dịch bệnh cùng với sự ảnh hưởng trầm trọng của ô nhiễm môi trường trong chăn nuôi đã làm cho cả ngành chăn nuôi lợn lao đao, đặc biệt hiện nay là dịch tả lợn Châu Phi. Vậy để đạt được năng suất tốt trong chăn nuôi lợn chúng ta cần chú trọng đến giai đoạn lợn nái nuôi con và lợn con theo mẹ.
Đây là giai 1 đoạn lợn con chịu ảnh hưởng rất lớn từ phương pháp nuôi dưỡng trong thời gian lợn mẹ mang thai và đẻ. Thêm vào đó, việc khảo sát, đánh giá năng suất sinh sản của các giống lợn khác nhau trong điều kiện nuôi dưỡng ở Việt Nam cũng rất quan trọng để cung cấp thêm những thông tin cho công tác giống lợn. Vì lý do trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “NĂNG SUẤT SINH SẢN CỦA LỢN NÁI DUROC TẠI TRANG TRẠI AMAFARM CHÍ LINH, HẢI DƯƠNG” 1. MỤC ĐÍCH – YÊU CẦU 1.Mục đích - Đánh giá đặc điểm sinh lý sinh dục và năng suất sinh sản của lợn nái Duroc.
- Đánh giá năng suất sinh sản của lợn nái Duroc phối với lợn đực Duroc qua các lứa đẻ. - Đánh giá tiêu tốn thức ăn/khối lượng lợn con cai sữa.Yêu cầu của đề tài - Theo dõi, ghi chép số liệu đầy đủ, đảm bảo tính khách quan, trung thực. - Nắm được một số các chỉ tiêu sinh lý sinh dục và năng suất sinh sản của lợn nái. - Nắm được quy trình chăm sóc nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho lợn nái đàn lợn con qua các giai đoạn.
2 PHẦN II TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. GIỚI THIỆU VỀ GIỐNG LỢN 2.1 Giống lợn Duroc - lợn Duroc là giống lợn có nguồn gốc từ Bắc Mỹ được sử dụng chủ yếu trong các tổ hợp lai kinh tế với lợn nội hoặc với lợn ngoại nhằm đạt mức tăng trọng nhanh, tỷ lệ nạc cao. - Lợn Duroc có thân hình vững chắc, lông có màu nâu vàng nhạt đến nâu sẫm, bốn chân to khỏe, vững chắc, ngực sâu, rộng, mông vai phát triển và cân đối, mõm thẳng, tai to ngắn, ở phần tai trước cụp, gập về phía trước, chất lượng thịt tốt (thịt mềm do mô nạc xen lẫn với mô mỡ dắt), thịt nạc màu đỏ đậm, khả năng tăng trọng nhanh, tiêu tốn thức ăn/1 kg tăng trọng thấp, đẻ con ít, tiết sữa kém. -Lợn trưởng thành đạt, con đực nặng 300 – 370 kg, con cái nặng 250 – 280 kg -Tăng khối lượng nhanh: 0,77 – 0,80 kg/ngày.
Nuôi 6 tháng đạt được 105 – 125 kg, tỷ lệ nạc 58 – 60,4% 2. CƠ SỞ SINH SẢN VÀ SINH LÝ CỦA LỢN NÁI 2. Đặc điểm sinh lý sinh sản của lợn nái Hoạt động sinh lý sinh sản của lợn nái bao gồm: Sự thành thục sinh dục; phát triển của trứng; giao phối, thụ tinh; quá trình mang thai, đẻ và nuôi con. Tuổi thành thục về tính là tuổi mà con vật bắt đầu có phản xạ sinh dục và có khả năng sinh sản.
Khi gia súc đã thành thục về tính, bộ máy sinh dục đã phát triển hoàn thiện, dưới tác động của thần kinh nội tiết con vật xuất hiện các phản xạ về tính dục. Con cái có hiện tượng động dục, con đực có phản xạ giao phối. Khi đó ở con cái các noãn bào chín và tế bào trứng rụng ở một, hai chu kỳ động dục đầu trứng rụng ít và sau đó số trứng rụng tăng lên. 3 Thời gian thành thục về tính thường sớm hơn thời gian thành thục về thể vóc.
Khi thành thục về tính lần đầu, khối lượng của lợn rất nhỏ, lợn cái nội chỉ đạt 10 – 15kg, cái lai ngoại nội 50 – 60kg, cái ngoại đạt 80 – 100kg. Ngoài ra tuổi thành thục về tính còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: giống, di truyền, thời tiết, khí hậu, mùa vụ, điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng… Giống: đối với các giống khác nhau thì thời gian thành thục về tính cũng khác nhau.Ở lợn nội như Ỉ, Móng Cái thường là 4-5 tháng tuổi sớm hơn so với lợn ngoại thường là 6-7 tháng tuổi - Chế độ dinh dưỡng: Dinh dưỡng ảnh hưởng trực tiếp đến sự thành thục về tính trực tiếp đến tốc độ sinh trưởng và sự tích mỡ, nhìn chung gia súc có chế độ dinh dưỡng tốt thì thành thục về tính sớm hơn gia súc có chế độ dinh dưỡng kém. Một cơ thể được coi là thành thục về tính có nghĩa là cơ quan sinh dục đã sản sinh ra tế bào trứng phát triển, chín và rụng trứng. Sự thành thục về tính thường sớm hơn sự thành thục về thể vóc.
