Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn về trang trại và kinh tế trang trại 1. Cơ sở lý luận * Khái niệm về trang trại và kinh tế trang trại Đến nay, đã có nhiều nhà khoa học nghiên cứu về vấn đề Kinh tế trang trại (KTTT) và trang trại. Ở mỗi vùng, mỗi khu vực các tác giả đều có những nhận xét, những quan điểm riêng về trang trại và KTTT.
Họ nhìn nhận từ những góc độ khác nhau và nhận thức cũng rất khác nhau. Trước hết họ đã phân biệt giữa KTTT và kinh tế hộ nông dân, thấy được sự khác biệt giữa chúng. Trên cơ sở đó họ đã có những khái niệm đầy đủ và đúng đắn về trang trại và KTTT. Để có một khái niệm về trang trại là rất khó, nó thường bị lẫn lộn với khái niệm hộ nông dân.
Cần có sự phân biệt rõ ràng giữa trang trại và hộ nông dân dựa trên những tiêu chí mà Nhà nước quy định. Theo Ellis (1998) thì “Hộ nông dân là hộ có phương tiện kiếm sống từ ruộng đất, sử dụng lao động gia đình vào sản xuất, luôn nằm trong một hệ thống kinh tế rộng hơn, nhưng về cơ bản được đặc trưng bởi sự tham gia từng phần vào thị trường với mức độ hoàn hảo không cao”. Theo t¸c gi¶ NguyÔn ThÕ Nh· “Trang tr¹i lµ h×nh thøc tæ chøc n«ng nghiÖp dùa trªn c¬ së gia ®×nh lµ chñ yÕu tù chñ s¶n xuÊt vµ b×nh ®¼ng víi c¸c tæ chøc kinh doanh kh¸c”.TS Lª Träng “Kinh tế trang trại là hình thức tổ chức kinh tế cơ sở là doanh nghiệp trực tiếp tổ chức sản xuất ra nông sản hàng hoá dựa trên cơ sở hiệp tác và phân công lao động xã hội, được chủ trang trại đầu tư vốn, thuê mướn phần lớn hoặc hầu hết sức lao động và trang bị tư liệu sản n 4 xuất để hoạt động kinh doanh theo yêu cầu của nền kinh tế thị trường được Nhà nước bảo hộ theo luật định”. Nhận thức được vai trò của KTTT trong nền kinh tế đất nước, Nghị quyết của Chính phủ số 03/2000/NQ - CP ngày 02/02/2000 về KTTT đã chỉ rõ “Kinh tế trang trại là hình thức tổ chức sản xuất hàng hoá trong nông nghiệp, nông thôn, chủ yếu dựa vào hộ gia đình, nhằm mở rộng quy mô và nâng cao hiệu quả sản xuất trong lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản, trồng rừng, gắn sản xuất với chế biến và tiêu thụ nông, lâm, thuỷ sản”.
* Đặc trưng của kinh tế trang trại - Mục đích sản xuất của trang trại là sản xuất nông, lâm, thuỷ sản hàng hoá với quy mô lớn. - Mức độ tập trung hoá và chuyên môn hoá các điều kiện và yếu tố sản xuất cao hơn hẳn (vượt trội) so với sản xuất của nông hộ, thể hiện ở quy mô sản xuất như đất đai, đầu con gia súc, lao động, giá trị nông lâm thuỷ sản hàng hoá. - Chủ trang trại có kiến thức và kinh nghiệm trực tiếp điều hành sản xuất, biết áp dụng tiến bộ khoa học - kỹ thuật, tiếp nhận chuyển giao công nghệ mới vào sản xuất; sử dụng lao động gia đình và thuê lao động bên ngoài sản xuất hiệu quả cao, có thu nhập vượt trội so với kinh tế hộ. * Những tiêu chí để xác định hộ là trang trại Tuỳ theo từng vùng, từng khu vực mà có các mức, cách nhìn nhận khác nhau.
