Tổng quan luận án
Đề tài luận án tiến sĩ tập trung nghiên cứu: "Đánh giá năng lực sáng tạo trong tạo lập văn bản nghị luận của học sinh trung học phổ thông". Luận án thuộc chuyên ngành Khoa học giáo dục / Lý luận và Phương pháp dạy học bộ môn Ngữ văn.
Về tính cấp thiết, tác giả phân tích sự chuyển dịch toàn cầu dưới tác động của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Trong bối cảnh công nghệ thay đổi nhanh chóng, năng lực sáng tạo trở thành mục tiêu giáo dục quan trọng hàng đầu của nhiều quốc gia (như chính sách giảm 30% tải chương trình tiểu học của Singapore để tập trung sáng tạo, cải cách chương trình của Nga, Luật Giáo dục Quốc gia năm 1999 của Thái Lan, cũng như các chiến lược giáo dục tại Mỹ, Nhật Bản, Đức). Tại Việt Nam, yêu cầu đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục đào tạo được khẳng định trong Nghị quyết số 29/NQ-TW ngày 04/11/2013, Chiến lược phát triển giáo dục Việt Nam 2011-2020 và Điều 29 Luật Giáo dục 2019. Chương trình giáo dục phổ thông 2018 chuyển nền tảng dạy học từ tiếp cận nội dung (trang bị kiến thức ở Chương trình 2006) sang phát triển phẩm chất và năng lực người học, trong đó năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo là một trong các năng lực chung cốt lõi. Trong môn Ngữ văn, việc dạy học tạo lập văn bản nghị luận theo chương trình cũ chủ yếu dừng lại ở mức độ ghi nhớ, tái hiện kiến thức qua các tác phẩm và nhân vật quen thuộc, dẫn đến tình trạng học sinh học tủ, phụ thuộc vào văn mẫu và làm suy giảm khả năng tư duy độc lập. Do đó, yêu cầu đánh giá năng lực sáng tạo bằng các công cụ đo lường phù hợp là đòi hỏi cấp bách của thực tiễn đổi mới giáo dục.
Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định: Việc đánh giá năng lực sáng tạo trong hoạt động tiếp nhận và tạo lập văn bản vẫn đang là một bài toán chưa có lời giải đáp đầy đủ. Các nghiên cứu về năng lực sáng tạo trong tạo lập văn bản đến thời điểm tác giả triển khai luận án còn rất thưa thớt, chủ yếu là các bài viết nhỏ lẻ ở cấp tiểu học hoặc trung học cơ sở; chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu chuyên sâu, có hệ thống về đánh giá năng lực sáng tạo trong môn Ngữ văn nói chung và trong kĩ năng tạo lập văn bản nghị luận của học sinh trung học phổ thông nói riêng.
Mục đích nghiên cứu: Dựa trên nghiên cứu lý luận và thực tiễn về năng lực sáng tạo trong tạo lập văn bản nghị luận, luận án tiến hành xây dựng chuẩn đánh giá và thiết kế công cụ đánh giá là hệ thống câu hỏi mở, nhằm đánh giá năng lực sáng tạo trong tạo lập văn bản nghị luận của học sinh trung học phổ thông, góp phần thực hiện mục tiêu đổi mới kiểm tra đánh giá theo định hướng phát triển năng lực của Chương trình giáo dục phổ thông môn Ngữ văn 2018.
Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Xác định cơ sở lí luận và thực tiễn của việc đánh giá năng lực sáng tạo trong tạo lập văn bản nghị luận của học sinh trung học phổ thông.
- Xác định các định hướng và căn cứ để xây dựng chuẩn đánh giá và công cụ đánh giá năng lực sáng tạo trong tạo lập văn bản nghị luận của học sinh trung học phổ thông.
- Xây dựng chuẩn đánh giá và công cụ đánh giá năng lực sáng tạo trong tạo lập văn bản nghị luận của học sinh trung học phổ thông.
- Triển khai thực nghiệm sư phạm nhằm bước đầu khẳng định tính khả thi, độ tin cậy của chuẩn đánh giá và công cụ đánh giá năng lực sáng tạo trong tạo lập văn bản nghị luận của học sinh trung học phổ thông mà luận án đề xuất.
