PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Trước những đổi mới công nghệ hiện nay và yêu cầu về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục Việt Nam, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt quyết định số 522/QĐ- TTg về Giáo dục hướng nghiệp và định hướng phát triển giáo dục phổ thông gia đoạn 2019 – 2025. Trong đó chương trình giáo dục phổ thông mới cần chú trọng đưa nội dung giáo dục hướng nghiệp tích hợp trong chương trình các môn học và hoạt động giáo dục theo định hướng giáo dục tích hợp khoa học – công nghệ – kỹ thuật – toán (giáo dục STEM) trong chương trình phù hợp với xu hướng phát triển ngành nghề của quốc gia, đáp ứng thị trường lao động và các yêu cầu của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Giáo dục STEM là một chương trình giảng dạy dựa trên ý tưởng trang bị cho người học những kiến thức, kĩ năng liên quan đến các lĩnh vực khoa học, kĩ thuật, công nghệ và toán học theo cách tiếp cận liên môn, giúp người học vừa học được kiến thức khoa học, vừa học được cách vận dụng các kiến thức đó vào giải quyết các vấn đề thực tế liên quan đến khoa học trong cuộc sống hàng ngày.
Giáo dục STEM chủ yếu dựa trên thực hành và các hoạt động trải nghiệm sáng tạo, các hình thức học qua dự án – chủ đề, học qua các trò chơi luôn được áp dụng tối đa cho các môn tích hợp STEM. Tại Việt Nam, từ năm 2014 Bộ GD&ĐT phối hợp cùng hội đồng Anh đã triển khai chương trình thí điểm STEM ở một số trường trung học trên địa bàn Hà Nội. STEM được đưa đến cho học sinh thông qua các buổi hoạt động ngoại khóa. Đến nay STEM đã được đưa vào nhiều trường học trung học cơ sở và trung học phổ thông trên địa bàn Hà Nội (THCS Trưng Vương – Hoàn Kiếm; THCS Tạ Quang Bửu – Hai Bà Trưng; THCS Nguyễn Bỉnh Khiêm – Cầu Giấy; THPT Hà Nội Amsterdam; THPT Nguyễn Tất Thành; trường THPT Olympia; trường quốc tế Wellspring.) dưới dạng câu lạc bộ STEM, ngày hội STEM.
Một số trường đã đưa STEM vào thời khóa biểu chính thức, mỗi tuần một tiết (trường THCS Tạ Quang Bửu, THCS Nguyễn Bỉnh Khiêm. 1 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Giáo dục STEM là phương thức giáo dục tích hợp giữa lý thuyết và vấn đề thực tế giúp hình thành, phát triển năng lực giải quyết vấn đề cho người học và đề cao tính sáng tạo cho người học. Bên cạnh các lợi ích lớn của giáo dục STEM, thì hoàn cảnh thực tế, kinh phí thực hiện; trình độ và năng lực của đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên; hay về nội dung giảng dạy, giáo trình, tài liệu; cơ sở vật chất; hay chính từ tâm lý học gì thi nấy; suy nghĩ rập khuôn, máy móc; tâm lý ngộ nhận của học sinh về STEM (STEM dạy lập trình, robot; STEM cần chi phí lớn; STEM chỉ phù hợp với nam giới.) đã tạo nên các rào cản, gây khó khăn trong việc triển khai chương trình này (Nguyễn Thanh Hải, 2019). Theo James (2006) trong một nghiên cứu về STEM đã chỉ ra 10 rào cản tới thành công của giáo dục STEM tại Mỹ bao gồm: việc chuẩn bị kém và thiếu nguồn cung cấp giáo viên STEM có trình độ; thiếu đầu tư phát triển chuyên môn cho giáo viên; việc kết nối với từng người học theo nhiều cách khác nhau chưa nhiều: các chương trình học sau giờ; các cuộc thi STEM; thiếu hỗ trợ của hệ thống trường học, các chính sách phát triển giáo dục STEM, kinh phí hỗ trợ; thiếu sự hợp tác nghiên cứu trên các lĩnh vực STEM; nguồn tài liệu, nội dung dạy học kém, phân phối nội dung kém và phương pháp đánh giá; điều kiện tồi tàn của các cơ sở thí nghiệm và phương tiện giảng dạy.
