ĐẶT VẤN ĐỀ Nước ta có truyền thống về sản xuất chăn nuôi gia cầm, chiếm vị trí quan trọng thứ 2 trong tổng giá trị sản xuất của ngành chăn nuôi. Tuy nhiên, đàn gia cầm nước ta phân bố không đồng đều, gà tập trung ở miền bắc, vịt lại tập trung ở miền nam. Hoạt động sản xuất và các sản phẩm từ gia cầm gắn liền với các hoạt động văn hóa truyền thống của người nông dân Việt Nam từ xa xưa cho đến ngày hôm nay, sản phẩm của gia cầm được sử dụng là vật phẩm chính và không thể thiếu trong dịp tết cổ truyền, ngày giỗ, lễ hội. Hiện nay, đời sống của người dân ngày càng được nâng cao nên nhu cầu về thực phẩm không những phải đảm bảo đủ số lượng mà còn yêu cầu đảm bảo về cả chất lượng.
Vì thế, chăn nuôi gia cầm càng được chú trọng và đầu tư hơn nữa. Nhằm tạo ra sản phẩm đạt đủ tiêu chuẩn về số lượng và chất lượng, các trang trại phải thực hiện đúng các quy trình, các công thức thức ăn và mô hình chăn nuôi hợp lý nhất dưới sự theo dõi bên phía công ty. Vì vậy việc nghiên cứu về tình hình chăn nuôi, yêu cầu kỹ thuật, chăm sóc và các giai đoạn, đặc điểm của gà Isa Brown đang là vấn đề được quan tâm. Xuất phát từ nhu cầu đó, em tiến hành nghiên cứu đề tài: “ Đánh giá năng suất sinh sản của giống gà đẻ trứng Isa Brown thương phẩm nuôi tại trang trại gia đình ” 1.
MỤC ĐÍCH – YÊU CẦU CỦA ĐỀ TÀI 1. Mục đích Đề tài tiến hành nhằm mục đích xác định khả năng sinh sản và chất lượng trứng của gà đẻ tại trang trại gia đình ông Nguyễn Danh Chọn. Kết quả của đề tài phần nào góp phần nâng cao năng suất chăn nuôi của trang trại. Trong quá trình thực tập có thể học hỏi các kinh nghiệm thực tiễn trong chăn nuôi gà đẻ trứng.
Yêu cầu Theo dõi đầy đủ, ghi chép, thu thập số liệu liên quan về khả năng sinh sản của đàn gà Isa Brown nuôi tại trang trại một cách khách quan chân thực và kế thừa. 2 Phần II TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. CƠ SỞ KHOA HỌC 2. Giống gà Isa Brown a.
Nguồn gốc Gà Isa Brown là giống gà siêu trứng có nguồn gốc tại Hà Lan. Đây là một giống gà lai, được lai tạo giữa giống gà Rohde đỏ với gà Rohde trắng do công ty Hubbard ISA, do đó giống gà còn có tên gọi khác là gà Hubbard. Ở Việt Nam, gà Isa Brown được xếp vào nhóm gà siêu trứng cho năng suất cao và phù hợp với nhiều vùng chăn nuôi khác nhau b. Đặc điểm ngoại hình Gà mái thương phẩm có màu nâu.
Có thể phân biệt trống mái từ lúc 1 ngày tuổi, con trống có màu lông trắng, mái có màu lông nâu. Màu sắc lông đa dạng theo từng dòng. Đặc điểm sinh sản Gà Isa Brown là giống gà siêu trứng phổ biến nhất ở Việt Nam đồng thời được là giống gà đẻ tốt nhất trên thế giới sau hơn 40 năm đưa vào chăn nuôi. Giống gà Isa Brown có tính thành thục sinh dục muộn nên tuổi đẻ những quả trứng đầu tiên sau 16-18 tuần tuổi.
Và cho năng suất tối đa lên đến 280-300 quả/mái/năm. Gà có sức đẻ cao, thời gian đẻ trứng kéo dài, khối lượng trứng lớn lên đến 58-60 gam, vỏ trứng có màu nâu. Thức ăn tiêu tốn cho gà để đẻ cho 10 quả trứng khoảng 1,5-1,6 kg thức ăn d. Đặc điểm sinh trưởng Muốn gà đẻ nhiều, chất lượng trứng tốt thì thức ăn cho gà phải bảo đảm thành phần dinh dưỡng trong thức ăn kết hợp với cho uống đủ nước pha điện giải đầy đủ trong những ngày nắng nóng.