Giả thuyết khoa học: Tạo lập văn bản nghị luận trong nhà trường phổ thông là quá trình người học thể hiện ý kiến, quan điểm cá nhân về một vấn đề trong đời sống hoặc trong tác phẩm văn học; quá trình này thể hiện dấu ấn sáng tạo của mỗi cá nhân. Do vậy, nếu xây dựng được chuẩn đánh giá và sử dụng tốt công cụ đánh giá là hệ thống câu hỏi mở thì sẽ khuyến khích và tạo cơ hội giúp học sinh thể hiện được năng lực sáng tạo trong quá trình tạo lập văn bản nghị luận, đồng thời thực hiện được vai trò và chức năng của hoạt động đánh giá năng lực người học.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Việc đánh giá năng lực sáng tạo trong tạo lập văn bản nghị luận của học sinh trung học phổ thông.
- Phạm vi nội dung: Giới hạn ở việc xây dựng công cụ đánh giá năng lực sáng tạo trong viết bài văn nghị luận theo mục tiêu của Chương trình Ngữ văn 2018. Công cụ đánh giá trọng tâm được lựa chọn nghiên cứu là câu hỏi mở (đề mở).
- Phạm vi khách thể thực nghiệm: Hoạt động tạo lập văn bản nghị luận được phân phối ở cả ba khối lớp 10, 11 và 12. Tuy nhiên, do học sinh lớp 12 ngay từ đầu năm học phải tập trung chuẩn bị cho kì thi tốt nghiệp trung học phổ thông quốc gia, tác giả giới hạn địa bàn và đối tượng thực nghiệm sư phạm ở khối lớp 10 và khối lớp 11.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tác giả đã tổng hợp tài liệu nghiên cứu theo các hướng tiếp cận sau:
1. Nghiên cứu về sáng tạo và tư duy sáng tạo
- Trên thế giới: E. Paul Torrance xác định sáng tạo là một quá trình nhận biết vấn đề, thiết lập giả thuyết, kiểm nghiệm và tìm ra kết quả; ông đề xuất 4 chỉ số đo lường tính sáng tạo gồm: nhanh nhạy (fluency), linh hoạt (flexibility), tỉ mỉ (elaboration) và độc đáo (originality). L. S. Vygotsky trong chuyên khảo "Trí tưởng tượng sáng tạo ở lứa tuổi thiếu nhi" phân biệt hoạt động tái hiện và hoạt động sáng tạo, khẳng định sáng tạo văn học bằng ngôn từ là hình thức tiêu biểu của lứa tuổi học sinh, đồng thời đề xuất cách ra đề cho phép học sinh được chọn lựa. Các nhà tâm lý học Liên Xô như A. N. Luck (hoạt động sáng tạo), V. Puskin (tư duy sáng tạo và vô thức), B. Larôsepxki (tâm lý học hoạt động phát minh), G. S. Kostiuk và N. A. Mensinxkaia (quan hệ sáng tạo và tiếp thu tri thức) đã đặt nền móng lý luận vững chắc. J. P. Guilford (1950) phân định cấu trúc trí tuệ gồm tư duy hội tụ (convergent thinking - tư duy theo hướng quen thuộc, rập khuôn) và tư duy phân kì (divergent thinking - tìm kiếm nhiều giải pháp mới vượt khỏi khuôn khổ, đặc trưng của sáng tạo), đồng thời chỉ ra các thuộc tính nhân cách sáng tạo: lưu loát, mềm dẻo, chi tiết, độc đáo, nhạy cảm vấn đề và định nghĩa lại. Các tác giả khác được điểm lại gồm: Holland (1959), May (1961), D. W. MacKinnon (1962), Penick J. E. ("Phát triển khả năng sáng tạo trong lớp học"), Reid J. ("Nghiên cứu về khả năng sáng tạo của học sinh"), William Benn, Gorny E. (Từ điển về sáng tạo, 2007).
