Mở đầu: giới thiệu, trình bày ly do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu và trình bày tóm tắt cấu trúc của luận văn. Chương 2 — Tổng quan, mô tả tổng quan về tài liệu nghiên cứu, về điều kiện tự nhiên, vị trí địa lý, khí hậu, địa hình, dân số và các vấn đề nghiên cứu có liên quan của địa ban nghiên cứu đồng thời trình bày một số nghiên cứu có liên quan đến ứng dụng phương pháp CVM và CM trong tính toán mức sẵn lòng trả của người tiêu dùng. Chương 3 — Nội dung và phương pháp nghiên cứu, trình bày các khái niệm, lí thuyết và phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong đề tài. Chương 4 — Kết quả nghiên cứu và thảo luận, Chương này là nội dung chính của đề tài, phân tích đữ liệu và trình bày kết quả nghiên cứu.
Đánh giá mức sẵn lòng trả của người tiêu dùng cho thuộc tinh an toàn của thịt gà công nghiệp tại TP Thủ Đức. Chương 5 — Dựa vào kết quả ở chương 4, đưa ra kết luận và một số kiến nghị, giải pháp nhằm dam bảo an toàn thực phẩm cho người tiêu dùng thịt gà công nghiệp cũng như nêu lên những mặt hạn chê của khoá luận. CHƯƠNG 2 TONG QUAN 2. Tông quan tài liệu nghiên cứu Dé giải quyết các van đề đã đặt ra việc tìm kiếm, thu thập, chọn lọc các bài nghiên cứu từ trước là việc hết sức cần thiết cho quá trình thực hiện nghiên cứu.
Đây chính là nên tảng lý thuyết cho việc nghiên cứu, mở rộng tầm hiểu biết của ta trong lĩnh vực nghiên cứu, giúp ta có được kinh nghiệm từ các nghiên cứu trước, xác lập được định hướng nghiên cứu, chọn lọc các thông tin, dữ liệu và biến số liên quan, từ đó giảm thiểu sai lam. Nam rõ được tầm quan trọng của việc tổng quan tài liệu nghiên cứu, bài luận án của tôi đã tham khảo các tài liệu sau đây nhằm giải quyết các mục tiêu hướng tới của chủ đề “Đánh giá mức sẵn lòng trả của người tiêu dùng đối với thịt gà công nghiệp đảm bảo an toan thực phẩm tại TP Thủ Đức” như sau: 2. Tổng quan tài liệu nghiên cứu trong nước Trịnh Thị Ngọc Ánh (2016) điều tra khảo sát trực tiếp 120 người tiêu dùng trong khu vực tỉnh Đồng Tháp, cụ thể là TP. Sử dụng phương pháp CVM với phương pháp hỏi là single-bounded nhằm tìm hiểu về các yêu tố ảnh hưởng đến xác suất lựa chọn và mức sẵn lòng trả của người tiêu dùng tại TP.
Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp về nem Lai Vung an toàn có cơ quan kiểm định về chất lượng vệ sinh an toan thực phẩm, từ đó đưa ra kết luận và đưa ra giải pháp phát triển làng nem Lai Vung ở tỉnh Đồng Tháp. Kết quả hồi quy cho thấy, trong phương pháp single-bounded CVM, người tiêu dùng san lòng trả thêm 3.858 VND/kg cho nem an toàn. Có thé thấy mức san lòng trả thêm của người tiêu dùng 3.858 VNĐ/kg là khá thấp cho sản phẩm nem Lai Vung an toàn, cần đánh giá kĩ lợi ích của nem an toàn mang lại trước khi đưa ra thị trường. 6 Đặng Thanh Tùng (2016) đã nghiên cứu sử dụng phương pháp CVM với hai phương pháp hỏi là single-bounded và double-bounded, điều tra 407 người tiêu dùng từ 4 quận thuộc TP.
Hồ Chí Minh bao gồm quận 1, 3, 9 và quận Thủ Đức. Nhằm tìm hiểu về nhận thức và mức sẵn lòng trả của người tiêu dùng tại TP. Hồ Chí Minh đối với trái cây nhập khẩu đảm bảo an toàn về thuốc BVTV va chất bảo quan, từ đó đưa ra kết luận và kiến nghị dé giải quyết thực trạng trái cây nhập khâu không an toàn tại TP. Hồ Chí Minh.
