Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong hệ thống sản xuất nông nghiệp tại Việt Nam cũng như trên thế giới, ngành chăn nuôi lợn giữ vai trò trọng yếu trong việc cung cấp nguồn thực phẩm giàu đạm cho nhu cầu xã hội. Tuy nhiên, năng suất và chất lượng sản phẩm chăn nuôi lợn trong nước thời gian qua vẫn còn nhiều hạn chế. Nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ điều kiện tự nhiên, trình độ kỹ thuật chăn nuôi chưa đồng bộ và đặc biệt là chất lượng đàn giống chưa cao. Để tối ưu hóa hiệu quả kinh tế của các trang trại chăn nuôi lợn nái ngoại sinh sản, con giống là yếu tố then chốt, quyết định trực tiếp đến quy mô đàn và năng suất xuất chuồng.

Trên thực tế, các giống lợn ngoại nhập nuôi tại Việt Nam chủ yếu phục vụ nhân đàn sản xuất thương phẩm, trong khi công tác kiểm tra, theo dõi và đánh giá năng suất sinh sản ở cấp giống ông bà tại các cơ sở nhân giống chưa được thực hiện đầy đủ và có hệ thống. Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn nhằm chọn lọc, củng cố và nâng cao phẩm cấp đàn nái sinh sản, đề tài "Đánh giá khả năng sản xuất của đàn lợn nái ngoại nuôi tại trại giống lợn Tân Thái, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên" được thực hiện bởi sinh viên Nguyễn Trường Sơn (chuyên ngành Chăn nuôi Thú y, Trường Đại học Nông Lâm – Đại học Thái Nguyên), dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Trần Văn Thăng.

Văn bản khóa luận xác định các mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể như sau:

  1. Đánh giá khả năng sản xuất của đàn lợn nái ngoại và hiệu quả kinh tế của chăn nuôi lợn nái ngoại sinh sản tại trại giống lợn Tân Thái, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên.
  2. Đề xuất biện pháp kỹ thuật phù hợp với điều kiện thực tế nhằm nâng cao năng suất sinh sản cho đàn lợn nái ngoại của trại.

Về ý nghĩa nghiên cứu, đề tài cung cấp cơ sở khoa học phục vụ công tác chọn lọc, nhân giống đàn lợn ông bà nhằm tạo ra các dòng lợn bố mẹ có năng suất sinh sản cao, đồng thời mang ý nghĩa thực tiễn giúp trang trại đánh giá đúng thực trạng đàn giống, từ đó định hướng phát triển quy mô sản xuất phù hợp.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của khóa luận được xác định cụ thể:

  • Đối tượng nghiên cứu: Hai dòng lợn nái ngoại cấp ông bà gồm VCN11 (lai giữa đực VCN01 dòng Yorkshire tổng hợp và cái VCN02 dòng Landrace tổng hợp) và VCN12 (lai giữa đực VCN02 dòng Landrace tổng hợp và cái VCN05 dòng Meishan tổng hợp), được phối với đực VCN03 (dòng Duroc tổng hợp) để sản xuất nái bố mẹ VCN21 và VCN22.
  • Phạm vi không gian: Trại giống lợn Tân Thái, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên.
  • Phạm vi thời gian: Nghiên cứu được triển khai theo dõi liên tục từ ngày 13/07/2014 đến ngày 30/11/2014.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận thuộc loại hình nghiên cứu thực nghiệm và khảo nghiệm chăn nuôi sinh sản chuyên ngành Chăn nuôi Thú y, kết hợp giữa cơ sở lý thuyết sinh lý học động vật và phương pháp thống kê sinh vật học thực nghiệm.