- Tại Việt Nam: Nghiên cứu sáng tạo bắt đầu phát triển từ thập niên 1970 với các công trình của Trần Kiều (tư duy sáng tạo là đỉnh cao hoạt động trí tuệ), Hoàng Chúng, Lê Hải Yến ("Dạy và học cách tư duy"), Nguyễn Huy Tú, Đức Uy, Trần Tuấn Lộ, Nguyễn Bá Kim, Vũ Dương Thụy, Nguyễn Kế Hào, Vũ Quốc Chung, Trần Hiệp, Đỗ Long, Tôn Thân, Trần Luận. Về khung năng lực học sinh, Nguyễn Công Khanh xác định năng lực sáng tạo gồm: tư duy phân kì, tưởng tượng, liên tưởng tự do, cấu trúc/định nghĩa lại khái niệm. Các định nghĩa về năng lực sáng tạo gắn với giải quyết vấn đề và tạo ra sản phẩm mới được Huỳnh Văn Sơn (2009), Trần Việt Dũng, Trần Thị Bích Liễu, Phạm Thị Bích Đào phân tích. Trong môn Ngữ văn, Bùi Thị Kim Trúc khảo sát tư duy sáng tạo của học sinh tiểu học qua giản đồ tư duy; Hoàng Hòa Bình phân tích tính đặc thù của sáng tạo trong cảm thụ văn chương; Nguyễn Thị Hồng Vân nghiên cứu cấu trúc và đường phát triển năng lực sáng tạo môn Ngữ văn; Dương Thị Mai Hương khảo sát rèn luyện tư duy sáng tạo qua giờ làm văn.
2. Nghiên cứu về đánh giá năng lực và đánh giá năng lực sáng tạo trong tạo lập văn bản
- Về lý luận đánh giá năng lực: Luận án tham khảo các công trình của Leen Pil (2011), Katie Larsen McClarty và Matthew N. Gaertner, tài liệu của Đại học Queen Mary, B. E. Walvoord, Anthony J. Nitko, cùng các nhà nghiên cứu trong nước: Nguyễn Thị Lan Phương (đưa ra 3 đặc điểm của đánh giá năng lực và các khung tham chiếu), Đỗ Ngọc Thống, Phạm Thị Thu Hương, Nguyễn Thị Hạnh, Trần Thị Hiền Lương. Điểm thống nhất là đánh giá năng lực tập trung đo lường khả năng thực hiện, vận dụng kiến thức, kĩ năng vào giải quyết tình huống thực tiễn dựa trên chuẩn thực hiện (performance standard).
- Về mô hình đánh giá tư duy sáng tạo: Luận án dẫn xuất mô hình đánh giá tư duy sáng tạo trong chương trình PISA 2021 của OECD, giải mã tư duy sáng tạo thành 3 khía cạnh: (1) tạo ra nhiều ý tưởng khác nhau, (2) tạo ra ý tưởng sáng tạo, (3) đánh giá và cải tiến ý tưởng, thông qua 4 lĩnh vực: viết, trực quan, xã hội và khoa học. Melanie Williams xây dựng rubric đánh giá năng lực sáng tạo trong viết văn của học sinh tại Anh qua 6 tiêu chí: kết nối chủ đề văn bản gốc, cấu trúc câu chuyện, đoạn văn, kế hoạch/dự thảo/chỉnh sửa, từ vựng, chính tả/dấu câu/ngữ pháp. Susan Wright đề xuất rubric theo tiến trình sáng tạo (tìm kiếm và giải quyết vấn đề, linh hoạt, thuần thục, tạo ra sản phẩm, sự thay đổi). Thang rubric của Úc chia thành 3 mức: chưa thành thạo, đang phát triển, thành thạo.
- Về công cụ câu hỏi mở và đề mở: Janets E. Sansoni (2011), Jon A. Krosnick và Stanley Presser, Toyin Tofade, Ursa Reja (2013), Badger, Cooney, Hafizah phân tích tính ưu việt của câu hỏi mở trong việc phát triển tư duy bậc cao so với câu hỏi đóng. Tại Việt Nam, Đỗ Ngọc Thống, Trần Đình Sử, Nguyễn Thị Hồng Vân, Nguyễn Thu Hạnh và Nguyễn Thị Châm, Nguyễn Thị Minh Duyên nghiên cứu nguyên tắc và các dạng đề mở môn Ngữ văn nhằm triệt tiêu lối học thuộc lòng và kích hoạt tư duy độc lập.
Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết: Phần lớn các công trình trước đây tập trung vào lý thuyết tâm lý học đại cương, hoặc nghiên cứu phương pháp dạy học, hoặc dừng lại ở các bài tập thực hành nhỏ lẻ. Chưa có nghiên cứu nào xây dựng một hệ thống chuẩn đánh giá hoàn chỉnh kết hợp với bộ công cụ câu hỏi mở/đề mở và các rubric chuyên biệt để đánh giá năng lực sáng tạo trong tạo lập văn bản nghị luận của học sinh trung học phổ thông theo định hướng Chương trình 2018.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
1. Cơ sở lý thuyết và khung phân tích
- Khái niệm công cụ:
- Năng lực sáng tạo trong tạo lập văn bản nghị luận: Là khả năng người học độc lập huy động kiến thức, trải nghiệm cá nhân, sử dụng tư duy phản biện và ngôn ngữ để phát hiện vấn đề mới, đề xuất luận điểm, tổ chức lập luận và trình bày bài văn nghị luận một cách linh hoạt, thuyết phục.
- Đánh giá năng lực: Đánh giá quá trình người học thực hiện nhiệm vụ trong bối cảnh thực tiễn dựa trên chuẩn thực hiện; kết hợp đánh giá kết quả (assessment of learning), đánh giá vì hoạt động học tập (assessment for learning) và đánh giá như một hoạt động học tập (assessment as learning).
- Quy trình đánh giá: Gồm 4 công đoạn: (1) Thu thập thông tin; (2) Xử lý và phân tích thông tin; (3) Giải thích hiện trạng, nguyên nhân chất lượng giáo dục; (4) Đưa ra hoạt động cải thiện thực trạng.
- Công cụ câu hỏi mở / đề mở: Là loại đề chỉ nêu vấn đề/chủ đề hoặc ngữ liệu mà không áp đặt mệnh lệnh thao tác lập luận cụ thể, chấp nhận nhiều phương án trả lời khác nhau, đòi hỏi học sinh tự xây dựng nội dung, lập luận và thể hiện quan điểm cá nhân.
- Khung cấu trúc năng lực sáng tạo trong tạo lập văn bản nghị luận: Tác giả xác lập cấu trúc gồm 3 thành tố chính (tổng hợp từ 5 tiêu chí và 12 chỉ số biểu hiện):
- Đề xuất ý tưởng (gồm: Đề xuất ý tưởng mới; Phát triển ý tưởng; Bổ sung, hoàn thiện ý tưởng).
- Thực hiện giải pháp (gồm: Đề xuất hệ thống lý lẽ; Tìm kiếm dẫn chứng; Tổ chức mạch ý; Tiếp cận vấn đề đa chiều; Tư duy phê phán, phản biện).
- Trình bày sản phẩm (gồm: Sử dụng từ, câu, đoạn linh hoạt; Có giọng điệu riêng; Sử dụng hình thức biểu đạt độc đáo nhuần nhuyễn; Trình bày đa phương thức).
2. Phương pháp nghiên cứu
Luận án kết hợp các nhóm phương pháp định tính và định lượng:
- Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết: Phân tích, tổng hợp, so sánh và hệ thống hóa các tài liệu khoa học trong và ngoài nước về năng lực sáng tạo, đánh giá năng lực, kỹ thuật biên soạn câu hỏi mở và xây dựng rubric đánh giá văn bản.
- Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
- Phương pháp điều tra, khảo sát: Sử dụng bảng hỏi, phiếu điều tra và phỏng vấn sâu trên đối tượng giáo viên Ngữ văn và học sinh trung học phổ thông nhằm thu thập dữ liệu về thực trạng sử dụng công cụ kiểm tra đánh giá năng lực sáng tạo và thực trạng ra đề mở hiện nay.
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Triển khai kiểm chứng các biện pháp và công cụ đề xuất tại các trường trung học phổ thông được chọn làm đại diện, tiến hành qua 3 giai đoạn: đánh giá đầu vào, đánh giá trong quá trình (đánh giá thường xuyên) và đánh giá định kì (đánh giá tổng kết).
- Phương pháp xử lý dữ liệu:
- Dữ liệu định lượng: Thu thập từ kết quả khảo sát thực trạng và điểm số thực nghiệm, được xử lý và phân tích thống kê toán học bằng phần mềm SPSS.
- Dữ liệu định tính: Phân tích các sản phẩm bài kiểm tra đầu vào và đầu ra của học sinh, đối chiếu các minh chứng chữ viết, cách lập luận và cách diễn đạt dựa trên hệ thống tiêu chí rubric đã đề xuất.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Cơ sở khoa học của việc đánh giá năng lực sáng tạo trong tạo lập văn bản nghị luận của học sinh trung học phổ thông
Chương 1 hệ thống hóa toàn bộ nền tảng lý luận về sáng tạo, tư duy sáng tạo, năng lực sáng tạo và cơ chế đánh giá năng lực trong giáo dục. Tác giả phân tích các mô hình lý thuyết quốc tế, đối chiếu với yêu cầu của Chương trình giáo dục phổ thông 2018 tại Việt Nam.
