Đặt vấn đề Hiện nay, trên phạm vi cả nước công tác quản lý sử dụng rừng phòng hộ đang còn nhiều bất cập, các cơ chế hưởng lợi từ rừng phòng hộ ở những địa phương khác nhau đều áp dụng theo những chính sách, quy định duy nhất đang bộc lộ những thực tế không hợp lý, hiệu quả. Hơn nữa, các chính sách về hưởng lợi từ rừng phòng hộ hiện nay như QĐ 178/2001/TTg và Thông tư 35/2011/ TT- BNNPTNT tạo rất ít cơ hội cải thiện đời sống mọi mặt của những hộ dân, cộng đồng là chủ rừng phòng hộ, vì gần như chưa có nguồn lợi khả dĩ nào mà họ được thực sự tiếp cận. Các chương trình, dự án quốc gia như 661, 147 dần dần kết thúc, có nghĩa rằng nguồn hỗ trợ tuy ít ỏi, duy nhất đối với những cộng đồng dân cư nghèo, sống gần như phụ thuộc vào rừng cũng không còn được tiếp tục duy trì. Những bất cập nêu trên là nguyên nhân chủ yếu của một thực tế là: rừng vẫn bị mất (kể cả rừng đặc dụng và rừng phòng hộ) hoặc suy thoái và người dân sống cận kề vẫn còn nhiều khó khăn về sinh kế.
Chi trả dịch vụ môi trường rừng được coi là một cơ hội cho người dân tăng thu nhập và tăng lựa chọn cho sinh kế bền vững, bên ngoài giá trị lâm sản hàng hóa của rừng. Ngoài ra, việc chi trả dịch vụ môi trường rừng còn nhằm đảm bảo tính toán đầy đủ những giá trị to lớn của rừng đóng góp vào tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế được thể hiện qua tác dụng nhiều mặt của rừng như bảo đảm nguồn nước, tích trữ các-bon, giảm khí thải nhà kính, vẻ đẹp cảnh quan, bảo vệ đất và giảm thiểu tác hại của thiên tai như hạn hán và lũ lụt. Mục tiêu của PFES tại Việt Nam là: bảo vệ diện tích rừng hiện có, nâng cao chất lượng rừng, gia tăng đóng góp của ngành lâm nghiệp vào nền kinh tế quốc dân, giảm nhẹ gánh nặng lên ngân sách Nhà nước cho việc đầu tư vào bảo vệ và phát triển rừng và đảm bảo an sinh xã hội của người làm nghề rừng. Tuy nhiên, đến nay vẫn chưa có những đánh giá và nghiên cứu toàn diện về 2 thực trạng triển khai PFES ở Việt Nam, đặc biệt là những cơ chế, phương thức, hình thức chi trả ở những địa phương có đặc thù khác nhau để dần hoàn thiện về chính sách chi trả dịch vụ môi trường.