Khung cơ sở lý thuyết của nghiên cứu dựa trên các nguyên lý sinh lý học sinh sản và di truyền số lượng ở gia súc:

  • Đặc điểm giống học: Phân tích đặc tính ngoại hình, khả năng tăng trọng, tiêu tốn thức ăn và phẩm chất thân thịt của hai giống lợn cao sản Yorkshire (Anh) và Landrace (Đan Mạch).
  • Sinh lý sinh dục lợn nái: Khái niệm và quy luật của sự thành thục về tính (xuất hiện phản xạ tính dục, rụng trứng ở lợn cái lúc 180–210 ngày tuổi) và sự thành thục về thể vóc (hoàn thiện khung xương và khối lượng lúc 7–9 tháng tuổi); chu kỳ tính dục trung bình 19–20 ngày chia làm 4 giai đoạn (trước động dục, động dục, sau động dục và yên tĩnh); cơ chế điều hòa nội tiết qua trục dưới đồi (Hypothalamus tiết kích tố giải phóng FRF) – tuyến yên (tiết FSH) – buồng trứng (tiết estrogen).
  • Sinh lý phát triển phôi thai: Quá trình mang thai 113–116 ngày được chia làm giai đoạn phôi thai (1–22 ngày), giai đoạn tiền thai (23–39 ngày) và giai đoạn bào thai (40–114 ngày); phân kỳ chăm sóc gồm chửa kỳ I (1–84 ngày) và chửa kỳ II (84–114 ngày).
  • Hệ thống nhân tố cấu thành và ảnh hưởng đến năng suất: Theo mô hình phân tích của Hughes và Varley (1980), các chỉ tiêu năng suất sinh sản chịu ảnh hưởng tương tác bởi yếu tố di truyền (hệ số di truyền thấp $h^2 = 0,065 - 0,15$) và các yếu tố ngoại cảnh (chế độ dinh dưỡng, chuồng trại, thời tiết mùa vụ, kỹ thuật phối giống và tuổi lứa đẻ).
  • Giới thiệu nguồn gốc dòng giống: Hai dòng lợn VCN11 và VCN12 có nguồn gốc từ 5 dòng lợn cụ kỵ thuộc tập đoàn PIC (Vương quốc Anh) nhập nội vào Việt Nam năm 1997, nuôi giữ tại Trạm nghiên cứu giống lợn hạt nhân Tam Điệp thuộc Trung tâm nghiên cứu lợn Thụy Phương – Viện Chăn nuôi, đổi tên từ dòng C1050 và C1230 từ năm 2007.

Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm và thu thập dữ liệu:

  • Theo dõi trực tiếp: Theo dõi trên 60 cá thể lợn nái hậu bị, lợn nái kiểm định và lợn nái cơ bản chia đều cho hai dòng VCN11 ($n=30$) và VCN12 ($n=30$). Theo dõi trực tiếp 60 ổ đẻ của hai dòng nái. Trực tiếp cùng kỹ thuật viên và công nhân ghi nhận ngày động dục, ngày phối giống, ngày đẻ, số con sinh ra, số con sống đến 24 giờ, số con nuôi và cai sữa. Khối lượng lợn con được cân trực tiếp bằng cân đồng hồ và cân điện tử tại các mốc: sơ sinh, 7 ngày tuổi, 14 ngày tuổi và lúc cai sữa (21–22 ngày tuổi).
  • Theo dõi gián tiếp: Thu thập và đối chiếu dữ liệu lý lịch giống, năng suất sinh sản qua hệ thống sổ sách ghi chép và cơ sở dữ liệu quản lý trên máy tính của trại giống Tân Thái.
  • Phương pháp xử lý số liệu: Dữ liệu thu thập được phân tích theo phương pháp thống kê sinh vật học của Nguyễn Văn Thiện (2008), xử lý trên phần mềm thống kê Minitab phiên bản 14 nhằm xác định số trung bình cộng ($\bar{X}$), sai số trung bình ($m_{\bar{x}}$), độ lệch chuẩn ($s$), hệ số biến thiên ($C_v%$) và kiểm định sai khác thống kê ($P$).

Nội dung chính theo từng chương

Phần 1: Mở đầu

Tác giả nêu rõ tầm quan trọng của ngành chăn nuôi lợn đối với an ninh thực phẩm, phân tích thực trạng năng suất đàn nái ngoại nhập nội tại các trang trại miền Bắc Việt Nam. Phần mở đầu khẳng định sự cần thiết của việc kiểm tra năng suất sinh sản trên đàn nái cấp ông bà, xác định mục đích nghiên cứu, nhiệm vụ đề tài cùng ý nghĩa khoa học và thực tiễn đối với hệ thống sản xuất giống tại tỉnh Thái Nguyên.