Từ việc phân tích 5 tiêu chí và 12 chỉ số, tác giả xây dựng bảng mô tả 5 mức độ biểu hiện năng lực sáng tạo của học sinh trong tạo lập văn bản nghị luận:
| Mức độ |
Tên mức độ |
Biểu hiện cụ thể của học sinh |
| Mức 5 |
Lan toả và truyền cảm hứng sáng tạo |
Theo đuổi nhiều ý tưởng mới trong việc cảm nhận vấn đề xã hội và văn học; có khám phá riêng, hấp dẫn trong cách thức trình bày; có khả năng thuyết phục người khác cùng đồng điệu; có cách thức riêng vận dụng hiểu biết vào cuộc sống. |
| Mức 4 |
Đánh giá ý tưởng, giải pháp |
Phát hiện nhiều khía cạnh có giá trị khi tiếp cận vấn đề; xem xét vấn đề từ nhiều góc nhìn, không chấp nhận thông tin một chiều, không thành kiến; có khả năng suy nghĩ độc lập để điều chỉnh phương án; sẵn sàng đánh giá lại vấn đề. |
| Mức 3 |
Chia sẻ và thực hiện giải pháp |
Phát hiện yếu tố mới, tích cực trong ý kiến của người khác và vận dụng hiệu quả; phân tích, tổng hợp các ý kiến để lựa chọn cách thức triển khai; xác định các lập luận và minh chứng đáng tin cậy. |
| Mức 2 |
Kết nối thông tin và xác định giải pháp |
Phát triển ý tưởng khi tiếp nhận vấn đề xã hội và văn học; suy nghĩ và kết nối thông tin liên quan; biết đặt câu hỏi theo nhu cầu cá nhân để tìm hiểu thông tin từ nhiều nguồn tư liệu nhằm cung cấp cho người đọc. |
| Mức 1 |
Nhận diện thông tin và bước đầu đề xuất ý tưởng |
Xác định một số thông tin ban đầu và nhận diện vấn đề từ nguồn tài liệu cho sẵn theo hướng dẫn; nêu được bước đầu ý kiến cá nhân; tập hợp được thông tin thể hiện trong tài liệu tiếp nhận. |
Về công cụ đánh giá, tác giả thiết lập bảng so sánh chi tiết giữa câu hỏi đóng và câu hỏi mở:
| Tiêu chí phân biệt |
Câu hỏi đóng |
Câu hỏi mở |
| Đối với giáo viên |
|
|
| - Mức độ đánh giá |
Nhận biết, thông hiểu |
Thông hiểu, vận dụng |
| - Phạm vi đánh giá |
Kiến thức |
Kiến thức và kĩ năng |
| - Hình thức đánh giá |
Tiếp cận nội dung |
Tiếp cận theo năng lực |
| - Hướng dẫn chấm |
Giới hạn trong nội dung định trước với các ý lớn, ý nhỏ |
Chấp nhận nhiều phương án trả lời khác nhau, thậm chí đối lập, miễn là học sinh lập luận hợp lý |
| Đối với học sinh |
|
|
| - Mức độ sáng tạo |
Thấp |
Cao |
| - Phương pháp trình bày |
Phụ thuộc vào khuôn mẫu có sẵn |
Diễn đạt tự do theo suy nghĩ của bản thân |
| - Nguồn tư liệu |
Sách giáo khoa, tài liệu do giáo viên cung cấp |
Sách giáo khoa, tài liệu giáo viên cung cấp, tài liệu tự tìm kiếm, trải nghiệm cá nhân |
Tác giả phân loại đề mở trong văn nghị luận thành 3 dạng chính:
- Đề bài chỉ cho chủ đề: Học sinh tự chọn nhan đề, thao tác nghị luận và trật tự triển khai (ví dụ: viết bài văn về một nhân vật văn học tự chọn, hoặc đề tài môi trường và cuộc sống).
