CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ SỰ HÀI LÒNG CỦA NGƯỜI LAO ðỘNG 1. Khái niệm về sự hài lòng 1. ðo lường sự thỏa mãn ñối với công việc 1. Những yếu tố ảnh hưởng ñến sự hài lòng của người lao ñộng 1.
Giới thiệu tổng quan về ngành Dệt May Việt Nam -1- 1. KHÁI NIỆM VỀ SỰ HÀI LÒNG Khái niệm về sự hài lòng (sự thỏa mãn) hiện nay có nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu. Sự thỏa mãn là sự phản ứng của người tiêu dùng ñối với việc ước lượng sự khác nhau giữa những mong muốn trước ñó và sự thể hiện thực sự của sản phẩm như là sự chấp nhận sau cùng khi dùng nó [1]. Sự thỏa mãn là mức ñộ của trạng thái cảm giác của một người bắt nguồn từ việc so sánh kết quả thu ñược từ sản phẩm với những kỳ vọng của người ñó [2].
Sự thỏa mãn là phản ứng của nhân viên ñối với việc ñáp ứng những mong muốn[3]. “Sự thỏa mãn khách hàng là sự cảm nhận của khách hàng về mức ñộ ñáp ứng các nhu cầu” [4]. Trong ñó, nhu cầu của con người ñược sắp xếp như sau: 1) Theo Abraham Maslow[5], nhu cầu ñược chia thành năm cấp ñộ: Sinh lý – An toàn – Xã hội – Tôn trọng –Tự khẳng ñịnh. Nhu cầu sinh lý (ăn, mặc, ở…) là nhu cầu cơ bản của con người có sức mạnh cao nhất cho tới khi nó ñược thỏa mãn.
Khi nhu cầu sinh lý ñược thỏa mãn thì nhu cầu an toàn trở nên nổi trội hơn. Khi hai nhu cầu này ñã ñược thỏa mãn thì nhu cầu xã hội sẽ xuất hiện với tư cách là nhu cầu nổi trội, con người sẽ cố gắng có ñược quan hệ tốt ñẹp với người khác. Kế ñến là nhu cầu ñược tôn trọng (cảm giác tự tin, uy tín, quyền lực…), con người cảm thấy có ích và có ảnh hưởng ñến môi trường xung quanh, cho ñến khi nhu cầu tôn trọng ñược thỏa mãn ñầy ñủ thì nhu cầu tự khẳng ñịnh trở nên mạnh hơn, ñây là nhu cầu ñể tăng ñến mức tối ña tiềm năng của con người. Như vậy, ẩn ý ñằng sau thuyết nhu cầu của Maslow là: muốn nhân viên hăng hái và gắn bó với công việc, với tổ chức thì trước hết doanh nghiệp phải nhận biết nhân viên ñang ở cấp ñộ nhu cầu nào, từ ñó mới có thể ñưa ra những giải pháp phù hợp ñể thỏa mãn nhu cầu của họ.
-2- 2) Theo David Mc. Clelland[6], con người có ba nhu cầu cơ bản: Nhu cầu thành tựu- Nhu cầu liên minh - Nhu cầu quyền lực Nhu cầu thành tựu: Người có nhu cầu thành tựu cao là người luôn theo ñuổi việc giải quyết công việc tốt hơn. Họ muốn vượt qua những khó khăn trở ngại. Họ muốn cảm thấy rằng thành công hay thất bại là do kết quả những hành ñộng của họ.
ðiều này có nghĩa là họ thích các công việc có tính thách thức. Thông thường, họ là những người có: (1) Mong muốn thực hiện các trách nhiệm cá nhân, (2) Xu hướng ñặt mục tiêu cao cho chính họ, (3) Nhu cầu cao về sự phản hồi cụ thể và nhanh chóng, (4) Sớm làm chủ công việc của họ. Nhu cầu liên minh: ðó là nhu cầu ñược mọi người chấp nhận, mong muốn có tình yêu, bạn bè… Người lao ñộng có nhu cầu liên minh sẽ làm việc tốt ở những loại công việc mà sự thành công của nó ñòi hỏi kỹ năng quan hệ và sự hợp tác. Những người có nhu cầu liên minh mạnh rất thích những công việc mà qua ñó tạo ra sự thân thiện và các quan hệ xã hội.
