MỞ ĐẦU Trong những năm gần đây, hình thức chăn nuôi theo trang trại tập trung đã được hình thành và phát triển nhanh chóng. Đặc biệt từ khi có Nghị quyết số 03/2000/NQ-CP ngày 2/2/2000 của Chính phủ về phát triển kinh tế trang trại. Đây là xu thế phổ biến trên toàn thế giới và là hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế quan trọng trong sản xuất nông nghiệp ở nước ta. Tại Hà Nội, sau nhiều năm đầu tư ưu đãi, hỗ trợ lĩnh vực chăn nuôi, đặc biệt từ khi triển khai Chương trình phát triển chăn nuôi theo vùng, xã trọng điểm và chăn nuôi lớn ngoài khu dân cư năm 2011, Hà Nội đã đạt được những kết quả lớn, góp phần đưa Hà Nội trở thành một trong những địa phương dẫn đầu cả nước trong công tác chăn nuôi.
Theo báo cáo của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hà Nội năm 2016: Tổng số đàn lợn là 1,8 triệu con, trong đó: lợn nái 227.052 con (chiếm 12,6%), lợn thịt 1. Cùng với sự phát triển kinh tế, sự chuyển dịch quy mô từ các hộ gia đình chăn nuôi nhỏ, lẻ sang chăn nuôi tập trung đã kéo theo những tác động đối với môi trường nếu không kiểm soát chặt chẽ và đồng bộ. Nguồn chất thải đang từ dạng phân tán trên diện rộng tải lượng nhỏ trở thành nguồn thải tập trung, tải lượng ô nhiễm cao vượt quá mức tự làm sạch của môi trường xung quanh gây ra những biểu hiện ô nhiễm môi trường nghiêm trọng. Ở nhiều nơi, chất thải chăn nuôi không được xử lý mà thải đổ trực tiếp ra ngoài môi trường đã làm ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường đất, nước, không khí cũng như ảnh hưởng tới đời sống và sức khỏe của người dân.
Ngoài ra, một số nơi tình trạng vứt lợn chết ra ven đường, kênh, mương gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng đến sức khỏe người dân và tiềm ẩn nguy cơ lây lan dịch bệnh trên đàn vật nuôi đang diễn ra nghiêm trọng. Huyện Chương Mỹ là một trong những huyện tập trung nhiều trại nuôi lợn. Theo báo cáo của Chi cục thống kê huyện Chương Mỹ tính đến tháng 7 năm 2017 toàn huyện Chương Mỹ hiện có 460 trang trại chăn nuôi với tổng đàn trên 58.174 con lợn, chiếm khoảng 3,2% so với tổng đầu lợn của toàn Thành phố, tập trung chủ yếu tại các xã Lam Điền, Thanh Bình, Tốt Động, Trường Yên, Đông Sơn. [5] Tuy nhiên các chủ trang trại chưa có hiểu biết nhất định về Luật BVMT, các giải pháp xử lý chất thải phát sinh chưa được xử lý hoặc xử l chưa triệt để.
Hơn nữa, việc áp 1 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com dụng các biện pháp xử lý tại các trang trại vẫn còn nhiều hạn chế và chưa đáp ứng được các quy chuẩn, tiêu chuẩn môi trường theo quy định. Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, đề tài: “Đánh giá thực trạng môi trường và đề xuất giải pháp quản lý hiệu quả các trang trại chăn nuôi lợn tập trung tại huyện Chương Mỹ - Hà Nội” được lựa chọn để nghiên cứu trong khuôn khổ Luận văn Thạc sĩ khoa học môi trường. Đề tài tập trung vào các nội dung chính: (i) Đánh giá tổng quan về hiện trạng chăn nuôi, hiện trạng môi trường của một số trang trại chăn nuôi lợn tập trung của huyện Chương Mỹ, (ii) Nghiên cứu các đặc điểm ô nhiễm và thực trạng quản l môi trường tại các trang trại chăn nuôi lợn tập trung trên địa bàn huyện Chương Mỹ, (iii) Đề xuất các giải pháp nhằm quản lý hiệu quả các trang trại chăn nuôi lợn tại huyện Chương Mỹ. 2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1.