Trong các dịch vụ môi trường đã được quy định, dịch vụ phòng hộ đầu nguồn (bảo vệ đất, hạn chế xói mòn và bồi lắng lòng hồ, lòng sông, lòng suối; điều tiết và duy trì nguồn nước cho sản xuất và xã hội) đã thu được một số thành tựu quan trọng, đồng thời cũng đang nỗ lực rút ra các bài học kinh nghiệm cho việc hoàn thiện cơ cấu tổ chức cho thực hiện PFES. Chi trả dịch vụ môi trường trực tiếp được áp dụng trong trường hợp bên sử dụng dịch vụ môi trường rừng có khả năng và điều kiện thực hiện việc trả tiền thẳng cho bên cung ứng dịch vụ môi trường rừng không cần thông qua tổ chức trung gian. Chi trả trực tiếp được thực hiện trên cơ sở hợp đồng thỏa thuận tự nguyện giữa bên sử dụng và bên cung ứng dịch vụ môi trường rừng phù hợp với quy định tại các Nghị định và Thông tư này và là hình thức chi trả có tính hiệu quả, khả năng bền vững cao nhất, nhưng cũng là hình thức khó xác lập nhất và gặp nhiều trở ngại trong việc xác định lượng chi trả, phương thức chi trả và quá trình đánh giá giám sát… Hiện nay, ở khu vực Vườn quốc gia Ba Bể, kể cả vùng lõi và vùng đệm, nguồn cung cấp nước cho sinh hoạt, sản xuất, đặc biệt là phục vụ du lịch sinh thái ở những khu vực thấp: mặt hồ, các thôn bản chuyên làm du lịch như Bó Lù, Pác Ngòi… , ruộng vườn xung quanh hồ phụ thuộc rất nhiều vào việc giữ được các khu rừng đầu nguồn ở các thôn bản vùng cao như Bản Duống và một số thôn vùng cao khác. Những hậu quả của việc mất rừng, suy thoái rừng, biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường đã và đang là mối quan tâm đặc biệt của các tổ chức, cá nhân đối với hệ sinh thái của Vườn quốc gia Ba Bể như bồi lắng tại Hồ Một (gần thôn Pác Ngòi, Bó Lù), nguồn nước không ổn định, đất bị xói mòn gần các thôn Đán Mẩy, Khâu Qua, Cốc Tộc… 3 Thôn Bản Duống thuộc xã Hoàng Trĩ, có vai trò rất quan trọng, đó là thôn vùng cao thượng nguồn của Hồ Ba Bể và các thôn, xã liên quan khác ở vùng dưới.
Các thôn bản vùng thấp, các cơ sở kinh doanh, dịch vụ có điều kiện phát triển du lịch như: trực tiếp cung cấp các dịch vụ du lịch như tham quan, nhà nghỉ, xuồng máy, thuyền độc mộc chở khách hay cung cấp lương thực, thực phẩm, hàng hóa cho khách du lịch và các nhà nghỉ phục vụ du lịch. Các hộ vùng thấp này có thu nhập ổn định, nhiều hộ có thu nhập cao, VQG Ba Bể cũng đang dần dần hoàn thiện các hoạt động bảo tồn và phát triển. Trong khi đó, các thôn vùng cao không có những lợi thế như vậy. Tuy nhiên, nếu các thôn vùng cao như Bản Duống không giữ được rừng (rừng phòng hộ và cả rừng sản xuất) thì không chỉ nguồn nước mà còn nhiều điệu kiện cần thiết khác để các thôn vùng thấp tồn tại và phát triển sẽ không được đảm bảo.
Một cơ chế chia sẽ lợi ích phù hợp về khai thác tài nguyên sinh thái giữa các thôn bản và các đơn vị kinh doanh dịch vụ ở hai vùng đó cần được nghiên cứu, triển khai áp dụng và sẽ có ý nghĩa thực tế quan trọng cho các trường hợp tương tự cũng như với mục tiêu mở rộng. Từ nhu cầu thực tế cấp bách trên, Dự án 3PAD, được sự phê duyệt của UBND tỉnh Bắc Kạn đã triển khai thí điểm một số phương án về Chi trả dịch vụ môi trường với hình thức gián tiếp (tại thôn Lẻo Keo, xã Quảng Khê, thôn To Đooc, xã Lạng San - Na Rỳ và thôn Khuổi Tuốn, xã Nghiên Loan- huyện Pác Nặm) và trực tiếp (tại thôn Bản Duống) nhằm giải quyết được yêu cầu của cả nhiều bên tham gia và từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm để dần mở rộng triển khai đến các thôn bản khác của vùng đệm VQG Ba Bể và các địa phương khác. Tại Bản Duống, phương án chi trả đã thực hiện được hơn hai năm, đã thực hiện chi trả được 3 lần, một số kết quả bước đầu đã thu nhận được. Tuy nhiên, để bước đầu đánh giá, kịp thời rút ra những bài học, ưu, nhược điểm để 4 bỗ khuyết cho các bước tiếp theo, cũng như có thể mở rộng sang các thôn khác, như thôn Nà Diếu… chẳng hạn, cần có những nghiên cứu, đánh giá một cách khoa học.