Nhu cầu quyền lực: là nhu cầu kiểm soát và ảnh hưởng ñến môi trường làm việc của người khác. Người có nhu cầu quyền lực mạnh thường có xu hướng trở thành nhà quản trị. Từ lý thuyết về nhu cầu của David Mc. Clelland, có thể kết luận rằng: sự thăng tiến và hiệu quả trong một tổ chức có tương quan chặt chẽ ñến nhu cầu quyền lực, qua ñó sẽ có tác ñộng trực tiếp ñến sự thỏa mãn của nhân viên.G: Giáo sư Clayton Alderfer[7] ñã tiến hành sắp xếp lại nghiên cứu của Maslow và ñưa ra kết luận của mình.
Ông cho rằng hành ñộng của con người bắt nguồn từ nhu cầu, song theo ông thì con người cùng một lúc theo ñuổi việc thỏa mãn ba nhu cầu cơ bản: Nhu cầu tồn tại - Nhu cầu quan hệ - Nhu cầu phát triển -3- Nhu cầu tồn tại: bao gồm những ñòi hỏi vật chất tối cần thiết cho sự tồn tại của con người, nhóm nhu cầu này có nội dung giống như nhu cầu sinh lý và nhu cầu an toàn của Maslow. Nhu cầu quan hệ: là những ñòi hỏi về những quan hệ và tương tác qua lại giữa các cá nhân. Nhu cầu quan hệ bao gồm nhu cầu xã hội và một phần nhu cầu tự trọng, tức là phần nhu cầu tự trọng ñược thỏa mãn từ bên ngoài (ñược tôn trọng). Nhu cầu phát triển: là ñòi hỏi bên trong của mỗi con người cho sự phát triển cá nhân, nó bao gồm nhu cầu tự thể hiện và một phần nhu cầu tự trọng, tức là phần nhu cầu tự trọng ñược thỏa mãn từ nội tại ( tự trọng và tôn trọng người khác).
Như vậy ñiều khác biệt ở thuyết này là giáo sư Clayton Alderfer cho rằng con người cùng một lúc theo ñuổi sự thỏa mãn tất cả nhu cầu chứ không phải chỉ một như cầu như quan ñiểm của Maslow. Hơn nữa, thuyết này còn cho rằng khi một nhu cầu nào ñó bị cản trở và không ñược thỏa mãn thì con người có xu hướng dồn nỗ lực của mình sang thỏa mãn các nhu cầu khác. Tức là nếu nhu cầu tồn tại bị cản trở, con người sẽ dồn nỗ lực của mình sang việc theo ñuổi nhu cầu quan hệ và nhu cầu phát triển. ðiều này giải thích khi cuộc sống khó khăn, con người có xu hướng gắn bó với nhau hơn, quan hệ giữa họ tốt hơn và họ dồn nỗ lực ñầu tư cho tương lai nhiều hơn.
Theo Victor Vroom, sự thoả mãn ñối với công việc là mức ñộ mà nhân viên có cảm nhận, ñịnh hướng tích cực ñối với việc làm trong tổ chức[5]. Theo Levy và William (1998), Ellickson (2002), sự thỏa mãn ñối với công việc là thái ñộ chung của một cá nhân ñối với công việc của cá nhân ñó[8]. ðO LƯỜNG SỰ THỎA MÃN ðỐI VỚI CÔNG VIỆC Rõ ràng các khái niệm về sự thỏa mãn của người lao ñộng ñối với công việc mà Victor Vroom, Levy và William, Ellickson ñưa ra mang ý nghĩa rất rộng vì công việc của một người không chỉ ñơn giản là chuyển các công văn, giấy tờ…, mà nó còn ñòi hỏi sự tương tác với người khác, sự tuân thủ các luật lệ, quy ñịnh và các chính sách của -4- tổ chức… ðiều này có nghĩa là sự ñánh giá của một người lao ñộng về sự thỏa mãn hay bất mãn ñối với công việc của họ là một sự tổng hợp phức tạp của nhiều yếu tố công việc riêng biệt. Vậy có thể ño mức ñộ thỏa mãn ñối với công việc như thế nào? Có hai cách tiếp cận phổ biến là (1): ño lường chung bằng một câu hỏi và (2): tổng hợp mức ñộ của các khía cạnh của công việc.
