Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong ngành công nghệ thực phẩm hiện đại, xu hướng tiêu dùng đang dịch chuyển mạnh mẽ sang các dòng đồ uống lên men tự nhiên có nguồn gốc thực vật và tích hợp các đặc tính chức năng có lợi cho sức khỏe. Kombucha là loại đồ uống lên men truyền thống được tạo thành từ quá trình lên men dung dịch trà đường thông qua hoạt động cộng sinh của quần thể vi sinh vật gồm nấm men và vi khuẩn acid acetic, gọi chung là SCOBY (Symbiotic Culture of Bacteria and Yeast). Quá trình trao đổi chất của hệ vi sinh vật này chuyển hóa đường và các hợp chất trong trà thành nhiều hợp chất sinh học có giá trị như acid hữu cơ (acetic, gluconic, glucuronic), polyphenol, vitamin nhóm B, enzyme và chất chống oxy hóa tự nhiên.

Song song với việc sử dụng nguyên liệu truyền thống là trà đen hoặc trà xanh, nhu cầu đa dạng hóa nguồn nguyên liệu nhằm nâng cao giá trị sinh học và phát triển sản phẩm mới đang được quan tâm. Đặc biệt, việc định hướng sử dụng phụ phẩm nông nghiệp giàu hoạt chất sinh học được xem là giải pháp phù hợp với định hướng kinh tế tuần hoàn và phát triển bền vững. Bã nho (grape pomace) là phụ phẩm rắn chủ yếu phát sinh sau quá trình ép lấy dịch trong công nghiệp chế biến nước nho và sản xuất rượu vang, chiếm khoảng 20–30% tổng khối lượng quả đầu vào. Theo thống kê của Tổ chức Quốc tế về Nho và Rượu vang (OIV), sản lượng bã nho toàn cầu phát sinh hằng năm ước tính từ 6 đến 9 triệu tấn. Tại Việt Nam, vùng nguyên liệu nho tập trung chủ yếu ở tỉnh Ninh Thuận với diện tích canh tác trên 1.000 ha và sản lượng khoảng 26.000 tấn/năm. Phần lớn lượng bã nho hiện nay vẫn bị thải bỏ hoặc chỉ dùng làm thức ăn chăn nuôi, dẫn đến lãng phí nguồn hợp chất sinh học có giá trị cao (như polyphenol, flavonoid, anthocyanin, chất xơ) đồng thời tiềm ẩn nguy cơ gây ô nhiễm môi trường do gia tăng tải lượng COD, BOD và phát thải khí nhà kính.

Tuy nhiên, việc bổ sung bã nho vào môi trường lên men kombucha đối mặt với thách thức kỹ thuật: nồng độ polyphenol quá cao từ bã nho có khả năng ức chế sinh trưởng của hệ vi sinh vật SCOBY, làm thay đổi động học lên men và cân bằng vi sinh. Khóa luận tốt nghiệp mã số 2025-21116089 với đề tài "Đánh giá khả năng lên men của kombucha có bổ sung bã nho" được thực hiện nhằm giải quyết bài toán khoa học và thực tiễn này.

Mục tiêu nghiên cứu: Đánh giá ảnh hưởng của một số điều kiện lên men đến các biến đổi hóa lý và cảm quan của kombucha có bổ sung bã nho, qua đó đề xuất điều kiện lên men phù hợp nhằm tạo ra sản phẩm có chất lượng ổn định và giá trị cảm quan cao.

Nhiệm vụ và nội dung nghiên cứu cụ thể:

  1. Khảo sát ảnh hưởng của tỷ lệ trà đến quá trình lên men kombucha và các chỉ tiêu chất lượng sản phẩm.
  2. Khảo sát ảnh hưởng của nồng độ đường bổ sung đến quá trình lên men kombucha.
  3. Khảo sát ảnh hưởng của các dạng nguồn giống gồm tỷ lệ dịch mồi (starter), tỷ lệ màng SCOBY và tỷ lệ kết hợp SCOBY – dịch mồi đến quá trình lên men.
  4. Khảo sát ảnh hưởng của bã nho lên quá trình lên men theo hai phương thức: lên men 1 giai đoạn (bổ sung bã nho ngay từ đầu) và lên men 2 giai đoạn (bổ sung bã nho vào giai đoạn lên men phụ).
  5. Khảo sát ảnh hưởng của tỷ lệ bã nho bổ sung đến quá trình lên men, các chỉ tiêu hóa lý, vi sinh, hoạt tính sinh học và chất lượng cảm quan của sản phẩm trong giai đoạn lên men và bảo ôn 7 ngày.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Hệ đồ uống kombucha có bổ sung bã nho.
  • Phạm vi nghiên cứu: Các thí nghiệm thực nghiệm, phân tích hóa lý, vi sinh và đánh giá cảm quan được triển khai tại phòng thí nghiệm Bộ môn Công nghệ Thực phẩm, Khoa Công nghệ Hóa học và Thực phẩm, Trường Đại học Công nghệ Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh (hoàn thành vào tháng 01/2026).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khung lý thuyết và cơ chế chuyển hóa sinh học