Trong đề tài nghiên cứu của Malcom (2016) đã chú ý đến các yếu tố ảnh hưởng đến việc học sinh theo học STEM đó là chất lượng giảng dạy, phân loại chính sách, trình tự khóa học, môi trường học tập, các nguồn lực hỗ trợ học sinh, các hoạt động ngoại khóa, nền tảng gia đình. Mỗi yếu tố có ảnh hưởng ít nhiều đến học sinh trong quá trình học tập STEM. Xuất phát từ thực tế đó tác giả đã quyết định chọn đề tài “Xây dựng thang đo nhằm đánh giá khó khăn của học sinh trung học cơ sở trong quá trình học tập STEM” với mong muốn có bộ công cụ để các nhà quản lý, giáo viên đánh giá mức độ khó khăn mà học sinh thường gặp trong quá trình học tập STEM, từ đó cả người dạy và người học có cách khắc phục các yếu tố đó, đẩy mạnh chương trình giáo dục STEM trong trường trung học. 2 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.
Mục đích nghiên cứu của đề tài Nghiên cứu này nhằm mục đích xây dựng được thang đo để người dạy, người học, quản lý giáo dục có thể đánh giá khó khăn của học sinh trung học cơ sở trong quá trình học tập theo hình thức STEM. Câu hỏi nghiên cứu Thang đo khó khăn trong học tập STEM của HS trung học cơ sở được xây dựng như thế nào và dựa trên cơ sở nào? Thang đo khó khăn trong học tập STEM có thể được áp dụng thực tế để đánh giá khó khăn tại một số trường THCS như thế nào? 4. Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu 4. Khách thể nghiên cứu 248 học sinh trung học cơ sở ở các trường có tiến hành dạy học STEM.
Đối tượng nghiên cứu Thang đo đánh giá khó khăn của học sinh THCS trong quá trình học tập STEM. Phƣơng pháp tiếp cận nghiên cứu 5. Phương pháp nghiên cứu lý luận Tác giả đọc và tổng hợp các tài liệu nghiên cứu khoa học trên thế giới và trong nước, cũng như tìm hiểu về thực trạng, các yếu tố gây khó khăn đối với học sinh THCS trong quá trình học tập và các thang đo đánh giá trong giáo dục. Từ đó xác định được cơ sở lý luận và khung lý thuyết cho vấn đề nghiên cứu.
Phương pháp phỏng vấn Tác giả phỏng vấn lấy ý kiến của các giáo viên về lĩnh vực giáo dục STEM và chuyên viên đo lường đánh giá về nội dung, cấu trúc của thang đo để điều chỉnh, bổ sung cho thang đo đánh giá, góp phần giúp chuyển hóa thang đo trước khi tiến hành khảo sát. Phương pháp bảng hỏi Nghiên cứu này sử dụng phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi, sử dụng bảng hỏi để thu thập, phân tích số liệu. 3 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Phương pháp thống kê toán học Nghiên cứu sử dụng các phép tính toán thống kê, phần mềm thống kê SPSS 22.0 để xử lý và phân tích dữ liệu từ kết quả nghiên cứu.
Phạm vi nghiên cứu Phạm vi nghiên cứu: Đề tài được tiến hành khảo sát với học sinh tại 06 trường trung học cơ sở có áp dụng chương trình giáo dục STEM trên địa bàn TP Hà Nội. Giới hạn thời gian nghiên cứu: trong 13 tháng từ tháng 12/2018 đến 12/2019. 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1.
