MỞ ĐẦU Sông Hồng với một lƣợng phù sa lớn (trung bình 100 triê ̣u tấn/năm) và khoảng thời gian dài lắng đọng trầm tích đã tạo nên vùng đất ngập nƣớc cửa sông Hồng ngày nay. Vùng nghiên cứu có đầy đủ các chức năng của một vùng đất ngập nƣớc điển hình, đây chính là yếu tố quan trọng để hình thành Khu Ramsar Xuân Thủy và Khu bảo tồn Thiên nhiên Tiền Hải. Tuy nhiên, trong quá trình phát triển, vùng đất ngập nƣớc cửa sông Hồng đã trải qua nhiều biển động. Đặc biệt là giai đoạn từ 1995 - 1998 có gần 71,4% diện tích RNM tại Xuân Thủy đã bị thay thế bằng các đầm tôm [12].
Trƣớc thực trạng đó, 02/01/2003 Ban quản lý Vƣờn quốc gia Xuân Thủy đã ra đời kết hợp với Ban quản lý Khu bảo tồn Thiên nhiên Tiền Hải đƣợc thành lập trƣớc đó (04/10/1995) nhằm bảo tồn hệ sinh thái điển hình đất ngập nƣớc cửa sông ven biển miền Bắc Việt Nam. Ngoài ra, VQG Xuân Thủy và Khu bảo tồn Thiên nhiên Tiền Hải thành lập góp phần tuyên truyền giáo dục môi trƣờng, đẩy mạnh du lịch sinh thái và phát triển bền vững kinh tế - xã hội của cộng đồng địa phƣơng. Sự ra đời của tổ chức có thẩm quyền đã đóng góp quan trọng vào việc bảo tồn đất ngập nƣớc cửa sông Hồng. Tuy nhiên, gần đây trƣớc sức ép của nền kinh tế thị trƣờng làm nảy sinh nhiều mâu thuẫn, có tính xung đột giữa lợi ích phát triển kinh tế trƣớc mắt với nguy cơ làm phá hủy môi trƣờng sinh thái, đa dạng sinh học về lâu dài.
Không những thế, hoạt động nhân sinh tại vùng nghiên cứu cũng diễn ra mạnh nhƣ công nghiệp, khai thác khoáng sản, du lịch…gây hại trực tiếp đến tài nguyên - môi trƣờng trong khu vực. Do đó cần có một giải pháp thiết thực để cộng đồng dân cƣ sống quanh vùng hiểu đƣợc giá trị của vùng đất ngập nƣớc mà họ đang sử dụng làm tƣ liệu sản xuất. Để làm đƣợc điều đó cần lƣợng giá kinh tế vùng đất ngập nƣớc và đƣa giá trị kinh tế này vào trong giáo dục cộng đồng. Lƣợng giá kinh tế tài nguyên nói chung và đất ngập nƣớc nói riêng là yếu tố quan trọng trong quản lý môi trƣờng ở Việt Nam.
Khu vực nghiên cứu đã có một số công trình lƣợng giá kinh tế, tuy nhiên phạm vi chỉ tập trung ở Vƣờn quốc gia Xuân Thủy. Trƣớc thực tiễn đó, đề tài luận văn “Lượng giá kinh tế tài nguyên và môi trường đất ngập nước vùng cửa sông Hồng” đƣợc thực hiện nhằm mục tiêu là lƣợng giá giá trị sử dụng trực tiếp và gián tiếp tài nguyên - môi trƣờng vùng ĐNN và đề xuất các giải pháp quản lý sử dụng hợp lý, hƣớng tới sự phát triển bền vững trong tƣơng lại tại khu vực cửa sông Hồng. Để đạt đƣợc mục 1 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tiêu trên, luận văn giải quyết các nhiệm vụ: thu thập các tài liệu liên quan nhằm phục vụ cho mục tiêu nghiên cứu (điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội, môi trƣờng, tài nguyên, các loại tai biến trong vùng…); Tiến hành khảo sát thực địa, điều tra phỏng vấn, thu thập các số liệu tại hiện trƣờng; Xác định các yếu tố ảnh hƣởng đến giá trị kinh tế của vùng đất ngập nƣớc cửa sông Hồng; Xử lý các số liệu đã thu thập bằng phần mềm (Excel, SPSS…) nhằm định giá đƣợc giá trị kinh tế của mỗi nhóm giá trị (giá trị sử dụng trực tiếp và giá trị sử dụng gián tiếp); Đề xuất các giải pháp quản lý và sử dụng bền vững tài nguyên ĐNN. Luận văn đƣợc hoàn thành tại Khoa Môi trƣờng - Trƣờng Đại học Khoa học Tự nhiên - Đại học Quốc gia Hà Nội dƣới sự giúp đỡ và hƣớng dẫn tận tình của GS.