Quá trình lên men kombucha diễn ra nhờ mối quan hệ cộng sinh giữa nấm men (Saccharomyces, Zygosaccharomyces, Brettanomyces,...) và vi khuẩn acid acetic (AAB; chủ yếu thuộc các chi Komagataeibacter, Gluconobacter, Acetobacter), cùng một số vi khuẩn acid lactic (LAB). Con đường trao đổi chất chính diễn ra theo chuỗi phản ứng liên hoàn:

  • Đầu tiên, nấm men tiết enzyme invertase ngoại bào để thủy phân đường disaccharide (saccharose) thành hai monosaccharide là glucose và fructose.
  • Các monosaccharide này đi vào con đường đường phân (glycolysis) để tạo ra pyruvate, sau đó nấm men khử carboxyl hóa và khử hydro để sinh tổng hợp ethanol và giải phóng khí $CO_2$.
  • Tiếp theo, vi khuẩn acid acetic sử dụng ethanol làm cơ chất trong điều kiện hiếu khí để oxy hóa thành acid acetic thông qua các enzyme alcohol dehydrogenase và aldehyde dehydrogenase, làm môi trường giảm pH và tạo vị chua đặc trưng.
  • Song song đó, một phần glucose được vi khuẩn AAB oxy hóa trực tiếp thành acid gluconic và acid glucuronic. Đặc biệt, các chủng Komagataeibacter sử dụng glucose để tổng hợp mạng lưới sợi nanocellulose ngoại bào, hình thành lớp màng sinh học nổi (pellicle hay màng SCOBY) trên bề mặt pha lỏng, giúp cố định tế bào vi sinh vật và tăng cường tiếp xúc với oxy không khí.

Nguyên liệu nghiên cứu

  • Trà đen: Trà đen Lộc Phát có nguồn gốc từ lá trà (Camellia sinensis) trồng tại Lâm Đồng, được chế biến bằng phương pháp oxy hóa hoàn toàn, chứa hàm lượng polyphenol ổn định (theaflavins, thearubigins) và caffeine nhằm cung cấp dinh dưỡng cho SCOBY.
  • Đường: Saccharose tinh luyện thương mại của Công ty Cổ phần Đường Biên Hòa, đạt tiêu chuẩn TCVN 6958:2001 và CODEX STAN 212-1999.
  • Bã nho: Thu nhận trực tiếp tại các cơ sở chế biến nho tại tỉnh Ninh Thuận ngay sau công đoạn ép cơ học, được làm sạch tạp chất (cuống, lá) trước khi phối trộn.
  • Nguồn giống: Màng SCOBY và dịch mồi kombucha (starter tea) đạt chuẩn độ chua và mật độ vi sinh vật hoạt động ổn định.

Phương pháp bố trí thí nghiệm

Nghiên cứu được thiết kế qua 5 thí nghiệm tuần tự:

Thí nghiệm Yếu tố khảo sát Mức khảo sát Thông số cố định / Quy cách
TN1 Tỷ lệ trà đen (w/v) 0,4; 0,6; 0,8; 1,0; 1,2% (0,8; 1,2; 1,6; 2,0; 2,4 g/200 mL) Đường 20 g, SCOBY 10 g, starter 20 mL, thể tích 200 mL; ủ 7 ngày
TN2 Tỷ lệ đường (w/v) 6; 8; 10; 12; 14% (12; 16; 20; 24; 28 g/200 mL) Trà chọn từ TN1, SCOBY 10 g, starter 20 mL; ủ 7 ngày
TN3 Dạng nguồn giống - Starter đơn lẻ: 4, 6, 8, 10, 12% (v/v)
- SCOBY đơn lẻ: 3, 5, 7, 9, 11% (w/v)
- Phối hợp SCOBY-Starter: 3-12%; 5-10%; 7-8%; 9-6%; 11-4%
Trà từ TN1, đường từ TN2; thể tích 200 mL; ủ 7 ngày
TN4 Phương thức bổ sung bã nho - 1 giai đoạn: Bổ sung 4% bã nho ngay từ ngày 0
- 2 giai đoạn: Lên men sơ cấp 3 ngày, bổ sung 4% bã nho lên men tiếp
Trà từ TN1, đường từ TN2, giống từ TN3; tỷ lệ bã nho 4% (8 g/200 mL)
TN5 Hàm lượng bã nho bổ sung 4, 6, 8, 10, 12% (w/v) (8, 12, 16, 20, 24 g/200 mL) Lên men theo phương thức chọn từ TN4; theo dõi lên men và bảo ôn 7 ngày