Kết quả hồi quy cho thấy, ở phương pháp single-bounded CVM, người tiêu dung san lòng trả thêm 33,7 nghìn VNĐ/kg và với phương pháp double bounded mức WTP có giá trị từ 25,9 nghìn VNĐ/kg đến 33,6 nghìn VND/kg cho trái cây nhập khâu dam bảo an toàn về dư lượng thuốc BVTV và chất bảo quản. Có thể thấy ở cả hai phương pháp. mức san lòng trả của người tiêu dùng đêu khá cao. Đặng Thanh Tùng và cộng sự (2018) tìm hiểu về nhận thức và mức sẵn lòng trả của người tiêu dùng đối với trái cây nhập khâu đảm bao an toàn thực phẩm về chat bao quản độc hại và dư lượng thuốc BVTV thông qua điều tra khảo sát ngẫu nhiên 407 người tiêu dùng tại TP HCM.
Kết quả khảo sát cho thấy người tiêu dùng hiện rất lo ngại về thực trạng không an toàn của trái cây bán trên thị trường. Họ cũng chưa an tâm đối với các biện pháp tự đảm bảo an toàn khi sử dụng trái cây. Kết quả ước lượng bằng phương pháp đánh giá ngẫu nhiên double-bounded CVM cho thấy người tiêu dùng sẵn lòng trả thêm 28,25 nghìn VND/kg cho trái cây nhập khâu được đảm bảo an toàn thực phẩm. Mức sẵn lòng trả khá cao này cho thấy chính sách dam bao an toan thực phẩm đối với trái cây nhập khẩu có thể được thực thi trong thực tế.
Nguyễn Thùy Trang và cộng sự (2021) sử dụng phương pháp chọn mẫu thuận tiện để phỏng van 116 người tiêu dùng tại thành phó Cần Thơ, sử dụng lý thuyết hành vi hoạch định (TPB) và đánh giá ngẫu nhiên (CVM) dé tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến thị hiếu tiêu dùng cũng như mức sẵn lòng chi trả cho mặt hang rau ban online có nguồn gốc rõ ràng và tiện lợi. Kết quả nghiên cứu cho thấy, các yếu tố như tiết kiệm thời gian, nguồn gốc rõ ràng, thiện chí của người bán, bao bì bảo vệ môi trường, giao đúng sản phẩm có ảnh hưởng đến quyết định mua các mặt hàng rau online. Bên cạnh đó người tiêu dùng sẵn sang chi trả cao hơn 6.173 đồng/kg, khoảng 61% cao hơn so với giá bán các loại sản phẩm rau cùng loại bằng kênh truyền thống. Dựa trên kết quả CVM, 7 nghiên cứu cho thấy có 4 yếu tô ảnh hưởng đến thị hiếu người tiêu dùng là giá, tuổi, tiết kiệm thời gian và nguồn gốc.
Huỳnh Việt Khải và cộng sự (2021) khảo sát tổng số 125 người tiêu dùng ở tỉnh Kiên Giang với 25 bộ lựa chọn được tạo ra bởi thiết kế trực giao (Orthogonal design) trong 05 phiên bản câu hỏi khác nhau, mỗi phiên bản bao gồm 05 bộ lựa chọn được phỏng van. Bài viết nhằm xác định nhu cầu của người tiêu dùng tỉnh Kiên Giang thông qua ước lượng mức sẵn lòng chỉ trả của họ đối với các thuộc tính của cải thảo với thương hiệu sinh thái bằng phương pháp mô hình lựa chọn (CM). Kết quả chỉ ra rằng người tiêu dùng đồng ý trả thêm khoảng 25.000 đồng/kg cải thảo có truy xuất nguồn gốc rõ ràng. Ngoài ra họ cũng đồng ý với mức chi trả khoảng 14.000 đồng/kg cho cải thảo với thương hiệu xanh và khoảng 13.000 đồng/kg đối với thương hiệu hữu cơ.