Giống gà này chống chịu bệnh tật tốt nên tỷ lệ nuôi sống cao khoảng 94%. Tuy nhiên để đạt được hiệu quả như trên vẫn cần tiêm đầy đủ vaccine cùng công tác quản lý, chăm sóc. 3 Trong điều kiện bình thường các lô gà khác nhau trong cùng một giống có tỷ lệ nuôi sống khác nhau. Điều đó cho thấy tỷ lệ nuôi sống chịu ảnh hưởng rất lớn của yếu tố môi trường.
Theo Lê Viết Ly (1995) cho biết động vật thích nghi tốt thể hiện ở sự giảm khối lượng cơ thể thấp khi bị stress, có sức sinh sản tốt, sức kháng bệnh cao, sống lâu và tỷ lệ chết thấp. Tính trạng số lượng Tính trạng số lượng là những tính trạng mà giá trị kiểu hình của chúng có thể đo lường được bằng các đại lượng nhưng không thể mô tả và tách các cá thể vào từng nhóm kiểu hình riêng biệt được như khối lượng, kích thước các chiều của cơ thể hoặc bộ phận cơ thể, tỷ lệ mỡ, tỷ lệ nuôi sống, tỷ lệ đẻ, tốc độ sinh trưởng. Đại bộ phận các tính trạng có giá trị về kinh tế ở vật nuôi đều là các tính trạng số lượng hay còn gọi là tính trạng đo lường. Khác với tính trạng chất lượng, các tính trang số lượng đều do nhiều gen chi phối và bị ảnh hưởng bởi yếu tố môi trường.
Theo quy luật di truyền chúng ta biết: P=G+E Trong đó: P: Giá trị kiểu hình G: Giá trị di truyền E: Biến động môi trường Giá trị kiểu hình (giá trị phenotyp): là giá trị cân đo đong đếm được của tính trạng số lượng. Giá trị di truyền (giá trị genotype): là toàn bộ các gen mà cá thể có gây nên. Biến động môi trường: do tất cả các yếu tố không phải di truyền gây nên sự sai khác giữa giá trị di truyền và giá trị kiểu hình. KHẢ NĂNG SINH SẢN Ở GIA CẦM Khả năng sinh sản của gia cầm chính là sức đẻ trứng của gia cầm.
Sức đẻ trứng của gia cầm là số trứng thu được của mỗi đàn hoặc mỗi mái đẻ trong một khoảng thời gian (1 tháng, 1 năm hay cả đời mái đẻ). 4 Gia cầm mái thành thục tương đối sớm và khả năng đẻ cao. Các nhà phôi thai học cho rằng trứng gia cầm là một tế bào sinh sản khổng lồ gồm lòng trắng, lòng đỏ, màng vỏ và vỏ. Những đặc điểm này chịu ảnh hưởng của công tác giống, nuôi dưỡng và chăm sóc.
Sự hiểu biết về những đặc tính hình thái và sinh lý của cơ quan sinh dục gia cầm có ý nghĩa lớn trong nghiên cứu và thực tiễn nhằm tăng hiệu quả chăn nuôi. Buồng trứng Ở giai đoạn phôi thai, hai phía phải và trái của gia cầm đều có buồng trứng phát triển nhưng sau khi nở thì buồng trứng bên phải ngừng phát triển và thoái hóa dần chỉ còn lại buồng trứng bên trái tiếp tục phát triển. Buồng trứng nằm ở phía trái xoang bụng được giữ bằng màng bụng, hơi thấp hơn thận trái, được đỡ bằng các nếp gấp của màng bụng từ trên xuống dưới. Kích thước và hình dạng của buồng trứng phụ thuộc vào tuổi, loài và trạng thái sinh lý của gia cầm.