ðo lường mức ñộ thỏa mãn chung ñối với công việc bằng một câu hỏi: ðo lường chung bằng một câu hỏi là ñề nghị cá nhân trả lời một câu hỏi như:” Quan tâm tới tất cả mọi thứ, bạn thỏa mãn thế nào ñối với công việc của mình?”. Người ñược hỏi sẽ trả lời bằng cách khoanh tròn các số từ 1 tới 5 theo các mức ñộ từ “ rất bất mãn” ñến “ rất thỏa mãn”. ðo lường mức ñộ thỏa mãn ñối với công việc bằng cách tổng hợp mức ñộ của các khía cạnh công việc: Theo Ston và Crossley (2000), Schwepker (2001) [9]., ño lường mức ñộ thỏa mãn ñối với công việc bằng cách tổng hợp mức ñộ của các khía cạnh công việc là xác ñịnh các yếu tố chủ yếu của công việc và hỏi người lao ñộng về cảm giác của họ về từng yếu tố. Tất cả các yếu tố ñược ñánh giá trên thang ñiểm từ 1 ñến 5 và sau ñó ñược cộng lại ñể xác ñịnh mức ñộ thỏa mãn chung.
Theo cách tiếp cận này thì công việc bao gồm năm khía cạnh chính sau: Bản chất công việc: liên quan ñến những thách thức của công việc, cơ hội ñể sử dụng các năng lực cá nhân và cảm nhận thú vị khi thực hiện công việc. Cơ hội ñào tạo, thăng tiến: liên quan ñến nhận thức của nhân viên về các cơ hội ñược ñào tạo, phát triển các năng lực cá nhân và cơ hội ñược thăng tiến trong tổ chức. Lãnh ñạo: liên quan ñến các mối quan hệ giữa nhân viên và cấp lãnh ñạo trực tiếp, sự hỗ trợ của cấp trên, phong cách lãnh ñạo và khả năng lãnh ñạo khi cấp trên thực hiện các chức năng quản trị trong tổ chức. -5- ðồng nghiệp: liên quan ñến các hành vi, quan hệ ñồng nghiệp tại nơi làm việc.
Tiền lương: liên quan ñến cảm nhận của nhân viên và tính công bằng trong việc trả lương. Theo kết quả nghiên cứu của ñề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ của tác giả là PGS.Tiến sĩ Trần Kim Dung và Trần Hoài Nam thì có bổ sung thêm hai yếu tố nữa ñể phù hợp với ñiều kiện tại Việt Nam là: Phúc lợi: liên quan ñến sự quan tâm của doanh nghiệp ñến ñời sống người lao ñộng, có tác dụng kích thích nhân viên trung thành, gắn bó với doanh nghiệp. Phúc lợi của doanh nghiệp gồm có: bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, tiền hưu trí, chế ñộ nghỉ phép, nghỉ lễ, trợ cấp… ðiều kiện làm việc thuận lợi: Môi trường làm việc luôn ñược người lao ñộng quan tâm vì môi trường làm việc liên quan ñến sự thuận tiện cá nhân, song ñồng thời nó cũng giúp cho nhân viên hoàn thành tốt nhiệm vụ. Người lao ñộng không thích làm việc ở những môi trường làm việc nguy hiểm, bất lợi và không thuận tiện.
Họ thích làm việc ở những nơi có nhiệt ñộ, ánh sáng, tiếng ồn và các yếu tố môi trường khác phải phù hợp. Hơn nữa, người lao ñộng thích làm việc ở những nơi gần nhà với các phương tiện sạch sẽ, hiện ñại và trang thiết bị phù hợp. Vậy cách ño lường nào tốt hơn? Tiến sĩ Nguyễn Hữu Lam ñánh giá rằng: “ Một cách cảm tính, dường như tổng hợp các khía cạnh của công việc sẽ ñạt ñến sự lượng giá phù hợp hơn về sự thỏa mãn ñối với công việc. Song các nghiên cứu ñã không ủng hộ cảm tính của chúng ta.