Người tiêu dùng tỉnh Kiên Giang không thích những sản phẩm được thu hoạch trước đó 01 ngày hoặc trước đó 02 ngày nên mức san lòng chi trả của họ cũng giảm lần lượt là 5.500 đồng/kg và 10. Tông quan tài liệu nghiên cứu nước ngoài J Wang, J Ge và Y Ma (2018) đã nghiên cứu điều tra mức độ sẵn sàng chi trả (WTP) của người tiêu ding Trung Quốc đối với thịt lợn được đặc trưng bởi bốn thuộc tính, đó là nhãn chứng nhận an toàn thực phẩm, địa điểm xuất xứ, nhãn “không có dư lượng thuốc thú y” và giá cả dựa trên thử nghiệm lựa chọn được thực hiện giữa 844 người tiêu dùng từ các tỉnh Giang Tô và An Huy, Trung Quốc. Mô hình Logit Tham số Ngẫu nhiên được ước tính dé gợi ra WTP của người tiêu dùng. Kết quả cho thấy WTP của người tiêu dùng Giang Tô đối với thịt lợn có chứng nhận “Thực phẩm hữu cơ” (26,78 Nhân dan tệ) là cao nhất trong số tất cả các thuộc tính, tiếp theo là chứng nhận “Thực phẩm xanh” (20,22 Nhân dân tệ), nhãn “không có dư lượng thuốc thú y” (23,18 Nhân dân tệ), và vị trí xuất xứ (12,77 Nhân dân tệ).
Tuy nhiên, chỉ có một sự ưa thích vừa phải đối với chứng nhận “Thực phẩm an toàn” (8,10 Nhân dân tệ). Ngoài ra, những người trả lời từ khu vực phát triển hơn (ví dụ: Giang Tô) có WTP cao hơn đáng ké cho tất cả các thuộc tính so với những người trả lời từ An Huy, một khu vực kém phát triển hơn. Mô hình Logit Tham số Ngẫu nhiên cho thấy trình độ học vấn tốt hơn và thu nhập cao hơn là hai yếu tố có liên quan đến WTP cao nhất. Lingling Xu và cộng sự (2019) đã thử nghiệm lựa chọn thực tế (RCE), 316 người tiêu dùng ở Vô Tích, thuộc tinh Giang Tô, Trung Quốc dé xem xét tác động của các yếu tố khác nhau (ví dụ: truy xuất nguồn sốc, kiểm tra tinh chất thịt nạc, phúc lợi động vật, ngoại hình và giá cả) đối với người tiêu dùng ưa thích và sẵn sàng trả tiền (WTP) đối với các sản phẩm thịt lợn.
Kết qua cho thấy rằng có mã truy xuất nguồn gốc là yếu tố quan trọng thứ hai sau giá đối với người tiêu dùng, tương ứng voi WTP là 4,76 nhân dân tệ mỗi catty, tiếp theo là màu đỏ tươi tương ứng với WTP hơn 2 nhân dân tệ cho mỗi catty. Các kết quả liên quan đến mô hình lớp tiềm ân (LCM) chỉ ra rằng 56,9% người tiêu dùng là người tiêu dùng “tập trung vào chất lượng”, những người sẵn sang trả giá cao để có mã truy xuất nguồn gốc, không phát hiện thấy tinh chất thịt nạc, tiêu chuẩn mật độ nuôi quốc gia về phúc lợi động vật và các thuộc tính ngoại hình màu đỏ tươi. 28,1% nữa là những người tiêu dùng “nhạy cảm với giá cả”, những người quan tâm nhiều đến giá cả và mức giá họ phải trả cho mỗi sản phẩm là thấp. Người tiêu dùng có “thuộc tính kết hop sở thích” gắn giá trị lớn hơn vào các thuộc tính tương tac, chang hạn như mã truy xuất nguồn gốc kết hợp với không phát hiện thấy bản chất thịt nạc hoặc bề ngoài màu đỏ tươi và không phát hiện thấy bản chat thịt nạc kết hợp với tiêu chuẩn mật độ nuôi quốc gia về phúc lợi động vật hoặc bề ngoài màu đỏ tươi, chiếm 15% NTD.
Chun-Chu Liu và cộng sự (2019) thu thập được 568 phiếu khảo sát hợp lệ được hoàn thành bởi những người đã mua hạt cà phê thường xuyên ở Đài Loan nhằm mục đích khám phá tầm quan trọng mà người tiêu dùng gắn với các thuộc tính chứng nhận cà phê được trả cho các thuộc tính này trong khi lựa chọn và sẵn sang trả tiền (WTP).