CHƯƠNG 1 - TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tổng quan về điều kiện địa lý, điều kiện tự nhiên huyện Cao Phong Cao Phong là một huyện miền núi của tỉnh Hòa Bình, được tách từ huyện Kỳ Sơn năm 2012, có tọa độ địa lý từ 185031’ đến 185038’ Kinh độ Đông, từ 22084’ đến 22098’ Vĩ độ Bắc, diện tích đất tự nhiên là 25. Ranh giới hành chính của huyện ở phía Bắc giáp thị xã Hòa Bình và huyện Đà Bắc, phía Đông giáp huyện Kim Bôi, phía Tây giáp huyện Tam Lạc, phía Nam giáp huyện Lạc Sơn. Cao Phong nằm trên trục đường quốc lộ 6, tuyến đường chính chạy lên Tây Bắc, cách Hà Nội 92km về phía Tây, cách thành phố Hòa Bình 16 km.
Cao Phong nằm ở vị trí địa lý thuận lợi đã tạo điều kiện cho việc phát triển kinh tế. Bản đồ hành chính huyện Cao Phong Cao Phong có độ cao trên 300 m so với mặt nước biển. Địa hình có cấu trúc thoải, độ dốc trung bình khoảng 10 - 150, bao gồm nhiều dạng đồi bát úp thấp dần từ Đông Nam xuống Tây Bắc. Địa hình Cao Phong chia làm 3 vùng chính: vùng núi cao (gồm 2 xã là Yên Thượng Yên Lập), vùng giữa (gồm thị trấn Cao Phong 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com và 8 xã là Nam Phong, Tây Phong, Dũng Phong, Tân Phong, Xuân Phong, Đông Phong, Bắc Phong, Thu Phong), vùng hồ sông Đà (gồm 2 xã là Thung Nai, Bình Phong).
Với địa hình như vậy, Cao Phong có điều kiện thuận lợi về sản xuất nông lâm nghiệp, đa dạng hóa các loại cây trồng, đặc biệt là một số loại cây ăn quả, cây công nghiệp, cây lâm nghiệp, chăn nuôi đại gia súc và nuôi trồng thủy sản. Khí hậu Cao Phong mang đặc điểm chung của thời tiết, khí hậu miền Bắc Việt Nam là nhiệt đới gió mùa, nóng và ẩm ướt, mùa hè nóng và mưa nhiều, mùa đông lạnh và khô. Tuy nhiên, do vị trí địa lý, đặc điểm đại hình phức tạp nên điều kiện khí hậu thời tiết của huyện Cao Phong cũng có những nét đặc thù riêng, đó là có mùa đông lạnh hơn các huyện khác trong tỉnh từ 2 - 30C. Nhiệt độ trung bình năm của Cao Phong là 23,90C, nhiệt độ thấp nhất là 13,60C, cao nhất là 29,50C.
Số giờ nắng trung bình năm vào khoảng 1.900 giờ/ năm, nắng nhiều vào mùa hè từ tháng 6 đến tháng 9, và nắng ít vào mùa xuân từ tháng 1 đến tháng 3. Độ ẩm không khí của Cao Phong vào khoảng 81 – 84%. Cao Phong chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc, nhưng không lớn, tháng 4, tháng 5 chịu ảnh hưởng nhẹ của gió lào. Lượng mưa trung bình hàng năm khá cao, từ 1.000 mm, nhưng phân bố không đều giữa các tháng trong năm.
Mưa tập trung từ tháng 5 đến tháng 10, chiếm từ 80% đến 90% lượng mưa cả năm; mùa đông mưa ít nên thường xảy ra hiện tượng thiếu nước. Nhìn chung, huyện Cao Phong có khí hậu mát mẻ và độ ẩm cao, thích hợp cho sự phát triển của cây cam. Theo số liệu thống kê năm 2017, toàn huyện Cao Phong có diện tích đất tự nhiên là 459. Trong đó, đất nông nghiệp là 88.600 ha, chiếm tỷ lệ 19,30%, đất lâm nghiệp là 296.56%, đất chuyên dùng là 30.900 ha, chỉ chiếm 6,73%, đất ở là 14.