Tình hình chăn nuôi lợn ở Việt Nam 1. Tình hình phát triển chăn nuôi lợn tại Việt Nam Trong những năm vừa qua, ngành chăn nuôi Việt Nam luôn giữ mức tăng trưởng cao và ổn định, góp phần vào tăng trưởng chung của toàn ngành nông nghiệp. Theo số liệu thống kê, hàng năm số lượng vật nuôi lợn và gia cầm có xu hướng tăng, số lượng trâu và bò giữ mức ổn định. Trong số các vật nuôi thì chăn nuôi lợn là phổ biến về sản lượng, thịt lợn luôn đóng góp khoảng 2/3 nhu cầu thị trường.
Số liệu thống kê về số lượng các vật nuôi trong giai đoạn từ năm 2012 – 2015 được thể hiện trong bảng 1. Sự thay đổi về số lƣợng vật nuôi trong giai đoạn 2012 – 2015 Đơn vị tính: Triệu con Năm Trâu Bò Lợn Gia cầm 2012 2,6 5,2 26,5 308,3 2013 2,6 5,2 26,3 314,7 2014 2,5 5,2 26,8 327,7 2015 2,5 5,4 27,7 341,9 Nguồn: [8] Về quy mô, chăn nuôi với quy mô nhỏ lẻ tại các hộ gia đình hiện vẫn chiếm tỷ trọng lớn khoảng 65 – 70% về số lượng và sản lượng. Tuy nhiên, ngành chăn nuôi nước ta đang có những chuyển dịch nhanh chóng từ chăn nuôi nhỏ lẻ sang chăn nuôi quy mô lớn, trang trại, công nghiệp. Theo số liệu thống kê của Tổng cục Thống kê, năm 2013, cả nước có khoảng 9000 trang trại chăn nuôi.
Đến năm 2014, số lượng trang trại chăn nuôi đã tăng trên 10 ngàn trang trại. Trong đó, số lượng lớn trang trại tập trung ở miền Bắc và miền Nam. Theo vùng sinh thái, vùng Đồng bằng sông Hồng có số trang trại nhiều nhất chiếm tới 34%. Trong vùng này, Hà Nội đứng đầu với 979 trang trại.
Trong số các trang trại chăn nuôi thì số lượng các trang trại 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com chăn nuôi lợn chiếm phần lớn, cụ thể năm 2013 cả nước có khoảng 4300 trang trại chăn nuôi lợn trên tổng số 9000 trang trại chăn nuôi [6]. Nhìn chung ngành chăn nuôi ở nước ta trong những năm gần đây duy trì được sự phát triển ổn định và đã có những bước chuyển dịch rõ ràng từ chăn nuôi nhỏ lẻ sang chăn nuôi tập trung theo mô hình trang trại, phù hợp với xu hướng của thế giới. Khối lƣợng và đặc tính của chất thải chăn nuôi lợn Theo khảo sát của tổ chức JICA và Viện Công nghệ môi trường tại các trang trại chăn nuôi lợn điển hình tại 5 tỉnh thuộc miền Bắc gồm Hà Nội, Vĩnh Phúc, Hưng Yên, Thái Bình và Hòa Bình cho thấy, lượng nước tiêu thụ từ 10 – 40 lít/đầu lợn/ngày. Trong khi đó tại Nhật Bản con số này là 20 – 30 lít/đầu đợn/ngày.
Với 4293 trang trại chiếm 35% số đầu lợn trong cả nước (9345 triệu lợn), nếu trung bình lượng nước thải ra là 25 lít/đầu lợn/ngày thì lượng nước thải trung bình khoảng 85 triệu m3/năm, một con số đáng kể [9]. Khi chăn nuôi tập trung, mật độ chăn nuôi tăng cao dẫn đến tải lượng và nồng độ chất ô nhiễm cùng tăng cao. Một đầu lợn nuôi kiểu công nghiệp trung bình hàng ngày thải ra lượng phân, nước tiểu khoảng 6 – 8% khối lượng của nó. Để sản xuất 1000kg thịt lợn thì hàng ngày phát sinh 84 kg nước tiểu, 39 kg phân, 11kg TS (chất thải rắn tổng số), 3,1 kg BOD5, 0,24 kg NH4+-N [3].
Như vậy, có thể thấy rằng chăn nuôi tập trung là một trong các nguồn chất thải lớn có nguy cơ cao gây ô nhiễm môi trường ở nước ta. Nước thải chăn nuôi lợn là một loại nước thải rất đặc trưng, biến động rất lớn, phụ thuộc vào nhiều yếu tố như quy mô chăn nuôi, độ tuổi, chế độ ăn uống, nhiệt độ, độ ẩm chuồng, cách vệ sinh chuồng trại,. Đặc tính nước thải chăn nuôi lợn bị ảnh hưởng nhiều nhất bởi sự pha loãng, lưu trữ và cách tách loại rắn lỏng. Trong nghiên cứu của tác giả [14] cho biết lượng phân thải ra hàng ngày bằng 6 - 8% trọng lượng lợn.
