Tổng quan nghiên cứu

Việt Nam sở hữu đường bờ biển dài 3.260 km cùng hơn 1 triệu km2 thềm lục địa, nơi có khoảng 70% dân số thường xuyên chịu rủi ro trực tiếp từ các hiểm họa tự nhiên. Trong bối cảnh nóng lên toàn cầu, vùng duyên hải Bắc Trung Bộ trở thành một trong những khu vực chịu tổn thương nghiêm trọng nhất. Huyện Diễn Châu thuộc tỉnh Nghệ An có 25 km đường bờ biển với quy mô dân số năm 2016 đạt 283.327 người, phân bố trên diện tích tự nhiên 30.504,67 ha. Toàn huyện có 8 xã ven biển và cửa sông đang đối mặt với tần suất bão lũ, triều cường, xói lở bờ biển và hạn hán ngày càng gay gắt, đe dọa trực tiếp đến đời sống dân sinh cùng các ngành sản xuất trọng yếu.

Vấn đề cốt lõi đặt ra là khả năng chống chịu và tự điều chỉnh của cộng đồng địa phương trước các cú sốc khí hậu còn nhiều hạn chế, thiếu tính đồng bộ giữa các hợp phần kinh tế, xã hội và thể chế quản trị. Luận văn thạc sĩ khoa học môi trường của tác giả Thái Thị Hoàng Giang, dưới sự hướng dẫn của Phó Giáo sư Lưu Đức Hải và Tiến sĩ Phạm Thị Việt Anh tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên - Đại học Quốc gia Hà Nội, tập trung giải quyết mục tiêu: Đánh giá định lượng năng lực ứng phó với biến đổi khí hậu của cộng đồng dân cư ven biển huyện Diễn Châu, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao khả năng thích ứng dựa vào cộng đồng nhằm duy trì sinh kế bền vững.

Phạm vi nghiên cứu không gian bao quát 8 xã ven biển Diễn Châu, trong đó đi sâu khảo sát thực địa tại 3 xã đại diện là Diễn Bích, Diễn Kim và Diễn Hải với dữ liệu giai đoạn 2014-2017. Nghiên cứu mang ý nghĩa khoa học và thực tiễn sâu sắc khi thiết lập bộ công cụ lượng hóa 33 chỉ số, góp phần hỗ trợ địa phương duy trì tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất bình quân trên 8,85%/năm và giảm thiểu tỷ lệ dễ bị tổn thương cho hơn 50% hộ dân ven biển.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng khung lý thuyết đánh giá khả năng thích ứng của Ủy ban Liên chính phủ về Biến đổi Khí hậu (IPCC, 2001, 2007) kết hợp mô hình hàm thích ứng do tác giả Yusuf A. (2009) xây dựng cho khu vực Đông Nam Á, trong đó năng lực thích ứng được xác định là hàm phụ thuộc vào các yếu tố kinh tế - xã hội, trình độ công nghệ và hạ tầng kỹ thuật. Bên cạnh đó, nghiên cứu tích hợp lý thuyết Thích ứng dựa vào cộng đồng (Community-Based Adaptation - CBA) do Hannah Reid cùng các cộng sự (2009) phát triển và mô hình thích ứng đô thị ven biển của Giáo sư Mai Trọng Nhuận (2009), nhằm khai thác tối đa vốn xã hội và tri thức bản địa.

Nghiên cứu làm rõ 5 khái niệm chuyên ngành nền tảng:

  • Biến đổi khí hậu (BĐKH): Sự thay đổi trạng thái khí hậu kéo dài qua nhiều thập kỷ do hoạt động của con người hoặc các chu kỳ tự nhiên.
  • Năng lực ứng phó (NLƯP): Khả năng của hệ thống hoặc cộng đồng trong việc phòng ngừa, chống chịu, phục hồi và chuyển hóa các tác động bất lợi thành cơ hội phát triển.
  • Khả năng thích ứng (Adaptive Capacity - AC): Sự điều chỉnh linh hoạt trong hệ sinh thái và hành vi con người để giảm bớt thiệt hại thực tế hoặc tiềm tàng.
  • Giảm nhẹ (Mitigation): Các can thiệp nhằm giảm thiểu nguồn phát thải hoặc tăng cường khả năng hấp thụ các loại khí nhà kính.
  • Tính dễ bị tổn thương (Vulnerability): Mức độ mà một hệ sinh thái hoặc cộng đồng xã hội dễ chịu tổn hại trước các hiểm họa khí hậu do thiếu hụt nguồn lực ứng phó.