Phương pháp phân tích và xử lý số liệu

  • Chỉ tiêu hóa lý:
    • Độ pH: Đo bằng máy đo pH cầm tay Hanna HI98103.
    • Chất khô hòa tan: Xác định độ Brix bằng khúc xạ kế quang năng Atago.
    • Độ acid tổng (TA): Xác định theo tiêu chuẩn TCVN 4589:1988 bằng phương pháp chuẩn độ trung hòa dung dịch mẫu pha loãng với dung dịch NaOH 0,1 N, sử dụng chỉ thị phenolphthalein đến khi xuất hiện màu hồng nhạt bền.
    • Hàm lượng đường khử và đường tổng: Phân tích bằng phương pháp so màu sử dụng thuốc thử acid 3,5-dinitrosalicylic (DNS) và phenol - acid sulfuric ($H_2SO_4$).
  • Thành phần hóa học của bã nho: Độ ẩm đo bằng tủ sấy đối lưu Memmert; tro tổng xác định bằng lò nung Nabertherm; protein thô phân tích bằng hệ thống phá mẫu và chưng cất đạm Kjeldahl Behrotest; lipid tổng xác định bằng phương pháp trích ly dung môi qua hệ thống Soxhlet.
  • Hoạt tính sinh học: Tổng hàm lượng polyphenol (TPC) xác định bằng phương pháp Folin–Ciocalteu, tính theo đương lượng acid gallic (mg GAE/g); khả năng dọn gốc tự do xác định bằng thử nghiệm DPPH (2,2-diphenyl-1-picrylhydrazyl) so với chất chuẩn Trolox trên máy đo quang phổ UV–Vis UH5300.
  • Chỉ tiêu vi sinh: Định lượng tổng số vi sinh vật hiếu khí trên môi trường Plate Count Agar (PCA) và nấm men trên môi trường Potato Dextrose Agar (PDA).
  • Đánh giá cảm quan: Đánh giá mức độ thị hiếu bằng phép thử cho điểm thị hiếu của người thử nghiệm.
  • Xử lý số liệu: Phân tích phương sai (ANOVA) để so sánh ý nghĩa thống kê giữa các nghiệm thức.

Nội dung chính theo từng chương

CHƯƠNG 1: MỞ ĐẦU

Chương này thiết lập cơ sở khoa học và thực tiễn của đề tài. Tác giả nêu rõ sự gia tăng nhu cầu tiêu dùng đồ uống lên men bảo vệ sức khỏe và cơ hội tận dụng hàng triệu tấn phụ phẩm bã nho từ công nghiệp rượu vang nhằm giảm thiểu ô nhiễm môi trường. Đề tài xác định rõ đối tượng là kombucha bổ sung bã nho, thực hiện tại Đại học Công nghệ Kỹ thuật TP.HCM với 5 nội dung nghiên cứu thực nghiệm. Ý nghĩa khoa học tập trung vào việc làm rõ động học lên men và khả năng tương thích của hệ vi sinh vật SCOBY khi có mặt phụ phẩm giàu polyphenol; ý nghĩa thực tiễn hướng tới đa dạng hóa đồ uống chức năng và gia tăng giá trị chuỗi sản xuất nông sản Ninh Thuận. Bố cục toàn khóa luận được chia làm 5 chương tiêu chuẩn.

CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN

Chương tổng quan cung cấp cơ sở tài liệu học thuật toàn diện về:

  1. Tổng quan về kombucha: Lịch sử xuất phát từ vùng Đông Bắc Trung Quốc (Mãn Châu) khoảng năm 220 TCN, lan sang Nhật Bản vào thế kỷ thứ 5 gắn với tên gọi bác sĩ Kombu, phát triển sang Nga, Đông Âu và bùng nổ toàn cầu từ thập niên 1990. Phân loại kombucha theo 3 tiêu chí: nồng độ cồn (truyền thống, ít cồn/không cồn, độ cồn cao); nguyên liệu bổ sung (truyền thống, hương vị, chức năng); phương pháp xử lý (dạng thô chứa vi sinh vật sống hoặc dạng tiệt trùng). Giá trị sinh học và dinh dưỡng gồm acid acetic, gluconic, glucuronic, vitamin nhóm B (B1, B2, B6, B12), vitamin C, enzyme (amylase, protease), khoáng vi lượng (Zn, Cu, Fe, Mn) và hợp chất D-saccharic-1,4-lactone (DSL) hỗ trợ bảo vệ gan và kháng khuẩn.
  2. Các yếu tố công nghệ lên men: Phân tích ảnh hưởng của pH ban đầu (thường kiểm soát ở mức 4,5 bằng dịch mồi để chống nhiễm tạp), thời gian lên men (thông thường 7–14 ngày), nhiệt độ môi trường (tối ưu từ 20–30°C) và nồng độ đường cơ chất.
  3. Hệ vi sinh SCOBY và trao đổi chất: Chi tiết mối quan hệ cộng sinh giữa nấm men (Saccharomyces, Zygosaccharomyces, Brettanomyces) và vi khuẩn AAB (Komagataeibacter, Acetobacter). Mô tả sơ đồ chuyển hóa đường thành ethanol, chuyển hóa ethanol thành acid acetic, con đường oxy hóa glucose thành acid gluconic và cơ chế sinh tổng hợp màng nanocellulose.
  4. Tổng quan về bã nho và các nghiên cứu ứng dụng: Dữ liệu về diện tích trồng nho Ninh Thuận (>1.000 ha, 26.000 tấn/năm) và tổng lượng phát sinh bã nho toàn cầu. Bảng tổng hợp thành phần hóa học của bã nho tính theo chất khô (Dry Basis - DB):
Thành phần hóa học bã nho Giá trị trong tài liệu Ghi chú kỹ thuật Nguồn trích dẫn
Độ ẩm (Wet Basis - WB) 50 – 70% Bã tươi, cấu trúc xốp chứa nước tự do Lopes và cộng sự, 2025
Chất xơ tổng (TDF) 50 – 65% DB Chủ yếu là chất xơ không hòa tan Guardianelli và cộng sự, 2025
Protein thô 10 – 15% DB Phân bố ở vỏ và hạt, giàu acid amin Rodrigues và cộng sự, 2014
Lipid tổng 2 – 12% DB Nguồn gốc chủ yếu từ hạt nho Antonić và cộng sự, 2020
Tro (khoáng tổng) 3 – 6% DB Giàu K, Ca, Mg, P Guardianelli và cộng sự, 2025
Carbohydrate khả dụng 5 – 15% DB Đường sót và pectin Rodrigues và cộng sự, 2014
Polyphenol tổng (TPC) 5 – 10 mg GAE/g DB Dao động theo giống và kỹ thuật ép Lopes và cộng sự, 2025
Anthocyanin tổng 600 – 2650 mg/kg DB Nồng độ tập trung cao ở vỏ nho đỏ Guardianelli và cộng sự, 2025
Catechin 295 – 1613 mg/kg DB Flavan-3-ols tập trung trong hạt và vỏ Guardianelli và cộng sự, 2025
Epicatechin 230 – 1229 mg/kg DB Tập trung trong hạt và vỏ Guardianelli và cộng sự, 2025
Gallic acid 76 – 131 mg/kg DB Có trong vỏ và hạt Rodrigues và cộng sự, 2014
Caffeic acid dẫn xuất 38 – 506 mg/kg DB Phân bố ở vỏ Lopes và cộng sự, 2025
Resveratrol 0,8 mg/kg DB Stilben đặc trưng ở vỏ và cuống Antonić và cộng sự, 2020

Tổng hợp các nghiên cứu ứng dụng bã nho trong bánh mì (Tolve và cs., 2021), mì pasta (Gerardi và cs., 2023), sữa chua (López-Astorga và cs., 2025), thịt chế biến (Petrón và cs., 2025), kombucha bột (Linhares và cs., 2025) và kombucha bã nho quốc tế (Barakat và cs., 2024). Tại Việt Nam, tác giả điểm qua các nghiên cứu kombucha atiso (Trần Thị Kim Nhung & Nguyễn Thúy Hương, 2017) và trà nõn tôm (Lưu Minh Châu và cs., 2024 tại ĐH Cần Thơ), từ đó chỉ ra khoảng trống nghiên cứu về việc khai thác bã nho làm cơ chất bổ sung cho kombucha trong nước.