Qua đó có thể thấy, tiềm năng đất đai của Cao Phong đã được huy động gần như tối đa cho sản xuất nông nghiệp và lâm nghiệp. Đất ở Cao Phong chủ yếu là đất feralit vàng đỏ, phát triển trên các loại đá vôi và đá phiến thạch. Nhìn chung, độ phì của các loại đất tương đối khá, tầng đất mặt tương đối dày. Theo tài liệu Nông hóa Thổ nhưỡng của Sở Nông nghiệp và Phát 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com triển nông thôn tỉnh Hòa Bình, thì huyện Cao Phong có 20 loại đất khác nhau, gồm 9 loại đất chủ yếu: đất nâu vàng trên phù sa cổ, đất đỏ vàng trên đá phiến sét, đất nâu đỏ và mùn đỏ vàng trên đá bazan và trung tính, đất đỏ nâu trên đá vôi (đất vùng đồi núi); đất phù sa không được bồi, đất phù sa được bồi, đất phù sa glay, đất phù sa feralit biến chất do không được cải tạo, đất dốc tụ (vùng đất ruộng).
Nhìn chung Cao Phong có địa hình đa dạng với nhiều loại đất có độ phì cao, có thể bố trí nhiều loại cây trồng ngắn ngày, dài ngày, cây lương thực, cây công nghiệp, đồng cỏ chăn nuôi, trồng rừng đa tác dụng với tất cả các hệ sinh thái tưới và không tưới. Tình hình sản xuất và tiêu thụ cam trên Thế giới và ở Việt Nam 1. Tình hình sản xuất và tiêu thụ cam trên Thế giới Cây cam nói riêng và cây có múi nói chung hiện được trồng ở nhiều nơi trên thế giới. Cây có múi phát triển mạnh ở những vùng có khí hậu ôn hòa thuộc vùng á nhiệt đới hoặc vùng khí hậu ôn đới ven biển.
Càng ngày, nhu cầu tiêu thụ cam quýt càng cao, ngành sản xuất cam quýt đã không ngừng phát triển cả số lượng và chất lượng. Diện tích, năng suất, sản lượng cây có múi ở một số quốc gia (2017) [24] STT Châu lục/Quốc gia Diện tích (ha) Năng suất Sản lượng (tấn/ ha) (tấn) 1 Hoa Kỳ 4.168 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Theo thống kê của FAO, năm 2017, diện tích trồng cam của thế giới là 3.449 ha, chiếm 41,64% diện tích trồng cây có múi. Các nước ở vùng khí hậu cận nhiệt có diện tích trồng cam lớn trên thế giới, như Trung Quốc, Brazil, Hoa Kỳ, Mexico. Tổng sản lượng cam trên thế giới năm 2017 là 73.089 tấn, chiếm 51,96% tổng sản lượng cây có múi.
Những nước có sản lượng cam lớn là Hoa Kỳ (4.760 tấn, năm 2017), Trung Quốc (8. Diện tích, năng suất và sản lượng cây có múi ở Đông Nam Á (2017) [24] TT Châu lục/Quốc gia Diện tích Năng suất Sản lượng (ha) (tấn/ha) (tấn) 1 Indonexia 58. Tình hình sản xuất và tiêu thụ cam ở Việt Nam Việt Nam nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới, rất thích hợp trồng cây ăn quả, đặc biệt là các cây có múi. Năm 2017, diện tích cam cả nước đạt 768.319 ha, chiếm 57,48% tổng diện tích cây có múi.
Trong khu vực Đông Nam Á, Việt Nam là quốc gia có diện tích và sản lượng cam thuộc nhóm đầu, chỉ sau Indonexia. Diện tích trồng cam của Việt Nam tăng mạnh vào những năm 2000, cao nhất là 72.800 ha năm 2002 và giảm mạnh xuống còn 50.700 ha năm 2003 rồi lại có xu hướng tăng đều đến năm 2010 trước khi giảm xuống con số thấp nhất là 42. Những năm gần đây diện tích trồng cam đã tăng trở lại. Diện tích cây cam nói riêng và cây ăn quả nói chung giảm dần do nhiều nguyên nhân như diện tích đất trống không còn, việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng từ diện tích các cây 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hàng năm có hiệu quả kinh tế kém sang cây ăn quả không còn nhiều do sự canh tranh lợi nhuận từ nhiều loại cây trồng khác hiện đang có giá cả thuận lợi trên thị trường trong nước (lúa, sắn, ngô,.