Khung đánh giá được cấu trúc thành 5 hợp phần lớn với 33 chỉ số chi tiết, kế thừa từ 228 giải pháp thích ứng theo phân loại của IPCC (1995).

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn gồm dữ liệu thứ cấp (báo cáo kinh tế - xã hội huyện Diễn Châu giai đoạn 2014-2016, số liệu khí tượng với lượng mưa trung bình 1.690 mm/năm, kịch bản biến đổi khí hậu của Bộ Tài nguyên và Môi trường) và dữ liệu sơ cấp thu thập qua đợt khảo sát thực địa tháng 6/2017.

Cỡ mẫu điều tra thực tế gồm 93 phiếu phát ra tại 31 xóm thuộc 3 xã trọng điểm (Diễn Kim 13 xóm, Diễn Hải 10 xóm, Diễn Bích 8 xóm), thu về 83 phiếu hợp lệ (Diễn Bích: 23 phiếu, Diễn Kim: 30 phiếu, Diễn Hải: 30 phiếu). Phương pháp chọn mẫu áp dụng kỹ thuật chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng kết hợp xã hội học, lựa chọn đại diện 3 hộ gia đình trên mỗi xóm với thời lượng phỏng vấn trực tiếp 90 phút/hộ nhằm đảm bảo tính đại diện cho các nhóm sinh kế nông nghiệp, diêm nghiệp và ngư nghiệp.

Phương pháp xử lý số liệu sử dụng kỹ thuật chuẩn hóa Min-Max để chuyển đổi các biến định lượng về giá trị phi đơn vị trong đoạn [0, 1], áp dụng thang đo điểm chuẩn đối với biến bán định lượng và tính tỷ lệ phần trăm cho biến nhị phân. Dữ liệu được tính toán chỉ số tổng hợp bằng phần mềm Microsoft Excel và SPSS. Lý do lựa chọn phương pháp này là nhằm triệt tiêu sự sai khác về đơn vị đo lường, cho phép tổng hợp các tiêu chí phức tạp thành một chỉ số tích hợp duy nhất để so sánh khách quan giữa các địa bàn nghiên cứu.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, hiểm họa thiên tai cực đoan diễn biến phức tạp và khốc liệt. Tỉnh Nghệ An chịu 19% tổng số cơn bão đổ bộ vào Việt Nam với tần suất tập trung 43% vào tháng 9 hàng năm. Cơn bão số 10 năm 2017 có sức gió giật cấp 15 gây ngập úng nghiêm trọng toàn bộ vùng bãi ngang. Năm 2016, lượng mưa cực đoan từ 100 đến 200 mm đã khiến 4.500 ha cây vụ đông bị ngập úng; đồng thời hạn hán kéo dài làm 830 ha đất sản xuất thiếu nước, dung tích trữ của 6 hồ đập lớn giảm mạnh chỉ còn 40% đến 60%.

Thứ hai, xâm nhập mặn và xói lở đất phá hủy hạ tầng và sinh kế. Toàn huyện có 50% số hộ dân vùng ven biển bị ảnh hưởng bởi thiếu nước ngọt sinh hoạt. Kết quả phỏng vấn 83 hộ gia đình chỉ ra: 41% người dân khẳng định nhiễm mặn tác động nghiêm trọng đến sản xuất, 47% chịu ảnh hưởng mức độ trung bình và chỉ 12% không bị ảnh hưởng. Dọc bờ biển và cửa sông Bùng, toàn tỉnh có 290 điểm sạt lở; riêng 19 xã ven biển bị xói lở chiều dài 19 km với tốc độ trung bình 42 m/năm, làm mất đi khoảng 100 ha đất mỗi năm.

Thứ ba, nhận thức cộng đồng có sự chênh lệch lớn giữa lo âu cảm tính và hiểu biết kỹ thuật. Có tới 60% người dân cảm thấy rất lo lắng và 34% cảm thấy lo lắng (tổng cộng 94% bất an) khi tiếp nhận thông tin thiên tai. Mặc dù 100% hộ gia đình tiếp cận được sóng truyền hình và phát thanh, đa số người dân chỉ nhận biết BĐKH qua biểu hiện hiện tượng thời tiết mà chưa nắm rõ nguyên nhân cốt lõi để chủ động thực hiện biện pháp phòng ngừa dài hạn.