Để phân biệt giữa KTTT và kinh tế hộ nông dân cần dựa trên những căn cứ về trang trại. Chính phủ đã có nghị quyết 03/2000/NQ - CP ngày 02/02/2000 về KTTT. Thi hành Nghị quyết của Chính phủ, liên Bộ Nông nghiệp & PTNT và Tổng cục Thống kê quy định hướng dẫn tiêu chí về KTTT được cụ thể trong Thông tư liên tịch số 69/2000/TTLT/BNN - TCTK ngày 23/06/2000 được bổ sung sửa đổi qua thông tư liên tịch số 62/TTLT/BNN - TCTK ngày n 5 20/05/2011 và thông tư của Bộ Nông nghiệp và PTNT số 74/2011/TT - BNN ngày 04/07/2011 như sau: - Một hộ sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản được xác định là trang trại phải đạt một trong hai tiêu chí về giá trị sản lượng hàng hoá, dịch vụ bình quân một năm, hoặc về quy mô sản xuất của trang trại được quy định của Thông tư liên tịch số 69/2000/TTLT/BNN - TCTK. - Đối với hộ sản xuất, kinh doanh tổng hợp có nhiều loại sản phẩm hàng hoá của các ngành nông nghiệp, lâm nghiệp, thuỷ sản thì tiêu chí để xác định trang trại là giá trị sản lượng hàng hoá, dịch vụ bình quân 1 năm.
Giá trị sản lượng hàng hoá và dịch vụ bình quân 1 năm - Đối với các tỉnh phía Bắc và Duyên hải Miền trung từ 40 triệu đồng trở lên. - Đối với các tỉnh phía Nam và Tây nguyên từ 50 triệu đồng trở lên. Quy mô sản xuất phải tương đối lớn và vượt trội so với kinh tế nông hộ tương ứng với từng ngành sản xuất và vùng kinh tế: (a). Đối với trang trại trồng trọt - Trang trại trồng cây hàng năm + Từ 2 ha trở lên đối với các tỉnh phía Bắc và Duyên hải Miền trung.
+ Từ 3 ha trở lên đối với các tỉnh phía Nam và Tây nguyên. - Trang trại trồng cây lâu năm + Từ 3 ha trở lên đối với các tỉnh phía Bắc và Duyên hải Miền trung. + Từ 5 ha trở lên đối với các tỉnh phía Nam và Tây nguyên. + Trang trại trồng hồ tiêu từ 0,5 ha trở lên.
- Trang trại lâm nghiệp + Từ 10 ha trở lên đối với các vùng trong cả nước. Đối với trang trại chăn nuôi - Chăn nuôi đại gia súc: trâu, bò,… + Chăn nuôi sinh sản, lấy sữa có thường xuyên từ 10 con trở lên. + Chăn nuôi lấy thịt có thường xuyên từ 50 con trở lên. n 6 - Chăn nuôi tiểu gia súc: lợn, dê,… + Chăn nuôi sinh sản có thường xuyên đối với lợn 20 con trở lên, đối với dê, cừu từ 100 con trở lên.
+ Chăn nuôi lợn thịt có thường xuyên từ 100 con trở lên (không kể lợn sữa) dê thịt từ 200 con trở lên. - Chăn nuôi gia cầm: gà, vịt, ngan, ngỗng,… có thường xuyên 2000 con trở lên (không tính số đầu con dưới 7 ngày tuổi). Trang trại nuôi trồng thuỷ sản - Diện tích mặt nước để nuôi trồng thuỷ sản có từ 2 ha trở lên (riêng đối với nuôi tôm thịt theo kiểu công nghiệp từ 1 ha trở lên). Đối với các loại sản phẩm nông, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản có tính chất đặc thự thì tiêu chí xác định là giá trị sản lượng hàng hoá (tiêu chí 1).