CHƯƠNG 3: NGUYÊN LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Chương 3 trình bày chi tiết danh mục hóa chất (NaOH, ethanol, phenolphthalein, Folin-Ciocalteu, DPPH, DNS, D-glucose, môi trường PCA, PDA,...), thiết bị đo lường và quy trình sản xuất thực nghiệm:

  1. Quy trình chế biến: Ủ 1,6 g trà đen với 180 mL nước sôi (85–95°C) trong 15 phút; lọc tách bã trà; để nguội về 30°C; phối trộn đường saccharose; định mức bằng nước đun sôi để nguội thành 200 mL; bổ sung dịch mồi và màng SCOBY; đậy miệng hũ bằng khăn xô sạch và tiến hành lên men hiếu khí ở nhiệt độ phòng (25–30°C).
  2. Thao tác bổ sung bã nho: Bã nho được bổ sung ở các tỷ lệ xác định theo thiết kế thí nghiệm (ở ngày đầu đối với lên men 1 giai đoạn hoặc sau 3 ngày lên men sơ cấp đối với lên men 2 giai đoạn), tiếp tục ủ thứ cấp trong 3 ngày, sau đó lọc tách bã và SCOBY để thu nhận dịch kombucha thành phẩm.
  3. Quy trình phân tích: Trình bày chi tiết nguyên lý đo pH bằng điện cực Hanna, đo Brix bằng khúc xạ quang học, chuẩn độ acid tổng bằng NaOH 0,1 N quy về acid acetic theo TCVN 4589:1988, phương pháp so màu DNS/phenol-acid sulfuric đo hàm lượng đường khử và đường tổng, thử nghiệm Folin-Ciocalteu và DPPH xác định hoạt tính chống oxy hóa, quy trình đổ đĩa đếm khuẩn lạc vi sinh vật hiếu khí và nấm men, cùng các phương pháp kiểm tra thành phần hóa lý của nguyên liệu bã nho (ẩm, tro, đạm Kjeldahl, béo Soxhlet).

CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN

Chương này trình bày toàn bộ số liệu thực nghiệm và bàn luận cơ chế:

  • Đặc tính nguyên liệu bã nho: Trình bày kết quả phân tích độ ẩm, hàm lượng protein, lipid, tro của mẫu bã nho Ninh Thuận dùng trong nghiên cứu, làm cơ sở giải thích nguồn dinh dưỡng cung cấp cho hệ vi sinh.
  • Khảo sát các thông số nền:
    • Ảnh hưởng của tỷ lệ trà đen (0,4–1,2%): Tỷ lệ trà quyết định hàm lượng polyphenol và khoáng hòa tan ban đầu, tác động trực tiếp đến tốc độ giảm pH, sự tăng hàm lượng acid tổng và điểm đánh giá cảm quan thị hiếu.
    • Ảnh hưởng của tỷ lệ đường bổ sung (6–14%): Xác định động học tiêu hao đường, sự suy giảm độ Brix và tích lũy đường khử; nồng độ đường tối ưu đảm bảo áp suất thẩm thấu phù hợp cho nấm men sinh ethanol mà không ức chế tế bào.
    • Ảnh hưởng của nguồn giống: So sánh hiệu quả giữa starter đơn lẻ (4–12%), SCOBY đơn lẻ (3–11%) và các công thức kết hợp SCOBY-starter (3-12% đến 11-4%). Sự kết hợp cân đối giữa màng SCOBY và dịch mồi giúp hệ lên men đạt tốc độ giảm pH nhanh nhất và tạo hương vị hài hòa.
  • So sánh phương thức lên men 1 giai đoạn và 2 giai đoạn: Đánh giá sự khác biệt về động học biến đổi pH, độ acid tổng, nồng độ chất khô hòa tan và hàm lượng đường tổng/đường khử giữa việc bổ sung 4% bã nho ngay từ ngày 0 so với bổ sung sau 3 ngày lên men sơ cấp. Kết quả chỉ ra phương thức bổ sung phù hợp giúp bảo toàn cấu trúc màng SCOBY và nâng cao điểm cảm quan thị hiếu.
  • Ảnh hưởng của hàm lượng bã nho bổ sung (4–12%) và quá trình bảo ôn 7 ngày:
    • Biến đổi hóa lý: Theo dõi sự suy giảm liên tục của pH và gia tăng độ acid tổng (TA); nồng độ chất khô hòa tan (Brix), đường tổng và đường khử giảm dần do vi sinh vật tiếp tục tiêu thụ cơ chất. Quá trình bảo ôn 7 ngày giúp hệ ổn định hóa lý và tăng độ chua dịu.
    • Vi sinh vật: Mật độ vi sinh vật hiếu khí và nấm men tại ngày đầu và ngày cuối cho thấy hệ vi sinh vật SCOBY thích nghi tốt với môi trường có bã nho, duy trì mật độ tế bào sống ổn định.
    • Hoạt tính sinh học: Hàm lượng polyphenol tổng (TPC) và khả năng kháng oxy hóa dọn gốc tự do (DPPH) của các mẫu kombucha bổ sung bã nho tăng vượt trội so với mẫu đối chứng không có bã nho, tỷ lệ bã nho càng cao thì TPC và giá trị DPPH càng tăng.
    • Cảm quan thị hiếu: Bã nho đem lại màu sắc ánh đỏ tự nhiên (từ anthocyanin) và hương thơm đặc trưng của quả nho, kết hợp vị chua ngọt lên men tạo nên sản phẩm có điểm thị hiếu cao.

CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

Chương kết thúc tóm lược các phát hiện cốt lõi: khẳng định tính khả thi của việc sử dụng bã nho làm nguyên liệu bổ sung cho kombucha, xác định các thông số công nghệ thích hợp từ tỷ lệ nguyên liệu nền đến hàm lượng bã nho và thời gian bảo ôn; đồng thời kiến nghị mở rộng nghiên cứu sang quy mô bán công nghiệp và phân tích sâu các hợp chất chức năng đặc thù.


Kết quả và đóng góp

Kết quả chính được trích xuất từ văn bản

  1. Động học lên men hóa lý: Trong suốt chu trình lên men và giai đoạn bảo ôn 7 ngày, hệ kombucha ghi nhận xu hướng biến đổi nhất quán: giá trị pH giảm dần trong khi độ acid tổng (TA) tăng lên tương ứng do vi khuẩn acid acetic chuyển hóa ethanol thành các acid hữu cơ. Ngược lại, nồng độ chất khô hòa tan (độ Brix), hàm lượng đường tổng và hàm lượng đường khử giảm mạnh, phản ánh hiệu suất tiêu thụ saccharose của nấm men để duy trì năng lượng và sinh tổng hợp ethanol.
  2. Khả năng thích nghi của hệ vi sinh vật: Số liệu mật độ vi sinh vật hiếu khí và nấm men tại ngày đầu và ngày cuối cho thấy quần thể SCOBY không bị tiêu diệt hay ức chế nghiêm trọng bởi các hợp chất kháng khuẩn tự nhiên trong bã nho; hệ vi sinh duy trì mật độ ổn định, đảm bảo quá trình lên men sơ cấp và thứ cấp diễn ra thuận lợi.
  3. Nâng cao hoạt tính sinh học: Bổ sung bã nho làm gia tăng rõ rệt tổng hàm lượng polyphenol (TPC) và hoạt tính chống oxy hóa khử gốc tự do DPPH so với mẫu đối chứng trà kombucha truyền thống. Các hợp chất phenolic từ vỏ và hạt nho (anthocyanin, catechin, epicatechin, acid gallic) được trích ly và biến đổi sinh học vào pha lỏng.
  4. Cải thiện giá trị cảm quan: Bã nho tạo cho sản phẩm màu sắc đỏ hồng tự nhiên, bổ sung hương thơm trái cây đặc trưng hòa quyện cùng vị chua thanh và gas nhẹ tự nhiên của kombucha, được hội đồng đánh giá cảm quan chấp nhận với điểm thị hiếu cao.

Giải pháp và kiến nghị của tác giả

  • Ứng dụng quy trình công nghệ lên men kombucha có bổ sung phụ phẩm bã nho từ Ninh Thuận, kết hợp giai đoạn bảo ôn 7 ngày nhằm ổn định cấu trúc hương vị và các chỉ tiêu hóa lý.
  • Kiểm soát chặt chẽ tỷ lệ phối trộn giữa dịch mồi (starter) và màng SCOBY nhằm tạo môi trường acid ban đầu tối ưu, ngăn ngừa vi sinh vật ngoại lai gây hư hỏng.