Phần 2: Tổng quan tài liệu

Chương này tổng hợp toàn diện các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế liên quan đến đề tài:

  • Phân tích đặc điểm ngoại hình và khả năng sinh sản của các giống Yorkshire, Landrace và hai dòng ông bà VCN11, VCN12.
  • Hệ thống hóa cơ sở sinh lý học về tuổi thành thục tính dục, chu kỳ động dục, quá trình phát triển phôi thai 3 giai đoạn và các nhân tố cấu thành sức sản xuất hàng năm của lợn nái.
  • Trình bày hệ thống công thức tính toán các chỉ tiêu sinh sản (tuổi động dục lần đầu, tuổi phối giống lần đầu, tuổi đẻ lứa đầu, số con sơ sinh/ổ, số con cai sữa/nái/năm, khoảng cách lứa đẻ) và chỉ tiêu sức sản xuất (khối lượng sơ sinh, khối lượng cai sữa, khả năng tiết sữa tính qua khối lượng đàn con ở 21 ngày tuổi).
  • Tổng hợp các kết quả nghiên cứu trong nước của Đặng Vũ Bình (1995, 1999, 2002), Nguyễn Thiện (1996, 1998), Phùng Thị Vân (2000, 2001) và các nghiên cứu quốc tế của Jose Bento (2006), White (1991), Rothschild và Bidanel (1998).

Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Trình bày chi tiết sơ đồ lai tạo hai dòng VCN11 ($\male \text{VCN01} \times \female \text{VCN02}$) và VCN12 ($\male \text{VCN02} \times \female \text{VCN05}$). Quy định rõ ràng các chỉ tiêu kỹ thuật cần thu thập về sinh lý sinh dục, sức sinh sản của nái kiểm định, nái cơ bản, khối lượng sinh trưởng qua các tuần tuổi của đàn lợn con, quy trình cân đo trực tiếp tại trại giống Tân Thái và phương pháp phân tích thống kê trên phần mềm Minitab 14.

Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Nội dung cốt lõi của khóa luận được phân tích chi tiết qua 4 mảng dữ liệu thực nghiệm:

  • Chỉ tiêu sinh lý sinh dục đàn nái hậu bị: Dòng VCN12 có tuổi động dục lần đầu (169,33 ngày) và tuổi đẻ lứa đầu (340,80 ngày) sớm hơn có ý nghĩa thống kê ($P < 0,001$) so với dòng VCN11 (lần lượt là 180,83 ngày và 358,30 ngày).
  • Khả năng sinh sản của nái kiểm định và nái cơ bản: Số con sơ sinh/ổ ở nái kiểm định VCN12 đạt 10,87 con, cao hơn VCN11 (10,13 con) với $P < 0,05$. Ở nái cơ bản, số con sơ sinh/ổ của VCN12 đạt 11,60 con so với 10,93 con của VCN11. Tỷ lệ sống đến cai sữa của cả hai dòng đều duy trì ở mức cao, đạt trên 92% – 94%.
  • Khả năng sản xuất của đàn con theo mẹ: Khối lượng sơ sinh/con của lợn con từ nái VCN11 đạt 1,40–1,42 kg/con, cao hơn lợn con từ nái VCN12 (1,36–1,37 kg/con). Tuy nhiên, khối lượng cai sữa toàn ổ ở 22 ngày tuổi của nái cơ bản VCN12 đạt 71,06 kg, vượt trội so với dòng VCN11 (67,70 kg) với $P < 0,001$.
  • Hiệu quả kinh tế: Hạch toán chi tiết chi phí thức ăn, thú y và doanh thu xuất bán lợn con giống cho thấy dòng VCN12 đem lại lợi nhuận cao hơn dòng VCN11 nhờ số lượng con giống xuất bán/nái/năm đạt 19 con (so với 17 con của VCN11).

Phần 5: Kết luận và đề nghị

Tóm tắt các chỉ số sinh lý, sinh sản và sản xuất đạt được của hai dòng lợn VCN11 và VCN12, chỉ ra tồn tại về mặt thời gian theo dõi thực nghiệm chưa đủ dài để đánh giá trọn vẹn toàn bộ các lứa đẻ trong đời khai thác kinh tế của đàn nái.