Ở gà con 1 ngày tuổi buồng trứng có dạng phiến mỏng, kích thước 1-2mm với khối lượng 0,03g. Tới 4 tháng tuổi buồng trứng có dạng hình thoi chứa nhiều tế bào trứng, khối lượng 2,66g. Trong thời kì đẻ mạnh buồng trứng có hình chùm nho, khối lượng 55g, thời kì thay lông giảm còn 5g Cấu trúc buồng trứng gồm: chất vỏ và chất tủy + Bề mặt vỏ được phủ bằng một lớp biểu mô có lớp tế bào hình trụ hay lăng trụ thấp. Dưới chúng có 2 lớp nang với các tế bào trứng.
Nằm ở lớp ngoài là những nang nhỏ có đường kính đến 400 micron, trong lớp sâu hơn có những nang lớn hơn với đường kính 800 micron hay to hơn. + Chất tủy tập trung ở giữa buồng trứng, cấu tạo từ các biểu mô liên kết với hệ thống mạch máu và dây thần kinh rất phát triển. Trong chất tủy có những khoang được phủ bằng mô dẹt và tế bào kẽ. Ống dẫn trứng Ống dẫn trứng là một phần hình ống, tại đây xảy ra quá trình thụ tinh và hình thành trứng của gia cầm.
Kích thước của ống dẫn trứng thay đổi theo tuổi 5 và hoạt hóa chức năng hệ sinh dục của gia cầm. Khi thành thục sinh dục, ống dẫn trứng trơn, thẳng có đường kính đồng nhất trên toàn bộ ống, chiều dài từ 10 - 20 cm đường kính 0,3-0,8cm. Sau khi đẻ quả trứng đầu tiên ống dẫn có chiều dài 68cm đường kính khác nhau giữa các phần của ống, phần lớn nhất của ống đường kính là 10cm. Vào thời kỳ đẻ trứng mạnh chiều dài của ống dẫn trứng tăng tới 86cm, còn đường kính đến 10cm.
Ở gà không đẻ trứng, chiều dài của ống dẫn trứng giảm đến 11-18cm, đường kính 0,4 - 0,7cm. Ở thời kỳ thay lông ống dẫn trứng có chiều dài là 17cm. Khi gia cầm thành thục sinh dục, ống dẫn trứng gồm các phần sau: phễu, phần tạo lòng trắng, cổ, tử cung và âm đạo. + Phễu: là mở rộng phía đầu của ống dẫn trứng dài 4- 7cm, đường kính 8- 9cm.
Nó nằm dưới buồng trứng với chức năng hứng trứng. Nhờ kiểu nhu động một chiều nên khả năng hút được tế bào trứng rụng về mình mà không thể rơi vào xoang bụng. Trứng được thụ tinh ở phần này. Niêm mạc ở phần phễu tiết ra chất tiết có tác dụng nuôi dưỡng tinh trùng.
Tinh trùng có thể sống tại phần loa kèn được 1-30 ngày. Nhưng hoạt lực thụ tinh tốt nhất từ 1-7 ngày. Tế bào trứng lưu lại ở phần phễu không quá 20-30 phút. Sau đó nhờ nhu động của ống dẫn trứng mà trứng được di chuyển tiếp tục xuống các phần sau của ống dẫn trứng.
+ Phần tạo lòng trắng: Là phần dài nhất của ống dẫn trứng có chiều dài bằng 30- 50cm. Chức năng là sản sinh ra lòng trắng trứng. Chừng 40-50% lòng trắng trứng được hình thành từ đoạn này, phần lòng trắng còn lại sẽ tiếp tục được hình thành ở phần sau của ống dẫn trứng. Trứng lưu lại ở phần tạo lòng trắng trứng không quá 3 giờ.
+ Cổ (eo): Là phần hẹp nhất của ống dẫn trứng dài 8 cm, niêm mạc nếp gấp xít, có nhiều tuyến hình ống tiết ra chất hạt như keratin tạo nên lớp sợi chắc quấn lấy để hình thành 2 lớp màng chắc dính sát nhau, chỉ tách nhau ở đầu to của trứng, đó là màng dưới vỏ cứng. Phần cổ là nơi định dạng hình dạng của quả trứng và hình thành một phần lòng trắng. Trứng nằm ở phần eo gần 1 giờ 6 + Tử cung: Là phần phình to tiếp theo phần eo, có chiều dài bằng 10% chiều dài ống dẫn trứng khoảng 8-12cm. Tại tử cung phần lòng trắng tiếp tục được sinh ra và thấm qua màng vỏ trứng vào trứng.