Đề tài “Đánh giá khả năng triển khai Chi trả dịch vụ môi trường rừng trực tiếp tại thôn Bản Duống, xã Hoàng Trĩ, huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn” xuất phát từ nhu cầu thực tế trên. Kết quả nghiên cứu nhằm bước đầu phục vụ cho việc khắc phục những bất cập, tồn tại và đóng góp những bài học kinh nghiệm cho quá trình hoàn thiện về phương án chi trả cũng như góp phần hoàn thiện chủ trương, chính sách của Đảng và Chính phủ về chi trả dịch vụ môi trường rừng, hướng tới quản lý sử dụng rừng và đất lâm nghiệp bền vững. Mục tiêu - Đánh giá được những kết quả bước đầu về thực hiện chi trả: cơ chế, tính tự nguyện, khả năng bền vững, khả năng mở rộng, các bất cập và hướng khắc phục. - Bước đầu đề xuất được các kiến nghị nhằm góp phần hoàn thiện cơ chế, chính sách chi trả DVMT.
Phạm vi nghiên cứu Thôn Bản Duống xã Hoàng Trĩ và các thôn liên quan như Bó Lù, Pác Ngòi (xã Nam Mẫu); các hộ làm dịch vụ xuồng máy, các nhà nghỉ phục vụ du lịch, VQG Ba Bể. Các hoạt động chi trả DVMTR của dự án 3PAD. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 4. Ý nghĩa khoa học Đóng góp vào bài học kinh nghiệm trong các giải pháp quản lý rừng bền vững, bổ sung vào cơ sở dữ liệu về chi trả DVMT vì đây là lĩnh vực mới mẻ ở Việt Nam, đặc biệt là hình thức chi trả trực tiếp.
Ý nghĩa thực tiễn Là một trong những bài học kinh nghiệm thực tế về chi trả DVMT có thể vận dụng, áp dụng một cách thích hợp ở các địa phương, các dự án có điều kiện tương tự, đặc biệt là việc vận động các chủ thể khác như HTX xuồng, nhà nghỉ tự nguyện đóng góp cho quỹ bảo vệ phát triển rừng tại Bản Duống, các đối tượng này chưa được quy định trong Nghị định 99/2010/NĐ-CP; Là cơ sở cho các hình thức chi trả tiềm năng khác như chi trả gián tiếp, qua trung gian… tham khảo, học hỏi. 6 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU VÀ CÁC VẤN ĐỀ LIÊN QUAN 1. Cơ sở khoa học đề tài Chi trả dịch vụ môi trường (Payments for Environment Services - PES) hay chi trả dịch vụ hệ sinh thái (Payments for Ecosystem Services) là công cụ kinh tế, sử dụng để những người được hưởng lợi từ các dịch vụ hệ sinh thái sẽ chi trả cho những người tham gia duy trì, bảo vệ và phát triển các chức năng của hệ sinh thái đó. Một hệ sinh thái phát triển tốt với đầy đủ chức năng có thể cung cấp một loạt các dịch vụ thiết yếu cho xã hội và con người, mang lại rất nhiều lợi ích, những lợi ích này được gọi là dịch vụ hệ sinh thái hay dịch vụ môi trường.
Theo Costanza và cs. (1997) [22] các dịch vụ môi trường là "những lợi ích của các hệ sinh thái rừng cung cấp cho hộ gia đình, cộng đồng và nền kinh tế". Cụ thể hơn, chức năng của hệ sinh thái rất đa dạng như môi trường sống, các đặc tính sinh học hoặc hệ thống, hoặc các quá trình của hệ sinh thái. Các loại sản phẩm từ hệ sinh thái (chẳng hạn như thực phẩm) và dịch vụ (chẳng hạn như đồng hóa chất thải) thể hiện qua lợi ích mà các cộng đồng người thu được, trực tiếp hay gián tiếp, từ các chức năng hệ sinh thái.
Theo Wunder và cs. (2005) [23] Chi trả dịch vụ môi trường được hiểu là cam kết tham gia hợp đồng trên cơ sở tự nguyện, có ràng buộc về mặt pháp lý.