CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1. Đặc điểm chung của cuống rốn. Sự hình thành và vai trò của cuống rốn. Sau khi trứng đã thụ tinh thành công và tạo thành hợp tử, hợp tử sẽ phân chia thành hai phần.
Một phần sẽ phát triển thành thai nhi trong tử cung. Một phần sẽ trở thành bánh nhau. Khi thai nhi dần trưởng thành, dây rốn là sự liên kết của hai phần này với nhau. Khi bào thai đã được 5 tuần tuổi, lúc này dây rốn đang dần được hình thành.
Một đầu dây rốn kết nối với bụng của thai nhi, một đầu kia sẽ gắn kết với bánh nhau [28]. Trên thực tế, dây rốn còn giúp hình thành bánh nhau và gắn kết với thành tử cung. Nó cho phép các chất dinh dưỡng và oxy vận chuyển từ mẹ sang thai nhi, đồng thời thải các chất thừa và máu thiếu oxy từ thai nhi qua mẹ. Vai trò vô cùng quan trọng của dây rốn là đảm bảo máu không bị pha trộn, giúp thai nhi sống sót và tăng trưởng cũng như tạo ra hormone hCG giúp duy trì một thai kỳ khỏe mạnh.
Khi bé con chào đời, dây rốn sẽ được bác sĩ cắt đi, phần còn lại sẽ khô và rụng sau vài ngày [28]. Cấu tạo của cuống rốn. Cấu trúc của dây rốn gồm 3 mạch máu: 2 động mạch và 1 tĩnh mạch và được bao bọc bởi một lớp bảo vệ được gọi là Wharton’s Jelly. Thông thường, dây rốn có khuynh hướng cuộc lại như lò xo để em bé dễ dàng tự do di chuyển.
Kiểu cuộn lò xo của dây thường tự hình thành vào tuần thứ 9 thai kì và thường theo hướng ngược chiều kim đồng hồ [22]. 4 Luận văn thạc sĩ Nguyễn Trung Kiên Hình 1.1: Mô tả cấu trúc dây rốn gồm ba mạch máu được bao bọc bởi lớp Wharton’s Jelly. Bình thường, dây rốn có đường kính khoảng 1-2 cm và có thể dài đến 50 – 60cm bao gồm hai lớp mô cơ, với lớp ngoài cùng trơn láng và lớp trong chứa một lớp dịch nhầy được gọi là Wharton’s jelly chứa các tế bào gốc thành cuống rốn. Có 3 mạch máu chính nằm trong cuống rốn: 2 động mạch và 1 tĩnh mạch.
Tĩnh mạch mang máu giàu oxy đến thai nhi và động mạch mang máu nghèo oxy ra khỏi thai nhi [17]. Dây rốn kết nối với bụng thai nhi, mạch máu chia thành hai nhánh. Một nhánh đổ về tĩnh mạch gan và nhánh còn lại đổ vào tĩnh mạch chủ ở tim thai nhi. Cả hai sẽ hình thành vòng tuần hoàn giữa thai nhi và nhau thai ở người mẹ [8].
Trong một vài trường hợp hiếm, dây rốn có thể phát triển không thích hợp, ví dụ như dây rốn quấn quanh cổ, tay và chân em bé trong quá trình mang thai hay khi lâm bồn. Đặc biệt, với thai song sinh, điều này có thể càng nguy hiểm hơn vì hai thai nhi cùng nằm trong một bọc ối [23]. Sau khi em bé sinh ra các mạch máu của dây tự đóng lại. Trước tiên, các động mạch đóng lại nhờ cơ ở động mạch dày hơn.
Cơ chế này giúp ngăn ngừa mất máu từ em 5 Luận văn thạc sĩ Nguyễn Trung Kiên bé đến nhau thai. Tĩnh mạch rốn sẽ đóng muộn hơn một chút khoảng từ 15 giây đến khoảng 3 hoặc 4 phút sau [13]. Do đó, khuynh hướng hiện nay đề cập đến việc kẹp cắt dây rốn trễ hơn sẽ giúp em bé nhận thêm được lượng máu và sắt. Vì dây rốn không có thần kinh cảm giác chi phối nên khi cắt dây rốn sau khi sinh không gây đau cho em bé.