Mai Trọng Nhuận. 2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Vị trí địa lý vùng nghiên cứu Vùng nghiên cứu bao gồm vùng lõi (cồn Ngạn, cồn Lu, cồn Mờ, cồn Vành) và vùng ĐNN ven biển của các xã vùng đệm: xã Giao Thiện, Giao An, Giao Lạc, Giao Xuân, Giao Hải huyện Giao Thủy (tỉnh Nam Định) và các xã Đông Minh, Nam Thịnh, Nam Hƣng, Nam Phú huyện Tiền Hải (tỉnh Thái Bình).
Phía Đông và phía Nam giáp vịnh Bắc Bộ với chiều dài đƣờng bờ biển là 55km (từ cửa Trà Lý đến cửa Hà Lạn), phía Bắc giáp huyện Thái Thụy (Thái Bình), phía Tây, Tây Nam giáp các huyện Kiến Xƣơng (Thái Bình), Xuân Trƣờng, Hải Hậu (Nam Định) [11]. Vùng có tọa độ địa lý: + Từ 20006’50,44” đến 20025’08,71” Vĩ độ Bắc + Từ 106026’02,25” đến 106042’50,42” Kinh độ Đông Hình 1. Sơ đồ vị trí nghiên cứu vùng cửa Sông Hồng 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội vùng nghiên cứu 1.
Điều kiện tự nhiên 1. Địa hình, địa mạo Vùng nghiên cứu bao gồm kiểu địa hình biển ven bờ và phần đất liền ven biển: phần đất liền ven biển là trũng châu thổ hiện đại của sông Hồng nhô ra biển, có địa hình thấp (khoảng 1m trở xuống), bằng phẳng và hơi lƣợn sóng, nghiêng dần ra phía biển, bị chia cắt bởi các sông và lạch thoát triều. Một số khu vực đất tại xã Đông Minh (huyện Tiền Hải) vƣợt cao lên nhƣ khu gò nổi cao khoảng 1,5 -1,7 m so với mặt nƣớc biển. Đây là dấu tích những cồn cát duyên hải đƣợc hình thành do tác dụng của sóng biển, trong quá trình bồi tạo, nhân dân thƣờng gọi là “Cồn”.
Vùng đất cao cũng gặp nhiều khó khăn trong canh tác. Đất thƣờng bị hạn, chỉ nơi nào có nƣớc tƣới cho đồng ruộng thì lúa mới đƣợc mùa. Miền đất cao lại chịu ảnh hƣởng của các mạch nƣớc ngầm ven biển thấm lên mặt, đất thƣờng nhiễm mặn [22]. Phần biển ven bờ, đƣợc phân định rõ rệt theo độ sâu.
Từ 0-3m nƣớc có địa hình rất thoải và từ 0-20m nƣớc, địa hình hơi dốc. Độ dốc tăng lên khi càng ra xa. Phía ngoài đê biển tử cửa Trà Lý đến cửa Hà Lạn hình thành các cồn ngầm chắn cửa lớn nhƣ cồn Thủ, cồn Vành, còn Đen, còn Ngạn, cồn Lu và cồn Xanh (cồn Mờ). Do phù sa sông Hồng bồi lắng và ảnh hƣởng mạnh mẽ của thuỷ triều, cốt đất có độ cao trung bình từ 0,5 đến 0,9 m.
Địa hình thoải thấp dần từ Đông Bắc xuống Tây Nam, phân ra thành 2 vùng rõ rệt, đó là: Vùng Cồn Ngạn: tính từ giáp sông Hồng về phía Tây tới xã Giao Xuân và giáp đê Trung ƣơng về phía Tây Nam tới sông Trà, tổng diện tích vùng này kể cả phần mới Hình 1. Khảo sát tại cồn mờ bồi tụ là 3. Nguyễn Hồ Quế, 2011 Vùng Cồn Lu: chạy song song với Cồn Ngạn từ sông Trà tới chân sóng có diện tích là 1. Vùng này có cốt đất khá cao, là điểm dừng chân của nhiều loài chim di cƣ phƣơng Bắc trú đông hàng năm, đã đƣợc Chính phủ Việt Nam đăng ký là điểm bảo vệ đất ngập nƣớc quốc tế từ năm 1989 khi tham gia Công ƣớc Ramsar - công ƣớc về những vùng đất ngập nƣớc có tầm quan trọng quốc tế [18].