Thứ tư, năng lực thích ứng của các xã có sự phân hóa theo cấu trúc sinh kế. Các xã nông nghiệp như Diễn Hải có vốn xã hội và mức độ tham gia tổ chức đoàn thể đạt chỉ số cao hơn, trong khi xã thuần ngư Diễn Bích có hạ tầng nhà ở kiên cố nhiều tầng hơn nhưng lại chịu mức độ nhạy cảm cao về nguồn nước sinh hoạt và an toàn neo đậu tàu thuyền.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân chính dẫn đến tính dễ bị tổn thương cao tại Diễn Châu bắt nguồn từ điều kiện địa hình lòng chảo thấp trũng (cao độ từ 0,4 đến 0,7 m), sự suy giảm dòng chảy mùa kiệt của sông Bùng và hệ thống hạ tầng cấp nước sạch mới chỉ đáp ứng 30% dân số đô thị và 81% dân số nông thôn được dùng nước hợp vệ sinh.

So sánh với các nghiên cứu của Lê Tuấn Anh (2012) tại Bến Tre hay dự án thích ứng của World Vision (2012) tại Cà Mau, kết quả nghiên cứu tại Diễn Châu khẳng định mô hình thích ứng dựa vào cộng đồng là hướng đi khả thi nhất để bù đắp những thiếu hụt về nguồn lực công. Toàn bộ dữ liệu nghiên cứu có thể được trực quan hóa thông qua hệ thống biểu đồ cột so sánh chỉ số năng lực thích ứng giữa 3 xã và bảng tổng hợp 33 chỉ số thuộc 5 hợp phần (vốn con người, kinh tế, xã hội, hạ tầng dịch vụ và quản trị địa phương), giúp các nhà quản lý nhận diện nhanh chóng các khâu xung yếu cần ưu tiên can thiệp.

Đề xuất và khuyến nghị

  1. Nâng cấp và kiên cố hóa công trình bảo vệ bờ biển: Gia cố 25 km tuyến đê biển, đê cửa sông Bùng và xây dựng kè chống xói lở tại các điểm xung yếu thuộc xã Diễn Bích, Diễn Kim; nâng tỷ lệ kênh mương nội đồng được bê tông hóa từ 70% hiện nay lên 90% trước năm 2025. Chủ thể thực hiện: Ủy ban nhân dân huyện Diễn Châu phối hợp Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Nghệ An.
  2. Chuyển đổi cơ cấu cây trồng, mùa vụ và hiện đại hóa phương tiện khai thác: Mở rộng mô hình canh tác lúa cải tiến SRI, phát triển vùng trồng dưa lưới trong nhà màng công nghệ cao tại xã Diễn Thành; hỗ trợ ngư dân xã Diễn Ngọc và Diễn Bích nâng cấp đội tàu vỏ thép công suất 828 CV phục vụ đánh bắt xa bờ, nhằm mục tiêu giảm tỷ lệ hộ nghèo toàn huyện xuống dưới 3% vào năm 2023. Chủ thể thực hiện: Phòng Nông nghiệp huyện, Trạm Khuyến nông và các Hợp tác xã nông - ngư nghiệp.
  3. Triển khai chương trình truyền thông và tập huấn thích ứng dựa vào cộng đồng: Tổ chức định kỳ 100% các lớp đào tạo kỹ năng phòng chống thiên tai cho toàn bộ 31 xóm ven biển, nâng tỷ lệ người dân hiểu đúng bản chất BĐKH từ 40% lên trên 80% trong giai đoạn 2020-2025. Chủ thể thực hiện: Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện, Hội Phụ nữ và Đoàn Thanh niên cấp xã.
  4. Thiết lập cơ chế tài chính vi mô và lồng ghép quy hoạch: Thành lập Quỹ quay vòng vốn thích ứng thiên tai cấp xã, cung ứng vốn vay ưu đãi cho 100% hộ dân nằm trong vùng trượt lở nguy hiểm tại xóm Quyết Thắng (Diễn Bích) di dời tái định cư an toàn trước năm 2025; tích hợp các kịch bản rủi ro khí hậu vào quy hoạch sử dụng đất giai đoạn 2021-2030. Chủ thể thực hiện: Ủy ban nhân dân các xã phối hợp Ngân hàng Chính sách Xã hội huyện Diễn Châu.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Cán bộ quản lý nhà nước và nhà hoạch định chính sách: Cung cấp luận cứ khoa học để xây dựng Kế hoạch hành động ứng phó BĐKH cấp huyện, lồng ghép chỉ số thích ứng vào quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội trên diện tích 30.504 ha của địa phương.
  • Giảng viên, nghiên cứu viên và sinh viên chuyên ngành Môi trường: Tài liệu tham khảo học thuật về phương pháp xây dựng bộ công cụ lượng hóa 33 chỉ số thích ứng cấp hộ gia đình theo chuẩn IPCC và kỹ thuật xử lý dữ liệu Min-Max trên SPSS.
  • Các tổ chức phi chính phủ (NGO) và tổ chức phát triển quốc tế: Cung cấp bộ dữ liệu thực chứng từ 83 hộ dân để thiết kế các dự án tài trợ sinh kế thích ứng biến đổi khí hậu, an sinh xã hội và quản lý rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng tại dải ven biển miền Trung.
  • Chính quyền cơ sở và người dân địa phương: Cẩm nang hướng dẫn áp dụng các giải pháp phi công trình, kỹ thuật chằng chống bảo vệ tài sản trước bão và phương thức huy động vốn xã hội trong phòng chống thiên tai.