Sau khi dây rốn rụng đi, sẽ hình thành lỗ rốn tồn tại trên bụng suốt đời. Những bất thường về dây rốn có thể được phát hiện qua siêu âm. Vì thế, bác sĩ có thể kiểm tra chức năng của dây rốn và can thiệp kịp thời. Đặc điểm của dây rốn và mạch máu cuống rốn.
Đặc điểm của cuống rốn. Dây rốn là cuống kết nối thai nhi đang phát triển với rau thai. Dây rốn phát triển từ túi noãn hoàng vào tuần thứ 5 của sự phát triển thai nhi và là nơi cung cấp chất dinh dưỡng cho thai nhi thay cho túi noãn hoàng [22]. Thời kỳ mang thai dây rốn trung bình dài từ 50 – 60 cm và đường kính khoảng 2 cm [17].
Dây rốn chứa ba mạch máu, một tĩnh mạch và hai động mạch, cuộn quanh tĩnh mạch theo cấu hình xoắn ốc [8]. Tĩnh mạch rau thai cung cấp cho thai nhi máu giàu oxy và dinh dưỡng. Các động mạch đưa máu đã khử oxy dinh dưỡng trở lại rau thai. Ba mạch máu được cách ly với một chất gelatin gọi là thạch Wharton, bảo vệ các mạch này và ngăn chặn lực nén cơ học giữa chúng [23].
Dây rốn được kết nối với thai nhi ở vùng bụng, sau khi sinh trở thành rốn. Khi ở trong bào thai, tĩnh mạch của dây rốn chia thành hai nhánh, một nhánh nối với tĩnh mạch gan, dẫn máu đến gan và nhánh thứ hai đến tĩnh mạch chủ ở tim thai nhi. Động mạch dây rốn phân nhánh từ động mạch chậu trong của thai nhi, là động mạch chính ở vùng chậu [13]. Rau thai là cơ quan kết nối thai nhi đang phát triển thông qua dây rốn với thành tử cung của mẹ thực hiện các chức năng dinh dưỡng, hô hấp và bài tiết.
Rau thai bắt đầu phát triển trong quá trình phôi nang làm tổ vào nội mạc tử cung của mẹ và phát triển trong suốt thai kỳ. Về mặt giải phẫu, rau thai có màu hạt dẻ sẫm và hình tròn phẳng, đường kính trung bình khoảng 20 cm và dày 2,5 cm khi kết thúc thai kỳ. Rau thai được chia thành hai phần, phần của thai nhi và phần của mẹ. Phần của thai nhi bao gồm các lông nhung hợp nhất từ màng đệm để tối đa hóa vùng tiếp xúc với 6 Luận văn thạc sĩ Nguyễn Trung Kiên máu mẹ.
Phần của mẹ chứa không gian xen kẽ, là không gian giữa các nhung mao của thai nhi và các mạch máu của mẹ. Các “bức tường” mong manh của nhung mao cho phép máu của thai nhi hấp thụ các chất dinh dưỡng và oxy từ máu của mẹ và loại bỏ các chất thải vào đó mà hai dòng máu không bị lẫn vào nhau [12, 15]. Cấu trúc mạch máu cuống rốn. Thông thường dây rốn có một tĩnh mạch và 2 động mạch (Hình 1.
Một tĩnh mạch dây rốn thứ hai đã bị tiêu biến ở tháng thứ hai của thời kỳ bào thai. Trong một số ít trường hợp (1%) chỉ có một động mạch dây rốn hoặc 2 động mạch này hợp lưu lại với nhau cũng đã được báo cáo trong một số nghiên cứu. Đường kính trung bình động mạch tăng từ 1,2 ± 0,4 mm ở tuần thứ 16 đến 4,2 ± 0,4 mm ở thời điểm sinh. Đối với tĩnh mạch, đường kính trung bình đạt 2,0 ± 0,6 mm ở thời điểm 16 tuần và tăng tên 8,2 ± 0,8 mm ở thời điểm sinh [17].