Khi lợn đạt đến khối lượng và tháng tuổi nhất định thì mới có thành thục về tính. Khi con vật đã thành thục về tính. Bộ máy sinh dục đã phát triển hoàn thiện. Dưới tác dụng của thần kinh nội tiết tố con vật bắt đầu xuất hiện các phản xạ về sinh dục.
Con cái có hiện tượng động dục, con đực có phản xạ giao phối. Khi đó con cái các noãn bao chín và rụng trứng (lần đầu). Con đực có phản xạ sinh tinh. Đối với các giống khác nhau tuổi thành thục về tính khác nhau.
Tuổi giao phối lần đầu của lợn nội là 7-8 tháng tuổi. khối lượng đạt 60 -70 kg, lợn nái ngoại là 9-10 tháng tuôi khi đạt khối lượng 90 -100kg. Trong chăn nuôi lợn nái sinh sản khi đã thành thục về tính nhưng chỉ phối giống khi lợn nái đạt khoảng 70% khối lượng cơ thể trưởng thành. Một số chỉ tiêu đánh giá năng xuất sinh sản của lợn nái 4 Để đánh giá năng suất sinh sản của lợn nái thì có thể dùng nhiều chỉ tiêu sinh sản khác nhau.
Tuỳ vào mục đích nghiên cứu, lĩnh vực mà có thể chọn nhiều hoặc ít chỉ tiêu. Hiện nay thường dùng một số chỉ tiêu sau: có hai nhóm chỉ tiêu chính là nhóm chỉ tiêu về sinh lý sinh dục và chỉ tiêu về năng suất sinh sản. Tuổi động dục lần đầu Tuổi động dục lần đầu là thời gian từ khi sơ sinh đến khi lợn nái hậu bị động dục lần đầu tiên, tùy theo từng giống mà tuổi động dục khác nhau. Lợn nái hậu bị nếu nuôi nhốt liên tục sẽ có tuổi động dục lần đầu muộn hơn lợn nuôi chăn thả.
Lợn nuôi có thời gian chăn thả sẽ tăng cường trao đổi chất, tổng hợp được sinh tố và có dịp tiếp xúc với lợn đực, nên có tuổi động dục lần đầu sớm hơn. Tuổi phối giống lần đầu Thông thường ở lần động dục đầu tiên người ta bỏ qua không phối vì thời điểm này thể vóc phát triển chưa hoàn chỉnh và số lượng trứng rụng lần đầu ít, do đó nên phối giống vào lần động dục thứ 2 hoặc thứ 3 trở đi. Tuổi phối giống lần đầu thích hợp với lợn nội là 7,5 – 8 tháng tuổi, với lợn ngoại là 8 – 8,5 tháng tuổi. Tuổi đẻ lứa đầu Tuổi đẻ lứa đầu là thời gian lợn được sinh ra cho đến khi lợn đẻ lứa đầu.
Tuổi đẻ lứa đầu phụ thuộc vào tuổi phối giống và kết quả phối giống. Đối với lợn ngoại tuổi đẻ lứa đầu thường muộn hơn lợn nội do tuổi thành thục về tính cũng muộn hơn. Số con sơ sinh/ổ (con): Số con sơ sinh/ổ là tổng số con đẻ ra trên một lứa. Bao gồm cả thai gỗ, thai chết và thai sống.
Chỉ tiêu này đánh giá được tính sai con và khả năng nuôi thai của lợn nái, đồng thời đánh giá được kỹ thuật nuôi dưỡng, chăm sóc của người chăn nuôi. Số con còn sống/ổ (con): 5 Chỉ tiêu này là số con sống kể từ khi đẻ xong con cuối cùng của ổ đó. Nói lên khả năng đẻ nhiều con hay ít con của giống, đánh giá được chất lượng đàn con, khả năng nuôi thai của lợn nái, kỹ thuật phối giống và kỹ thuật chăm sóc nuôi dưỡng lợn nái của người chăn nuôi. Tỷ lệ sơ sinh sống/ổ (%): Chỉ tiêu này được tính bằng tỷ lệ số con còn sống trên ổ so với số con sơ sinh đẻ ra trên ổ.
Tỷ lệ này không bảo đảm đạt 100% do nhiều nguyên nhân như lợn con chết khi đẻ ra, thai gỗ, thai non, chết do mẹ đè. Khối lượng sơ sinh/con (kg): Khối lượng sơ sinh/con là khối lượng cân sau khi lợn con đẻ ra đã lau khô, và chưa cho bú sữa đầu của từng con lợn một trong đàn và được tính là khối lượng trung bình của lợn sơ sinh/ổ. Chỉ tiêu này đánh giá kỹ thuật chăm sóc nuôi dưỡng của người chăn nuôi trong quá trình lợn mang thai đồng thời cũng nói lên số con đẻ của lợn mẹ, lợn con càng ít thì khối lượng sơ sinh càng lớn và ngược lại. Khối lượng sơ sinh/ổ (kg): Khối lượng sơ sinh toàn ổ là khối lượng cân sau khi lợn con đẻ ra, lau khô, chưa cho bú sữa đầu.
Đây là chỉ tiêu nói lên khả năng nuôi dưỡng thai của lợn mẹ, kỹ thuật chăn nuôi, chăm sóc, quản lý và phòng bệnh cho lợn nái chửa của cơ sở chăn nuôi. Khối lượng sơ sinh cao hay thấp ảnh hưởng đến các giai đoạn sau này.