Kết quả và đóng góp

Khóa luận cung cấp hệ thống số liệu thực nghiệm đầy đủ, phản ánh khả năng thích nghi và sức sản xuất của hai dòng nái ngoại ông bà VCN11 và VCN12 trong điều kiện chăn nuôi chuồng trại tại tỉnh Thái Nguyên.

Bảng tổng hợp các chỉ tiêu sinh lý sinh dục của đàn nái hậu bị ($n = 30$ con/dòng)

Chỉ tiêu theo dõi Dòng VCN11 ($\bar{X} \pm m_{\bar{x}}$) Dòng VCN12 ($\bar{X} \pm m_{\bar{x}}$) Mức ý nghĩa ($P$)
Tuổi động dục lần đầu (ngày) $180,83 \pm 0,54$ $169,33 \pm 0,65$ $P < 0,001$
Tuổi phối giống lần đầu (ngày) $244,43 \pm 0,36$ $226,33 \pm 0,34$ $P < 0,001$
Chu kỳ động dục (ngày) $21,20 \pm 0,16$ $19,00 \pm 0,15$ $P < 0,001$
Khối lượng phối giống lần đầu (kg) $132,37 \pm 0,34$ $128,07 \pm 0,37$ $P < 0,001$
Thời gian mang thai (ngày) $113,83 \pm 0,07$ $114,47 \pm 0,14$ $P > 0,05$
Tuổi đẻ lứa đầu (ngày) $358,30 \pm 0,35$ $340,80 \pm 0,43$ $P < 0,001$

Bảng tổng hợp khả năng sinh sản của nái kiểm định và nái cơ bản ($n = 30$ con/nhóm)

Chỉ tiêu theo dõi Nái kiểm định VCN11 Nái kiểm định VCN12 Nái cơ bản VCN11 Nái cơ bản VCN12
Số con sơ sinh/ổ (con) $10,13 \pm 0,19$ $10,87 \pm 0,27$ $10,93 \pm 0,30$ $11,60 \pm 0,16$
Số con sống đến 24h/ổ (con) $9,93 \pm 0,17$ $10,33 \pm 0,21$ $10,60 \pm 0,25$ $11,13 \pm 0,16$
Số con để nuôi/ổ (con) $9,93 \pm 0,17$ $10,33 \pm 0,09$ $10,60 \pm 0,11$ $11,13 \pm 0,06$
Số con cai sữa/ổ (con) $9,37 \pm 0,12$ $9,80 \pm 0,15$ $9,90 \pm 0,19$ $10,26 \pm 0,19$
Tỷ lệ nuôi sống đến cai sữa (%) 94,36 94,86 93,40 92,18
Thời gian phối có chửa sau cai sữa (ngày) $14,10 \pm 0,18$ $11,50 \pm 0,18$ $9,60 \pm 0,17$ $9,77 \pm 0,18$

Bảng tổng hợp khả năng sinh trưởng của đàn lợn con theo mẹ

Chỉ tiêu theo dõi Nái kiểm định VCN11 Nái kiểm định VCN12 Nái cơ bản VCN11 Nái cơ bản VCN12
Khối lượng sơ sinh/con (kg) $1,42 \pm 0,01$ $1,36 \pm 0,01$ $1,40 \pm 0,01$ $1,37 \pm 0,01$
Khối lượng sơ sinh toàn ổ (kg) $14,40 \pm 0,19$ $14,11 \pm 0,29$ $14,83 \pm 0,26$ $15,89 \pm 0,24$
Khối lượng 7 ngày tuổi toàn ổ (kg) $29,47 \pm 0,52$ $27,96 \pm 0,27$ $31,22 \pm 0,59$ $32,24 \pm 0,41$
Khối lượng 7 ngày tuổi/con (kg) $3,02 \pm 0,04$ $2,71 \pm 0,01$ $3,04 \pm 0,03$ $2,98 \pm 0,02$
Khối lượng 14 ngày tuổi toàn ổ (kg) $42,02 \pm 0,64$ $48,40 \pm 0,83$ $48,08 \pm 0,88$ $51,06 \pm 0,96$
Khối lượng 14 ngày tuổi/con (kg) $4,49 \pm 0,03$ $4,93 \pm 0,02$ $5,01 \pm 0,03$ $4,97 \pm 0,02$
Khối lượng cai sữa toàn ổ (kg) $65,59 \pm 0,92$ $66,30 \pm 0,99$ $67,70 \pm 1,26$ $71,06 \pm 1,26$
Khối lượng cai sữa trung bình/con (kg) $7,00 \pm 0,02$ $6,77 \pm 0,03$ $7,05 \pm 0,03$ $6,92 \pm 0,02$