- Đề bài chỉ cung cấp thông tin/ngữ liệu: Dùng văn bản, thơ, mẩu tin tức, tình huống đời sống hoặc hình ảnh/tranh vẽ; học sinh tự xác định vấn đề nghị luận (ví dụ: suy nghĩ từ bức ảnh, hoặc lựa chọn biển treo cửa phòng: "Cửa phòng con luôn mở. Xin mời bố mẹ vào!" đối lập với "Vùng lãnh thổ của con!").
- Đề bài cho học sinh điền vào chỗ trống: Đưa ra mệnh đề bỏ lửng hoặc câu chuyện dở dang để học sinh viết tiếp (ví dụ: "Em muốn trở thành...").
Tiêu chí của một câu hỏi mở tốt được xác định gồm 4 yếu tố: Ngắn gọn, Trung tính (không áp đặt định hướng trả lời duy nhất), Rõ ràng (minh bạch về lệnh hỏi) và Phù hợp (với lứa tuổi, tâm lý, năng lực nhận thức của học sinh). Chương 1 cũng phân tích cấu trúc của hai loại thang đo: Rubric định tính/tổng hợp (Holistic rubric) và Rubric định lượng/phân tích (Analytic rubric).
Chương 2: Xây dựng chuẩn đánh giá và công cụ đánh giá năng lực sáng tạo trong tạo lập văn bản nghị luận của học sinh trung học phổ thông
Trên cơ sở lý luận của Chương 1, Chương 2 triển khai:
- Xây dựng hệ thống chuẩn đánh giá năng lực sáng tạo trong tạo lập văn bản nghị luận: Thiết lập chuẩn chung và các chuẩn đặc thù cho hai kiểu bài: nghị luận xã hội và nghị luận văn học.
- Thiết kế hệ thống câu hỏi mở phục vụ đánh giá thường xuyên: Định hướng giáo viên cách thức tích hợp câu hỏi mở vào các hoạt động học tập trên lớp nhằm kích hoạt từng chỉ số thành phần (như tìm kiếm ý tưởng mới, phản biện thông tin, xây dựng lập luận đa chiều).
- Thiết kế quy trình biên soạn đề mở phục vụ đánh giá định kì: Xác định các bước từ xác định mục tiêu đánh giá, thiết lập ma trận đề, lựa chọn ngữ liệu tình huống, viết lệnh hỏi mở, đến việc xây dựng hướng dẫn chấm mở.
- Thiết kế các thang đánh giá Rubric: Xây dựng mẫu Rubric tổng hợp và Rubric phân tích chi tiết hóa các mức điểm tương ứng với 3 thành tố năng lực sáng tạo, giúp giáo viên khắc phục tính chủ quan, cảm tính trong chấm bài văn nghị luận.
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Nội dung Chương 3 ghi nhận tiến trình kiểm chứng thực tế tại trường trung học phổ thông:
- Quy trình thực nghiệm: Tiến hành qua 3 giai đoạn khảo sát chặt chẽ: (1) Đánh giá đầu vào; (2) Đánh giá trong quá trình (qua hệ thống câu hỏi mở); (3) Đánh giá định kì (qua đề mở và rubric).
- Đối tượng thử nghiệm: Triển khai trên các lớp thuộc khối 10 và khối 11 tại các trường trung học phổ thông đại diện.
- Đánh giá kết quả: Phân tích định lượng dữ liệu điểm số bằng phần mềm SPSS và đánh giá định tính chất lượng bài làm của học sinh. Kết quả cho thấy học sinh ở các lớp thực nghiệm có sự cải thiện rõ rệt về khả năng tư duy độc lập, biết tiếp cận vấn đề đa chiều, dẫn chứng phong phú và văn phong linh hoạt hơn so với trước thực nghiệm. Từ đó, tác giả đưa ra kết luận khẳng định tính khả thi, độ tin cậy của bộ chuẩn và hệ thống câu hỏi mở đã đề xuất, đồng thời tiến hành hoàn thiện công cụ.
Kết quả và những đóng góp mới
1. Đóng góp về mặt lý luận
- Hệ thống hóa các thành tựu nghiên cứu lý luận trong nước và quốc tế về năng lực sáng tạo, đánh giá năng lực sáng tạo trong tạo lập văn bản nghị luận theo định hướng tiếp cận năng lực.
- Trình bày quan niệm khoa học, xác định mô hình cấu trúc năng lực sáng tạo trong tạo lập văn bản nghị luận gồm 3 thành tố cốt lõi (Đề xuất ý tưởng, Thực hiện giải pháp, Trình bày sản phẩm) cùng 12 chỉ số hành vi cụ thể.