* Những yếu tố đảm bảo sự tồn tại và phát triển của kinh tế trang trại Sản xuất cần có sự kết hợp của nhiều yếu tố, các yếu tố này ảnh hưởng rất lớn đến quy mô và phát triển của KTTT, bao gồm các yếu tố: lớn đến quy mô và phát triển của KTTT, bao gồm các yếu tố: - Đất đai: là tư liệu sản xuất đặc biệt không thể thay thế được, là yếu tố đầu tiên trong việc xác định tiêu chí trang trại, các trang trại muốn hình thành cần có một diện tích rộng với quy mô nhất định. Dựa vào đó người ta có thể tập trung quỹ đất bằng những hình thức khác nhau để phù hợp với ý đồ kinh doanh của chủ hộ. - Lao động: là yếu tố quan trọng để thực hiện quá trình sản xuất kinh doanh quyết định đến sự phát triển của trang trại. Trong lao động ngoài chú ý đến mặt số lượng thì yếu tố chất lượng có ý nghĩa rất quan trọng đối với tình hình sản xuất kinh doanh của trang trại.
Vì lao động có trình độ quản lý tốt, am hiểu kỹ thuật, hiểu biết thị trường… đảm bảo cho trang trại sử dụng hợp lý các nguồn lực, sản xuất đúng hướng, đạt hiệu quả cao trong kinh doanh. n 7 - Vốn: là yếu tố đầu vào không thể thiếu của quá trình sản xuất kinh doanh, nó là cơ sở để chủ trang trại hình thành ý tưởng kinh doanh và quy mô sản xuất. Vốn để đảm bảo cho trang trại đầu tư đúng mức, đảm bảo phù hợp với quy luật sinh học của cây trồng vật nuôi để đạt năng suất, chất lượng và hiệu quả của sản xuất kinh doanh. - Chính sách: là tập hợp các chủ trương và hành động do Chính phủ thực hiện, các chính sách tác động đến trang trại bao gồm: đất đai, tín dụng, lao động… Chính sách đúng nó sẽ là động lực cho sự phát triển còn đối với một chính sách không hợp lý sẽ kìm hãm sự phát triển.
- Thị trường: Thị trường ở đây bao gồm cả đầu vào và đầu ra, thị trường ổn định thì các chủ trang trại yên tâm hơn trong sản xuất, đầu tư và thúc đẩy sản xuất ngày càng nhiều hơn. - Khoa học và công nghệ: là yếu tố thúc đẩy nhanh hơn công cuộc CNH- HĐH nông nghiệp và nông thôn, đảm bảo cho nông nghiệp phát triển một cách bền vững, tạo nhiều sản phẩm, đa dạng về chủng loại, với chất lượng cao. - Ngoài các yếu tố kể trên còn có: khí hậu, thời tiết, địa hình, phong tục tập quán,… có ảnh hưởng không nhỏ đến sự hình thành và phát triển của KTTT. Vì vậy, trong quá trình phát triển của KTTT cần phải coi trọng các yếu tố ảnh hưởng một cách đúng đắn để KTTT phát triển một cách đúng hướng đạt hiệu quả cao trong sản xuất kinh doanh.
* Ý nghĩa kinh tế, xã hội và môi trường của kinh tế trang trại - KTTT là hình thức doanh nghiệp trực tiếp sản xuất ra sản phẩm hàng hoá cho xã hội, phù hợp với đặc điểm sản xuất nông nghiệp và quy luật sinh học của cây trồng vật nuôi. - KTTT góp phần phát triển kinh tế của nhiều vùng, tập trung khai thác những vùng đất trống, đồi trọc, những vùng hoang hoá tạo vai trò to lớn về mặt xã hội. Đồng thời sử dụng lao động dư thừa đặc biệt là lao động thời vụ ở nông thôn góp phần cải thiện đời sống, tránh những tệ nạn xã hội. n 8 - KTTT có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ môi trường, xây dựng và phát triển nông thôn mới tiến tới phát triển nền nông nghiệp hàng hoá, nền nông nghiệp sinh thái bền vững.
Cơ sở thực tiễn - Tình hình phát triển trang trại trên thế giới Cách mạng công nghiệp và cách mạng tư sản nổ ra ở châu Âu kéo theo sự phát triển của kinh tế hàng hoá thay thế kinh tế tự cung tự cấp. Tạo ra số lượng hàng hoá nhiều hơn, chất lượng tốt hơn.