Bảng hạch toán hiệu quả kinh tế của 1 lợn nái cơ bản/năm

Chỉ tiêu kinh tế Đơn vị tính Dòng VCN11 Dòng VCN12
Số lợn con sơ sinh/nái/năm Con 27,03 28,60
Số lợn con xuất bán/nái/năm (lợn cái giống) Con 17 19
Khối lượng lợn con xuất bán/nái/năm Kg 119,85 128,63
Đơn giá xuất bán lợn con Đồng/kg 243.000 243.000
Tổng thu tiền bán lợn con của 1 nái/năm Đồng 29.090.000 Cao hơn VCN11
Chi phí thức ăn cho 1 lợn nái/năm Đồng Ít hơn VCN12 101.560 đ 15.560.000
Chi phí thuốc thú y cho 1 nái/năm Đồng 250.000 250.000
Chi phí khác cho 1 nái/năm Đồng 200.000 200.000
Tổng chi phí cho 1 lợn nái/năm Đồng 15.000.000 15.560.000
Lợi nhuận thu được từ 1 lợn nái/năm Đồng 13.600.000 Cao hơn VCN11

Về mặt đóng góp khoa học và thực tiễn, tác giả đã chứng minh dòng lợn VCN12 mang ưu thế lai vượt trội về đặc tính sinh sản sớm (thành thục sớm hơn 11,5 ngày so với VCN11) và đẻ sai con (nhiều hơn 0,67 – 0,74 con sơ sinh/ổ), kế thừa từ dòng mẹ Meishan. Trong khi đó, dòng VCN11 có ưu thế về khối lượng sơ sinh và khối lượng cai sữa của từng cá thể con. Cả hai dòng đều có khả năng thích nghi tốt, tỷ lệ nuôi sống cao trong điều kiện chăm sóc của trại giống lợn Tân Thái.


Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận nêu rõ hạn chế chính của công trình:

  • Thời gian nghiên cứu và theo dõi thực tế tại trang trại còn ngắn (khoảng 4,5 tháng, từ giữa tháng 7 đến cuối tháng 11 năm 2014), do đó chưa thể theo dõi và đánh giá toàn diện các chỉ tiêu sinh sản qua nhiều lứa đẻ liên tiếp trong toàn bộ chu kỳ khai thác kinh tế của đàn nái.

Dựa trên phạm vi và kết quả đạt được, hướng nghiên cứu mở rộng cần thực hiện gồm:

  • Tiếp tục theo dõi đàn nái ở các lứa đẻ tiếp theo (từ lứa 3 đến lứa 6–7) để đánh giá độ bền sản xuất và tuổi thọ sinh sản.
  • Đánh giá sâu hơn về năng suất sinh trưởng, hiệu quả sử dụng thức ăn và chất lượng thân thịt của thế hệ con thương phẩm sinh ra từ công thức lai phối đực Duroc VCN03 với hai dòng nái này.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu tham khảo có giá trị chuyên môn đối với:

  • Sinh viên, học viên cao học chuyên ngành Chăn nuôi, Thú y, Chăn nuôi Thú y đang thực hiện các đề tài nghiên cứu về sinh sản gia súc và khảo nghiệm giống lợn ngoại.
  • Cán bộ kỹ thuật, quản lý trang trại chăn nuôi lợn giống trong việc tham khảo các chỉ tiêu kỹ thuật sinh lý sinh dục chuẩn, định mức tăng trọng lợn con theo mẹ và phương pháp hạch toán kinh tế chi phí - doanh thu cho đàn nái sinh sản.
  • Các nội dung có giá trị tham khảo cao nhất gồm: phương pháp bố trí theo dõi các giai đoạn sinh trưởng của phôi và đàn con, bảng tham số thống kê chi tiết về 2 dòng VCN11 và VCN12, cùng quy trình tính toán xử lý dữ liệu sinh vật học bằng phần mềm Minitab 14.