Với lợn có trọng lượng dưới 10 kg thì lượng phân thải ra khoảng 0,5 – 1 kg, lợn từ 15 – 40 kg là 1 – 3 kg và lợn từ 45 – 100 kg là 3 – 5 kg. Ngoài ra với giống lợn khác nhau, trọng lượng chất thải cũng khác nhau. Với lợn nái ngoại thải từ 0,94 – 1,79 kg/ngày, lợn thịt là 0,6 – 1 kg/ngày tùy theo các mùa khác nhau. Tùy thuộc vào giai đoạn phát triển của vật nuôi mà nhu cầu dinh dưỡng và sự hấp thu thức ăn có sự khác nhau.
Trong thời kỳ tăng trưởng, nhu cầu dinh 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com dưỡng của vật nuôi lớn và khả năng đồng hóa thức ăn của con vật cao nên khối lượng các chất bị thải ra ngoài ít; còn khi vật nuôi trưởng thành thì nhu cầu dinh dưỡng giảm, khả năng đồng hóa thức ăn thấp nên chất thải sinh ra nhiều hơn. Vì vậy thành phần và khối lượng của phân cũng khác nhau ở các giai đoạn phát triển của vật nuôi. Thành phần hóa học của phân lợn từ 70 – 100kg Thông số Đơn vị Giá trị Vật chất khô g/kg 213 – 342 NH4+-N g/kg 0,66 – 0,76 TN g/kg 7,99 – 9,32 Tro g/kg 32,5 – 93,3 Chất xơ g/kg 151 – 261 Cacbonat g/kg 0,23 – 0,41 Các axit mạch ngắn g/kg 3,83 – 4,47 pH - 6,47 – 6,95 Nguồn: [3] Phân thường tồn tại ở dạng rắn, tương đối rắn hoặc lỏng. Trong phân chứa nhiều hợp chất giàu N, P.
Số liệu trong bảng 1.2 cho thấy, hàm lượng N trong phân lợn chiếm từ 7,99 – 9,32 g/kg phân. Ngoài ra, trong phân có chứa nhiều vi khuẩn gây bệnh. Trong đó, các vi khuẩn thuộc loại Enterbacteriacea chiếm đa số với các loại điển hình như E.Coli, Samonella, Shigella, Proteus. Theo số liệu phân tích của Viện Vệ sinh – Y tế công cộng thành phố Hồ Chí Minh (2001) cho biết, trong 1 kg phân lợn có thể chứa 2100 – 5000 trứng giun sán, chủ yếu là Ascarisium (chiếm 39 – 83%), Oesophagostomum (chiếm 60 – 68,7%) và Trichocephalus (chiếm 47 – 58,3%) Trong nước tiểu vật nuôi cũng chứa nhiều chất gây ô nhiễm (Bảng 1.3) Thành phần chính của nước tiểu là nước, chiếm 99% khối lượng.
Trong tất cả các 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com chất có trong nước tiểu, ure là chất chiếm tỷ lệ cao và dễ dàng bị VSV phân hủy trong điều kiện có ôxy tạo thành khí amoniac gây mùi khó chịu. Thành phần nước tiểu cũng thay đổi tùy thuộc tuổi vật nuôi, chế độ dinh dưỡng và điều kiện khí hậu Bảng 1. Thành phần hóa học của nƣớc tiểu lợn có khối lƣợng 70 – 100 kg Thông số Đơn vị Giá trị Vật chất khô g/kg 30,9 – 35,9 NH4+-N g/kg 0,13 – 0,4 TN g/kg 4,9 – 6,63 Tro g/kg 8,5 – 16,3 U rê g/kg 123 – 196 Cacbonat g/kg 0,11 – 0,19 pH - 6,77 – 8,19 Nguồn: [3] Do nước thải chăn nuôi là hỗn hợp bao gồm cả nước tiểu, phân, nước vệ sinh vật nuôi, chuồng trại nên nước thải chăn nuôi có chứa hàm lượng cao các chất hữu cơ, N, P và VSV gây bệnh.