Câu hỏi thường gặp

Luận văn đánh giá năng lực ứng phó BĐKH dựa trên những hợp phần nào? Nghiên cứu xây dựng bộ chỉ số gồm 33 tiêu chí thuộc 5 hợp phần: Vốn con người (8 chỉ số), Kinh tế hộ và sinh kế (5 chỉ số), Vốn xã hội (8 chỉ số), Khả năng tiếp cận dịch vụ hạ tầng (4 chỉ số) và Quản trị địa phương (9 chỉ số), giúp định lượng toàn diện năng lực của 83 hộ gia đình khảo sát.

Những hiểm họa thiên tai nào đe dọa nghiêm trọng nhất đến vùng ven biển Diễn Châu? Hai hiểm họa lớn nhất là bão lũ (chiếm 19% số cơn bão cả nước, bão số 10 năm 2017 giật cấp 15) và xâm nhập mặn kết hợp xói lở bờ biển. Tình trạng này khiến 50% số hộ dân thiếu nước sạch và làm mất 100 ha đất ven bờ mỗi năm với tốc độ sạt lở 42 m/năm.

Phương pháp chọn mẫu trong nghiên cứu có đảm bảo độ tin cậy khoa học không? Nghiên cứu áp dụng phương pháp chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên xã hội học tại 31 xóm thuộc 3 xã đặc trưng (Diễn Bích, Diễn Kim, Diễn Hải). Với 83 phiếu hợp lệ thu về từ 93 phiếu phát ra và thời lượng phỏng vấn sâu 90 phút/hộ, dữ liệu đảm bảo tính đại diện cao cho các vùng sinh kế.

Thực trạng nhận thức của người dân địa phương về BĐKH ra sao? Có tới 94% người dân bày tỏ lo lắng trước thiên tai (60% rất lo lắng, 34% lo lắng). Dù 100% hộ dân tiếp cận truyền hình, sự hiểu biết chủ yếu dựa trên quan sát thời tiết cực đoan bề ngoài mà chưa nắm bắt bản chất khoa học và các kỹ năng ứng phó dài hạn.

Mô hình sinh kế nào mang lại hiệu quả thích ứng cao nhất cho địa phương? Các mô hình mang lại hiệu quả rõ rệt gồm: Canh tác lúa cải tiến SRI, trồng dưa lưới nhà màng tại Diễn Thành và đóng mới tàu vỏ thép công suất 828 CV khai thác xa bờ tại Diễn Ngọc, giúp nâng thu nhập bình quân đầu người đạt 35 triệu đồng/năm.

Kết luận

  • Luận văn hệ thống hóa toàn diện khung lý thuyết IPCC và mô hình thích ứng dựa vào cộng đồng (CBA), thiết lập bộ chỉ số đánh giá 33 tiêu chí phù hợp với đặc thù ven biển.
  • Phân tích thực trạng 25 km bờ biển Diễn Châu chịu tổn thất nặng nề từ bão lũ, hạn hán trên 830 ha đất và xói lở bờ biển với tốc độ 42 m/năm.
  • Lượng hóa chính xác năng lực ứng phó của 83 hộ dân tại 3 xã trọng điểm, chỉ rõ sự phân hóa giữa các hợp phần kinh tế, xã hội và hạ tầng.
  • Nhận diện lỗ hổng kiến thức khi 94% người dân lo lắng về thiên tai nhưng còn thiếu giải pháp hành động và kỹ năng thích ứng chủ động.
  • Đề xuất 4 nhóm giải pháp công trình, sinh kế và chính sách với lộ trình hoàn thiện hệ thống đê kè và giảm nghèo bền vững đến năm 2025.

Luận văn của tác giả Thái Thị Hoàng Giang là công trình nghiên cứu công phu, cung cấp cơ sở dữ liệu thực chứng và phương pháp luận sắc bén cho công tác quản trị môi trường vùng duyên hải. Các nhà quản lý và nhà nghiên cứu quan tâm có thể khai thác tài liệu này để triển khai những mô hình thích ứng khí hậu hiệu quả trong thực tiễn.