- Xây dựng bản mô tả chi tiết 5 mức độ biểu hiện của năng lực sáng tạo trong tạo lập văn bản nghị luận của học sinh, bổ sung cơ sở lý luận cho chuyên ngành Lý luận và Phương pháp dạy học bộ môn Ngữ văn.
2. Đóng góp về mặt thực tiễn
- Đề xuất bộ chuẩn đánh giá năng lực sáng tạo trong tạo lập văn bản nghị luận của học sinh trung học phổ thông (chuẩn chung và chuẩn cho hai dạng bài nghị luận xã hội và nghị luận văn học).
- Thiết kế hệ thống câu hỏi mở và xây dựng quy trình biên soạn đề mở dùng cho cả hai hình thức: đánh giá thường xuyên và đánh giá định kì.
- Xây dựng hệ thống công cụ đo lường gồm các thang rubric (định tính và định lượng), cung cấp công cụ kiểm tra đánh giá khách quan, khả thi cho giáo viên phổ thông, góp phần hiện thực hóa mục tiêu phát triển phẩm chất, năng lực của Chương trình giáo dục phổ thông môn Ngữ văn 2018.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế:
- Phạm vi nghiên cứu nội dung chỉ tập trung vào thể loại văn bản nghị luận (nghị luận xã hội và nghị luận văn học), chưa bao quát các thể loại tạo lập văn bản khác trong chương trình như văn bản thuyết minh, tự sự hay văn bản thông tin.
- Về mặt công cụ, luận án đi sâu vào câu hỏi mở và đề mở kèm rubric, chưa thể triển khai thực nghiệm sâu các công cụ đánh giá năng lực khác (như hồ sơ học tập, bảng kiểm quan sát, phỏng vấn đánh giá quá trình).
- Về phạm vi khách thể thực nghiệm, nghiên cứu mới chỉ tiến hành trên học sinh khối 10 và khối 11; khối 12 chưa được đưa vào diện thực nghiệm do yếu tố tâm lý và thời gian tập trung ôn thi tốt nghiệp trung học phổ thông quốc gia.
- Hướng nghiên cứu tiếp:
- Mở rộng việc xây dựng chuẩn và công cụ đánh giá năng lực sáng tạo cho các thể loại văn bản khác trong môn Ngữ văn.
- Nghiên cứu ứng dụng đa dạng hóa các công cụ kiểm tra đánh giá quá trình (hồ sơ học tập, sản phẩm dự án).
- Mở rộng phạm vi khảo sát và thực nghiệm đồng bộ trên học sinh lớp 12 khi các kì thi quốc gia chuyển đổi hoàn toàn theo định hướng Chương trình 2018.
Giá trị tham khảo
- Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học, giảng viên chuyên ngành Lý luận và Phương pháp dạy học môn Ngữ văn, Đo lường và Đánh giá giáo dục: Luận án cung cấp khung lý thuyết hệ thống về cấu trúc năng lực sáng tạo, các tiêu chí và mô hình phân cấp mức độ phát triển năng lực; là tài liệu tham khảo có giá trị học thuật cao về phương pháp luận thiết kế công cụ đo lường năng lực học sinh.
- Đối với giáo viên Ngữ văn tại các trường trung học phổ thông: Cung cấp tài liệu chỉ dẫn thực hành trực tiếp về kỹ thuật đặt câu hỏi mở trên lớp, cách thức ra đề kiểm tra mở định kì (dạng đề cho chủ đề, ngữ liệu tình huống, điền chỗ trống) và khung rubric mẫu để chấm bài văn nghị luận một cách minh bạch, giảm thiểu tính chủ quan.
- Đối với cán bộ quản lý giáo dục, chuyên viên chỉ đạo chuyên môn môn Ngữ văn: Cung cấp cơ sở khoa học để xây dựng ngân hàng đề thi mở, tổ chức tập huấn chuyên môn về đổi mới phương pháp kiểm tra đánh giá định hướng năng lực theo Chương trình 2018.