Đóng góp học thuật và thực tiễn

  • Về mặt khoa học: Công trình cung cấp hệ thống dữ liệu thực nghiệm đầu tiên tại Việt Nam về động học sinh hóa, sự biến đổi đường - acid và khả năng thích nghi của hệ vi sinh vật cộng sinh SCOBY trong môi trường dịch trà có bổ sung bã nho tươi.
  • Về mặt thực tiễn: Khóa luận chứng minh tính khả thi trong việc tái sử dụng bã nho – phụ phẩm chiếm 20–30% khối lượng chế biến nho tại Ninh Thuận – thành nguồn nguyên liệu giàu polyphenol để chế biến đồ uống chức năng, góp phần giảm thiểu ô nhiễm hữu cơ và gia tăng giá trị kinh tế theo định hướng kinh tế tuần hoàn.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Dựa trên nội dung và phạm vi nghiên cứu được công bố trong văn bản, các hạn chế và định hướng phát triển của đề tài bao gồm:

  • Quy mô thực nghiệm: Nghiên cứu được giới hạn ở quy mô phòng thí nghiệm với thể tích lên men 200 mL trong các hũ thủy tinh tĩnh. Cần nghiên cứu mở rộng quy mô pilot và quy mô bán công nghiệp, khảo sát chế độ khuấy đảo hoặc kiểm soát thông khí nhằm tối ưu hóa hoạt động của vi khuẩn hiếu khí AAB.
  • Thời gian theo dõi độ ổn định: Thử nghiệm theo dõi chất lượng sau lên men mới dừng lại ở giai đoạn bảo ôn 7 ngày. Cần có các nghiên cứu dài hạn hơn về thời hạn sử dụng (shelf-life), sự biến đổi chất lượng cảm quan và hiện tượng tiếp tục lên men sinh khí/lắng cặn trong quá trình lưu thông phân phối.
  • Định danh chi tiết acid hữu cơ: Nghiên cứu mới dừng ở việc chuẩn độ độ acid tổng (TA). Cần bổ sung phương pháp sắc ký lỏng hiệu năng cao (HPLC) để định lượng riêng biệt từng acid hữu cơ quan trọng như acid acetic, acid gluconic, acid glucuronic và hợp chất D-saccharic-1,4-lactone (DSL).
  • Phương pháp đánh giá cảm quan: Đánh giá cảm quan trong đề tài mới triển khai ở mức độ thị hiếu người thử nghiệm; cần áp dụng phương pháp mô tả định lượng (QDA) với hội đồng người thử đã qua huấn luyện chuyên sâu để xây dựng hồ sơ cảm quan chi tiết.

Giá trị tham khảo

Tài liệu khóa luận tốt nghiệp này có giá trị tham khảo thiết thực cho các đối tượng và định hướng nghiên cứu sau:

  • Sinh viên và học viên ngành Công nghệ Thực phẩm, Công nghệ Sinh học: Là tài liệu tham khảo chuẩn mực về cấu trúc bố trí thí nghiệm thực phẩm lên men, từ khảo sát môi trường nền (trà, đường, giống) đến đánh giá nguyên liệu bổ sung và theo dõi quá trình bảo ôn.
  • Người nghiên cứu về đồ uống chức năng và kinh tế tuần hoàn: Cung cấp quy trình trích ly và tận dụng hoạt chất sinh học từ phụ phẩm chế biến nông nghiệp (bã nho, bã trái cây), giải quyết hài hòa giữa yếu tố công nghệ và bảo vệ môi trường.
  • Phần nội dung đáng tham khảo nhất:
    1. Bảng số liệu chi tiết về thành phần sinh hóa của bã nho (chất xơ, lipid hạt nho, hàm lượng catechin, anthocyanin, resveratrol) tại Chương 2.
    2. Quy trình thiết kế thí nghiệm so sánh phương thức lên men 1 giai đoạn và 2 giai đoạn tại Mục 3.4.4.
    3. Phương pháp phân tích các chỉ tiêu hóa lý, vi sinh và hoạt tính chống oxy hóa (DPPH, Folin-Ciocalteu) được mô tả chi tiết tại Chương 3.

Câu hỏi thường gặp

1. Nguồn bã nho sử dụng trong nghiên cứu được thu nhận từ đâu và xử lý ban đầu như thế nào?

Bã nho được thu nhận trực tiếp từ các cơ sở chế biến nho tại tỉnh Ninh Thuận – địa phương chiếm khoảng 90% diện tích trồng nho của cả nước với sản lượng khoảng 26.000 tấn/năm. Để hạn chế tối đa quá trình oxy hóa các hợp chất polyphenol nhạy cảm và ngăn ngừa sự phát triển của vi sinh vật không mong muốn, bã nho được thu gom ngay sau công đoạn ép cơ học, sau đó được loại bỏ các tạp chất cơ học như cuống lớn, lá và làm sạch sơ bộ nhằm đảm bảo độ đồng nhất trước khi phối trộn vào môi trường lên men.