và nhiều loại cây công nghiệp như cà phê, cao su, tiêu). Bên cạnh đó, một số vườn cây ăn quả đã bị nhiễm dịch hại nặng (vàng lá trên cây có múi) trong nhiều năm và không còn khả năng phòng trị; một số cây ăn quả có hiệu quả kinh tế thấp hoặc nông dân không dủ nguồn vốn và kỹ thuật để đầu tư. Tuy diện tích giảm, nhưng năng suất cây cam nói chung và cây có múi vẫn tăng đều hàng năm do được áp dụng nhiều biện pháp thâm canh. Năng suất cam trung bình cả nước ta năm 2017 đạt 13,54 tấn/ha, đứng thứ 3 trong khu vực Đông Nam Á (sau Indonexia và Thái Lan), tăng 14,17% so với năm 2010.
Diện tích, năng suất, sản lượng cam của Việt Nam [24] STT Năm Diện tích (ha) Năng suất (tấn/ ha) Sản lượng (tấn) 1 2010 61.319 Diện tích trồng chanh, cam, quýt trải dài trên cả nước, trong đó nơi có diện tích trồng chanh, cam, quýt lớn là Đồng bằng sông Cửu Long với khoảng 29,6 nghìn ha, chiếm 52,57% diện tích trồng của cả nước. Nguyên nhân do vùng Đồng bằng sông Cửu Long có nhiều điều kiện về khí hậu thích hợp trồng cây cam. Cây cam được trồng nhiều ở Tiền Giang, Hậu Giang, Vĩnh Long với các giống cam Sành, cam Mật. Ở Miền Bắc, cây cam được trồng nhiều ở Hà Giang, Tuyên Quang, Yên Bái, Lạng Sơn, Hà Tĩnh với các vùng trồng cam nổi tiếng như: cam Sành ở Bắc Quang – Hà Giang, Hàm Yên – Tuyên Quang, Vinh – Nghệ An, cam Bù ở Hương Sơn - Hà Tĩnh.
7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Diện tích cho sản phẩm cam, chanh, quýt của Việt Nam Đơn vị: 1000 ha Năm TT Vùng 2011 2012 2013 Cả nước 56,3 55,6 57,0 Miền Bắc 19,0 19,4 19,0 1 Đồng bằng sông Hồng 5,4 5,3 5,2 2 Trung du và miền núi phía Bắc 9,1 9,5 9,7 3 Bắc trung bộ 4,5 4,6 4,1 Miền Nam 37,2 36,2 38,0 4 Duyên hải Nam trung bộ 1,8 1,4 1,3 5 Tây Nguyên 0,5 0,5 0,7 6 Đông Nam Bộ 5,3 4,6 4,5 7 Đồng Bằng Sông Cửu Long 29,6 29,7 31,5 Bảng 1. Sản lượng cam, chanh, quýt ở Việt Nam Đơn vị: x 1000 tấn TT Vùng Năm 2011 2012 2013 Cả nước 702,1 704,1 709,4 Miền Bắc 158,6 176,5 170,6 1 Đồng bằng sông Hồng 63,8 62,9 60,8 2 Trung du và miền núi phía Bắc 52,4 68,4 69,6 3 Bắc trung bộ 42,4 45,2 40,2 Miền Nam 481,4 527,6 637,0 4 Duyên hải Nam trung bộ 8,4 7,0 6,9 5 Tây Nguyên 2,6 3,4 4,0 6 Đông Nam Bộ 69,1 58,7 56,0 7 Đồng Bằng Sông Cửu Long 463,5 458,5 472,0 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Tình hình phát triển sản xuất cam của tỉnh Hòa Bình Với lợi thế về điều kiện tiểu khí hậu, thổ nhưỡng phù hợp, thời gian gần đây, diện tích cây ăn quả trên địa bàn tỉnh Hòa Bình ngày càng tăng, bước đầu hình thành những vùng sản xuất mang tính hàng hóa, tạo thu nhập cao, ổn định cho người dân.
Diện tích sản xuất cây ăn quả có múi toàn tỉnh khoảng 4.695 ha (diện tích kinh doanh 1.849 ha), năng suất bình quân 218 tạ/ha, sản lượng 40.488 tấn, trong đó huyện Cao Phong có 1.495,6 ha cam (sản lượng 19. Cơ cấu giống và thời vụ thu hoạch các giống cam quýt ở Hòa Bình như sau: Bảng 1.