Hệ thống mạch máu dây rốn có nhiều điểm khác biệt so với hệ thống mạch máu còn lại trong cơ thể. Lớp tế bào nội mạc của cả động và tĩnh mạch dây rốn cực kỳ giàu các bào quan và do đó tạo ra sự khác biệt về mặt cấu trúc so với lớp nội mạc của các mạch máu khác. Mặc dù có sự khác biệt về mặt cấu trúc lớp nội mạc nhưng tế bào nội mạc từ tĩnh mạch dây rốn thường được sử dụng trong nuôi cấy tế bào. Tế bào nội mạch mạch máu dây rốn thường vượt qua màng nên để tạo liên kết với lớp tế bào cơ từ đó hình thành hệ thống nội mạc - cơ mạch máu.
Động mạch dây rốn không có hệ thống elastin lớp trong nên có tính đàn hồi kém hơn nhiều so với hệ thống các động mạch khác. Điều này trái ngược với tĩnh mạch dây rốn (Hình 1.3) Lớp cơ trơn thành động mạch chủ yếu tập trung gần lớp áo ngoài, trong khi càng vào trong lớp cơ trơn ngày càng mỏng đi. Lớp cơ trơn thành tĩnh mạch mỏng hơn nhiều so với động mạch. 7 Luận văn thạc sĩ Nguyễn Trung Kiên Hình 1.2: Giải phẫu mạch máu cuống rốn Hình 1.3: Hình ảnh cắt ngang tĩnh mạch (trái) và động mạch dây rốn (giữa, phải) trên tiểu bản nhuộm Von Gieson.
Chỉ thấy lớp elastin dưới nội mạc ở tĩnh mạch cuống rốn 1. Cấu tạo thành mạch 1. Thành phần tế bào Mạch máu gồm 3 lớp: lớp tế bào nội mạc, lớp cơ trơn và lớp áo ngoài [34] (Hình 1. Lớp tế bào nội mạc chỉ có một lớp tế bào duy nhất phủ toàn bộ mặt trong mạch máu giúp ngăn cách máu với tổ chức xung quanh, bên dưới là lớp tổ chức liên kết dưới nội mạc ngăn cách với lớp cơ trơn bởi một lớp elastin.
Lớp tế bào nội mạc có 3 đặc tính 8 Luận văn thạc sĩ Nguyễn Trung Kiên chính: không sinh huyết khối, giữ vai trò chủ động trong cung cấp dinh dưỡng cho các cấu trúc dưới nội mạc và giữ vai trò hàng rào đối với các đại phân tử và các hạt lưu hành trong máu. Lớp tế bào cơ trơn điều hòa quá trình co và giãn mạch. Sự co của các tế bào cơ trơn thành mạch có thể được kích hoạt bởi yếu tố cơ học (sự tăng áp lòng mạch) hoặc thuốc. Lớp ngoại mạc: có chứa các tận cùng thần kinh, tổ chức mỡ cạnh mạch và các thành phần liên kết (nguyên bào sợi và collagene) để mạch máu được cố định vào tổ chức xung quanh.4: Các thành phần tế bào thành mạch 1.
Chất nền ngoại bào của thành mạch Thành phần chính của thành mạch là chất nên ngoại bào (ECM). Ở thành mạch, ECM chiếm hơn một nửa khối lượng thành mạch, chủ yếu là collagens và elastin. Một số thành phần khác bao gồm: fibronectin, microbifrils, proteoglycan và glycoprotein. Thành mạch bình thường chứa nhiều loại chất nền với chức năng khác nhau có thể kể đến chất nền của lớp màng nền dưới nội mạc, chất nền lớp áo giữa, chất nền lớp áo ngoài chất nền kẽ.
9 Luận văn thạc sĩ Nguyễn Trung Kiên Đặc tính cơ học của thành mạch được cấu thành nhờ các thành phần của ECM, chủ yếu là collagen và elastin tạo ra bởi tế bào cơ trơn nằm trong lớp áo giữa. Elastin trong lớp áo giữa được cấu trúc mạng lưới 3 chiều có khả năng truyền tải áp lực đều khắp thành mạch. Giữa các lớp elastin là các bó collagene sắp xếp hỗn loạn khi áp lực lòng mạch thấp nhưng lại xếp vòng theo chu vi khi áp lực tăng dần [18]. Khi áp lực tăng dần, sự thay đổi bán kính thành mạch ngày càng ít đi do các sợi collagen tham gia vào quá trình bảo vệ thành mạnh khỏi việc giãn quá mức.