2. Hệ vi sinh vật SCOBY thực hiện con đường trao đổi chất như thế nào trong quá trình lên men kombucha?

Quá trình trao đổi chất diễn ra theo mối quan hệ cộng sinh tương hỗ giữa nấm men và vi khuẩn acid acetic (AAB):

  • Nấm men tiết enzyme invertase để thủy phân saccharose thành glucose và fructose, sau đó lên men qua con đường đường phân tạo ra ethanol và giải phóng khí $CO_2$.
  • Vi khuẩn acid acetic (chủ yếu là Komagataeibacter, Acetobacter) sử dụng ethanol sinh ra làm cơ chất để oxy hóa hiếu khí thành acid acetic, đồng thời chuyển hóa một phần glucose thành acid gluconic, làm giảm pH dung dịch và tạo vị chua đặc trưng.
  • Ngoài ra, các chủng Komagataeibacter còn sử dụng glucose để tổng hợp mạng lưới nanocellulose ngoại bào, tạo thành lớp màng sinh học nổi cố định vi sinh vật trên bề mặt.

3. Thí nghiệm 4 so sánh hai phương thức lên men 1 giai đoạn và 2 giai đoạn được thiết kế khác nhau ra sao?

Thí nghiệm 4 sử dụng cùng tỷ lệ bã nho là 4% (w/v) (tương đương 8 g/200 mL dịch trà đường) nhưng khác biệt về thời điểm bổ sung:

  • Lên men 1 giai đoạn: Bổ sung toàn bộ 4% bã nho ngay từ ngày đầu tiên (ngày 0) cùng với màng SCOBY và dịch mồi vào dịch trà đường, tiến hành lên men liên tục trong 7 ngày.
  • Lên men 2 giai đoạn: Dịch trà đường phối trộn SCOBY và dịch mồi được lên men sơ cấp trong 3 ngày đầu không có bã nho; sau 3 ngày mới bổ sung 4% bã nho vào để tiếp tục quá trình lên men thứ cấp.

4. Thành phần sinh hóa đặc trưng của bã nho (tính theo chất khô - DB) được ghi nhận trong nghiên cứu gồm những chỉ tiêu nào?

Theo số liệu tổng hợp trong Chương 2 của đề tài, bã nho tính theo chất khô chứa: chất xơ tổng (TDF) chiếm 50–65%; protein thô 10–15%; lipid tổng 2–12% (chủ yếu nằm ở hạt nho); tro khoáng 3–6% (giàu K, Ca, Mg, P); polyphenol tổng (TPC) đạt 5–10 mg GAE/g chất khô. Các hợp chất polyphenol đặc trưng gồm: anthocyanin tổng (600–2650 mg/kg DB), catechin (295–1613 mg/kg DB), epicatechin (230–1229 mg/kg DB), acid gallic (76–131 mg/kg DB), dẫn xuất caffeic acid (38–506 mg/kg DB) và resveratrol (khoảng 0,8 mg/kg DB).

5. Sự biến đổi của các chỉ tiêu hóa lý chính (pH, TA, Brix, đường) trong quá trình lên men và bảo ôn 7 ngày diễn ra theo quy luật nào?

Trong suốt quá trình lên men và giai đoạn bảo ôn 7 ngày, giá trị pH của dịch kombucha giảm đều đặn trong khi hàm lượng acid tổng (TA) tăng liên tục do hoạt động oxy hóa ethanol thành acid hữu cơ của vi khuẩn acid acetic. Ngược lại, nồng độ chất khô hòa tan (độ Brix), hàm lượng đường tổng và hàm lượng đường khử đều có xu hướng giảm dần do nấm men liên tục tiêu thụ nguồn carbon saccharose để phục vụ sinh trưởng và chuyển hóa thành cồn.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Trần Ngọc Phương Ngân và Nguyễn Thị Minh Ý đã đánh giá toàn diện khả năng thích nghi và động học lên men của hệ vi sinh vật SCOBY khi bổ sung phụ phẩm bã nho từ vùng nguyên liệu Ninh Thuận. Kết quả nghiên cứu chứng minh việc bổ sung bã nho không chỉ duy trì sự ổn định của các chỉ tiêu hóa lý và mật độ vi sinh vật mà còn làm gia tăng đáng kể hàm lượng polyphenol tổng và hoạt tính chống oxy hóa DPPH so với sản phẩm truyền thống. Công trình cung cấp cơ sở khoa học và quy trình thực nghiệm tin cậy cho việc phát triển các dòng đồ uống kombucha chức năng, đồng thời mở ra giải pháp gia tăng giá trị kinh tế và giảm thiểu ô nhiễm môi trường cho ngành chế biến nho tại Việt Nam.