Câu hỏi thường gặp
1. Năng lực sáng tạo trong tạo lập văn bản nghị luận của học sinh trung học phổ thông gồm những thành tố nào?
Theo cấu trúc do luận án xác lập, năng lực này gồm 3 thành tố: (1) Đề xuất ý tưởng (với các chỉ số: đề xuất ý tưởng mới; phát triển ý tưởng; bổ sung, hoàn thiện ý tưởng); (2) Thực hiện giải pháp (đề xuất hệ thống lý lẽ; tìm kiếm dẫn chứng; tổ chức mạch ý; tiếp cận vấn đề đa chiều; tư duy phê phán, phản biện); (3) Trình bày sản phẩm (sử dụng từ, câu, đoạn linh hoạt; có giọng điệu riêng; sử dụng hình thức biểu đạt độc đáo nhuần nhuyễn; trình bày đa phương thức).
2. Đường phát triển năng lực sáng tạo của học sinh trong tạo lập văn bản nghị luận được phân chia như thế nào?
Đường phát triển được phân chia thành 5 mức độ: Mức 1 (Nhận diện thông tin và bước đầu đề xuất ý tưởng), Mức 2 (Kết nối thông tin và xác định giải pháp), Mức 3 (Chia sẻ và thực hiện giải pháp), Mức 4 (Đánh giá ý tưởng, giải pháp), Mức 5 (Lan toả và truyền cảm hứng sáng tạo). Đối với học sinh trung học phổ thông, đường phát triển tập trung chủ yếu từ mức 3 đến mức 5.
3. Vì sao luận án không triển khai thực nghiệm sư phạm ở khối lớp 12?
Mặc dù chương trình dạy tạo lập văn bản nghị luận phân bố ở cả ba khối 10, 11 và 12, nhưng học sinh lớp 12 ngay từ đầu năm học đã chịu áp lực tâm lý và tập trung cao độ vào việc ôn luyện cho kì thi tốt nghiệp trung học phổ thông quốc gia. Để đảm bảo tính ổn định và khách quan trong nghiên cứu sư phạm, tác giả chỉ tiến hành thực nghiệm ở khối 10 và khối 11.
4. Đề mở trong tạo lập văn bản nghị luận được luận án phân thành những dạng nào?
Luận án phân loại thành 3 dạng đề mở cơ bản: (1) Đề bài chỉ cho chủ đề, học sinh tự đặt nhan đề, tự chọn kiểu bài và thao tác lập luận; (2) Đề bài chỉ cung cấp thông tin/ngữ liệu (như một bức ảnh, câu chuyện, bài thơ, mẩu tin báo chí, tình huống thực tiễn), học sinh tự xác định vấn đề nghị luận; (3) Đề bài cho học sinh điền vào chỗ trống từ một câu chuyện dở dang hoặc một mệnh đề mở.
5. Luận án đề xuất những loại thang đo Rubric nào để đánh giá bài văn nghị luận của học sinh?
Tác giả đề xuất hai dạng rubric: (1) Rubric định tính/tổng hợp (Holistic rubric), mô tả các mức điểm tổng quát để đánh giá toàn diện tiến trình thực hiện bài viết; (2) Rubric định lượng/phân tích (Analytic rubric), mô tả chi tiết các tiêu chí, chỉ số và mức điểm thành phần theo từng công đoạn, làm căn cứ tổng hợp điểm đánh giá cuối cùng.
Kết luận
Luận án tiến sĩ "Đánh giá năng lực sáng tạo trong tạo lập văn bản nghị luận của học sinh trung học phổ thông" đã giải quyết một vấn đề cấp thiết cả về mặt lý luận và thực tiễn trong bối cảnh thực hiện Chương trình giáo dục phổ thông 2018. Bằng việc kết hợp các phương pháp nghiên cứu lý thuyết, điều tra thực trạng và thực nghiệm sư phạm, công trình đã xây dựng thành công mô hình cấu trúc năng lực sáng tạo gồm 3 thành tố, 12 chỉ số biểu hiện cùng hệ thống 5 mức độ phát triển. Luận án đã đề xuất giải pháp kỹ thuật hoàn chỉnh thông qua việc chuẩn hóa công cụ câu hỏi mở, quy trình biên soạn đề mở và hệ thống thang đo rubric (định tính và định lượng) phục vụ cho đánh giá thường xuyên và định kì. Kết quả nghiên cứu là tài liệu tham khảo có giá trị khoa học và giá trị ứng dụng rõ rệt cho công tác giảng dạy, kiểm tra đánh giá môn Ngữ văn cấp trung học phổ thông.