4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Ngoài ra, cồn Xanh (cồn Mờ) đang trong quá trình bồi đắp để mở rộng diện tích và nâng cao cồn đất, đƣợc cấu tạo chủ yếu bởi cát biển. cồn Xanh luôn luôn ngập nƣớc lúc triều cƣờng. Lúc nƣớc ròng, cồn Xanh gồm 2 dải cát, một dải cát nằm ở vị trí phía Đông và một dải cát nằm ở vị trí Đông Nam. Bên cạnh các địa hình dƣơng nêu trên, khu vực nghiên cứu bao gồm lòng lạch sông và lạch triều là địa hình âm, thƣờng xuyên ngập nƣớc.
Lòng lạch sông và lạch triều đang đƣợc trầm tích (bùn, sét và cát) bồi đắp, nâng cao cốt đất và thu hẹp dòng chảy. Lòng lạch sông và lạch triều chủ yếu có lớp trầm tích bùn nhão, có diện tích lớn và có tiềm năng mở rộng quỹ đất trong tƣơng lai. Đặc điểm khí hậu Vùng nghiên cứu nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhƣng với đặc điểm là giáp biển nên khí hậu mang nét đặc trƣng của vùng khí hậu duyên hải đƣợc điều hoà bởi biển cả, mùa đông thƣờng ấm hơn, mùa hè thƣờng mát hơn so với khu vực sâu trong nội địa. Nhiệt độ trung bình trong năm từ 23 - 240C, nhiệt độ cao nhất lên tới 390C và thấp nhất là 4,10C.
Chênh lệch nhiệt độ giữa ngày nóng và ngày lạnh khoảng 15 - 200C, trong một ngày đêm khoảng 8 - 100C [11]. Lƣợng mƣa trung bình hàng năm từ 1.000 mm, tập trung chủ yếu vào mùa hè (từ tháng 4 đến tháng 10) và chiếm đến 80% lƣợng mƣa cả năm. Vào mùa này lƣợng mƣa cao điểm có ngày cƣờng độ lên tới 200 - 350 mm/ngày. Mùa khô kéo dài từ tháng 11 đến tháng 3 với tổng lƣợng mƣa khoảng 20% lƣợng mƣa cả năm, các tháng 12 và tháng 1 lƣợng mƣa thƣờng nhỏ hơn lƣợng bốc hơi.
Tháng 2 và tháng 3 là thời kỳ mƣa phùn ẩm ƣớt [11]. Độ ẩm không khí dao động từ 80 - 90% nhƣng phân bố không đều giữa các tháng, phụ thuộc vào chế độ mƣa. Mùa đông độ ẩm không khí dao động trong khoảng 77 - 81%, mùa hè trung bình đạt 84 - 86%. Bức xạ mặt trời lớn, số giờ nắng trung bình từ 1.800 giờ/năm, tổng nhiệt lƣợng cả năm khoảng 1.
Gió thịnh hành là gió Đông Nam mang theo không khí nóng ẩm với tốc độ trung bình từ 2 - 5 m/giây. Mùa gió Tây Nam, hƣớng gió chính là Nam và Đông Nam với tốc độ gió trung bình đạt 3,2-3,9 m/s, cao nhất vào tháng 5-7. 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Vùng nghiên cứu còn chịu ảnh hƣởng của dải hội tụ nhiệt đới, do đó thƣờng chịu tác động của gió bão. Hiện tƣợng này thƣờng xuất hiện vào mùa hè từ tháng 5 đến tháng 7 có khi kéo dài tới tháng 11 và kèm theo mƣa to có sức tàn phá lớn.
Mỗi năm trung bình có từ 2 - 3 cơn bão đổ bộ vào vùng nghiên cứu, có năm có tới 6 cơn bão gây thiệt hại rất lớn cho sản xuất và đời sống nhân dân. Mùa đông có gió mùa Đông Bắc mang theo không khí lạnh, có thể trồng các cây trồng ôn đới trong sản xuất nông nghiệp [11]. Thủy văn, hải văn Vùng nghiên cứu có mạng lƣới sông ngòi phát triển với hai hệ thống sông tự nhiên và sông đào. Các sông chính trong vùng nghiên cứu gồm có sông Hồng, sông Trà Lý, sông Lân, sông Long Hầu…nằm kẹp giữa các cửa Trà Lý, Ba Lạt, Hà Lạn…Do là vùng tiếp giáp với biển nên chế độ dòng chảy của sông rất phức tạp.