Câu hỏi thường gặp

1. Dòng lợn nái ông bà VCN11 và VCN12 có công thức lai tạo như thế nào?
Dòng VCN11 được tạo ra từ phép lai giữa đực VCN01 (dòng Yorkshire tổng hợp) và cái VCN02 (dòng Landrace tổng hợp). Dòng VCN12 được tạo ra từ phép lai giữa đực VCN02 (dòng Landrace tổng hợp) và cái VCN05 (dòng Meishan tổng hợp). Cả hai dòng sau đó được cho phối với đực VCN03 (Duroc tổng hợp) để tạo ra nái bố mẹ VCN21 và VCN22.

2. Tuổi động dục và tuổi đẻ lứa đầu của hai dòng nái VCN11 và VCN12 khác nhau như thế nào?
Dòng VCN12 có tuổi động dục lần đầu trung bình là 169,33 ngày và tuổi đẻ lứa đầu là 340,80 ngày, sớm hơn đáng kể so với dòng VCN11 (tuổi động dục lần đầu là 180,83 ngày và tuổi đẻ lứa đầu là 358,30 ngày) với mức sai khác có ý nghĩa thống kê rất cao ($P < 0,001$).

3. Khả năng sinh sản của nái cơ bản giữa hai dòng VCN11 và VCN12 đạt các mức cụ thể nào?
Ở đàn nái cơ bản, dòng VCN12 đạt số con sơ sinh/ổ là 11,60 con, số con sống đến 24 giờ là 11,13 con và số con cai sữa là 10,26 con. Các chỉ tiêu này ở dòng VCN11 lần lượt là 10,93 con sơ sinh/ổ, 10,60 con sống đến 24 giờ và 9,90 con cai sữa/ổ. Tỷ lệ sống đến khi cai sữa của VCN11 đạt 93,40% và VCN12 đạt 92,18%.

4. Khối lượng cai sữa toàn ổ của đàn con ở hai dòng nái cơ bản chênh lệch ra sao?
Khối lượng cai sữa toàn ổ sau 22 ngày nuôi con của nái cơ bản dòng VCN12 đạt 71,06 kg, cao hơn đáng kể so với dòng VCN11 đạt 67,70 kg. Sự chênh lệch này có ý nghĩa thống kê ($P < 0,001$), chủ yếu do số lượng con cai sữa trên mỗi ổ của dòng VCN12 nhiều hơn.

5. Vì sao dòng lợn nái VCN12 mang lại hiệu quả kinh tế và lợi nhuận trên một nái/năm cao hơn dòng VCN11?
Mặc dù chi phí thức ăn của dòng VCN12 cao hơn dòng VCN11 là 101.560 đồng/năm, nhưng dòng VCN12 có số lợn con xuất bán giống đạt 19 con/nái/năm với tổng khối lượng xuất bán 128,63 kg, cao hơn so với 17 con và 119,85 kg của dòng VCN11, từ đó mang lại tổng doanh thu và lợi nhuận thuần cao hơn.


Kết luận

Khóa luận của tác giả Nguyễn Trường Sơn đã thực hiện đánh giá toàn diện các chỉ tiêu sinh lý sinh dục, sức sinh sản và sức sản xuất của hai dòng lợn nái ngoại cấp ông bà VCN11 và VCN12 tại trại giống lợn Tân Thái, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên. Kết quả cho thấy cả hai dòng đều có khả năng thích nghi và năng suất sinh sản tốt, trong đó dòng VCN12 thể hiện ưu thế rõ rệt về độ thành thục sớm, số con sinh ra trên ổ và khối lượng cai sữa toàn ổ nhờ thừa hưởng đặc tính di truyền từ giống Meishan. Nghiên cứu cung cấp nguồn dẫn liệu thực nghiệm tin cậy cho công tác chọn lọc, quản lý giống lợn nái ngoại và xây dựng quy trình kỹ thuật chăn nuôi sinh sản đạt hiệu quả kinh tế cao tại địa phương.