Các nghiên cứu về khó khăn trong học tập Trong nghiên cứu của Eda (2016), nhóm tác giả xây dựng thang đo khó khăn ảnh hưởng tới hiệu quả học tập của HS với mẫu nghiên cứu là 316 HS trung học đang học tập tại các quận khác nhau của Ankara trong năm học 2014 – 2015. Kết quả nghiên cứu để chỉ ra các yếu tố gây rào cản đối với việc học tập hiệu quả của HS trung học đó là cảm xúc sợ hãi, tự điều chỉnh, sự hiệu quả, xấu hổ và căng thẳng, động lực, thiếu mục tiêu, môi trường học tập. Theo tác giả Kempa (1991), một số yếu tố gây ảnh hưởng tới quá trình học các môn khoa học tự nhiên xuất phát từ việc HS phải ghi nhớ một khối kiến thức trong một thời gian dài, cách xử lý thông tin của HS gây hạn chế trong khả năng ghi nhớ. Cùng với đó là phương pháp giảng dạy của GV không phù hợp với cách học của HS.
Sau nghiên cứu ông rút ra được nếu GV có phương pháp giảng dạy các môn khoa học thích hợp sẽ giúp HS ghi nhớ bài tốt hơn. Trong nghiên cứu của Kaniz (2015) về rào cản trong phương pháp dạy và học môn Toán học của HS khối trung học cơ sở, nhóm tác giả đã đưa ra 3 nhóm yếu tố khó khăn bao gồm: rào cản hệ thống (về nội dung của Toán học trong sách, tỉ lệ giáo viên ảnh hưởng với việc học Toán, quan điểm của HS về việc học thêm Toán), rào cản xã hội (sự yêu thích, thái độ học tập của HS đối với môn Toán, sự khuyến khích của bố mẹ trong việc học Toán), rào cản sư phạm (phương pháp giảng dạy của GV, sự hướng dẫn, giúp đỡ của GV trong quá trình HS học Toán). Kết quả nghiên cứu chỉ ra phương pháp giảng dạy của GV ảnh hưởng nhiều đến hiệu quả học tập của HS THCS trong môn Toán. Trong nghiên cứu về khó khăn trong hoạt động học tập của sinh viên, tác giả Dương Thị Kim Oanh (2013) đã đề cập để xác định được mức độ khó khăn tâm lý trong học tập của sinh viên cần tiến hành nghiên cứu về: (1) Nhận thức về hoạt 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com động học tập, biểu hiện ở động cơ học tập ảnh hưởng đến tính chủ động, tự giác trong học tập, nhận thức đúng về đối tượng học tập (kĩ năng, kĩ sảo, hệ thống kiến thức).
Việc hiểu mơ hồ, không rõ ràng, cụ thể có thể tạo nên những khó khăn tâm lý dẫn tới việc học lệch, học đối phó, thiếu tích cực. (2) Thái độ đối với hoạt động học tập: sự lo lắng, căng thẳng, sợ hãi, thờ ơ, chán nản, chống đối có thể tạo nên thái độ tiêu cực, trạng thái không thoải mái cho HS. Trong nghiên cứu trên 217 học sinh và 18 chuyên viên tư vấn tâm lý tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh của tác giải Lê Thị Xuân (2014) đã đưa ra thực trạng khó khăn trong tâm lý của học sinh trung học cơ sở. Phần lớn học sinh THCS của cả 4 khối lớp thường xuyên gặp khó khăn trong việc giao tiếp, ứng xử với mọi người xung quanh, khó khăn trong kiểm soát cảm xúc.
Tỉ lệ lớn học sinh lớp 7 nghiện game; học sinh lớp 9 thì áp lực học tập và thi cử là vấn đề thường xuyên gặp phải. Các nghiên cứu khó khăn trong quá trình học tập STEM Giáo dục STEM là một chủ đề được thế giới và Việt Nam quan tâm, có nhiều nghiên cứu khoa học về STEM được công bố.