Mở đầu Chƣơng 1: Tổng quan tài liệu (từ trang 4 đến trang 20) Chƣơng 2: Đối tượng nội dung và phương pháp nghiên cứu (từ trang 21 đến trang 30 ) Chƣơng 3: Kết quả nghiên cứu và bàn luận (từ trang 31 đến trang 61) Kết luận và kiến nghị: từ trang 62 đến trang 63 Tài liệu tham khảo 4 CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Giới thiệu chung về cây ngô 1. Nguồn gốc và phân loại cây ngô Với những nghiên cứu về nguồn gốc cây trồng Vavilov (1926) đã chứng minh miền trung Mehico là trung tâm phát sinh thứ nhất và vùng núi Andet thuộc Peru là trung tâm phát sinh thứ hai của cây ngô.
Đặc biệt Harsberger (1893) đã kết luận ngô bắt nguồn từ một cây hoang dại từ miền trung Mehico ở độ cao 1500 m của vùng bán hạn có lượng mưa mùa hè khoảng 350 mm. Vào năm 1948 người ta đã tìm thấy hoá thạch của phấn ngô được khai quật ở Bellar Arter - Mehicô, điều này đã khẳng định những nhận định của Vavilov là đúng đắn [7]. Cây ngô ở Việt Nam có nguồn gốc từ Trung Quốc. Theo Lê Quý Đôn trong “Vân Đài loại ngữ”, Trần Thế Vinh là người huyện Tiên Phong (Sơn Tây, phủ Quảng Oai) sang sứ nhà Thanh lấy được giống ngô đem về nước.
Từ đó ngô được phát triển ra khắp đất nước [16]. Phân loại thực vật học cây ngô: Giới (regnum): Plantae Ngành (division): Magnolyophyta Lớp (class): Magnolyophyta Bộ (order): Poales Họ (famalia): Poaceae Chi (genus): Zea Loài (species): Z. mays Tên khoa học: Zea mays L. Có nhiều cách để phân loại ngô, một trong các cách đó là dựa vào cấu trúc nội nhũ của hạt và hình thái bên ngoài của hạt.
Ngô được phân thành các loài phụ: Ngô đá rắn, ngô răng ngựa, ngô nếp, ngô đường, ngô nổ, ngô bột, 5 ngô nửa răng ngựa. Từ các loài phụ dựa vào màu hạt và màu lõi ngô được phân chia thành các thứ. Ngoài ra ngô còn được phân loại theo sinh thái học, nông học, thời gian sinh trưởng và thương phẩm [16]. Đặc điểm thực vật học của cây ngô Rễ: Ngô giống như các cây hòa thảo khác có hệ rễ chùm.
Căn cứ vào hình thái vị trí và thời gian phát sinh có thể chia rễ ngô thành 3 loại: Rễ mầm (còn gọi là rễ mộng, rễ tạm thời, rễ hạt): phát triển từ rễ sơ sinh của phôi. Rễ đốt (còn gọi là rễ phụ cố định) phát triển từ các đốt thấp nhất của thân nằm dưới mặt đất 3 - 4cm, mọc vòng quanh các đốt dưới mặt đất bắt đầu lúc ngô được 3- 4 lá; rễ đốt làm nhiệm vụ cung cấp nước và các chất dinh dưỡng suốt thời kỳ sinh trưởng và phát triển của cây ngô. Rễ chân kiềng (rễ neo – rễ chống): là loại rễ đốt được mọc ở đốt gần sát trên mặt đất (thường mọc ở 2 hay 3 đốt cuối). Về hình thái rễ chân kiềng thường to nhẵn, ít phân nhánh.
Rễ chân kiềng ngoài nhiệm vụ chống đổ cho cây còn hút nước và chất dinh dưỡng. Sự phát triển của rễ: Hạt ngô mới nảy mầm, rễ mầm ra trước. Hai ngày sau từ rễ mầm sẽ mọc ra nhiều rễ non. Khoảng 7 – 10 ngày sau lớp rễ đốt đầu tiên xuất hiện và 16 – 17 ngày sau có 2 -3 lớp rễ đốt và sau đó cứ 5 – 7 ngày ra thêm được một lớp rễ dưới.
Theo thứ tự các lớp rễ đốt phát sinh dần từ dưới lên trên tạo nên một hệ rễ chùm. Thân: Thân ngô có đường kính khoảng 2-4 cm tùy thuộc vào giống, chế độ chăm sóc. Thân ngô có thể cao từ 2-4m. Chiều dài của các lóng khác nhau và nó được xem xét như một đặc điểm có giá trị trong việc phân loại các giống ngô.
Lóng mang bắp được kéo dài thích hợp để bắp ngô có thể định vị và phát triển. Qua các thời kỳ thân phát triển với tốc độ khác nhau. Thời kỳ đầu, thân phát triển chậm về sau nhanh dần biểu hiện rõ rệt trong hai pha của giai đoạn sinh trưởng sinh dưỡng. Khi hoa đực phơi màu, bắp phun râu, cây 6 vẫn tiếp tục lớn tuy tốc độ rất chậm.
Sau khi thụ tinh cây ngô ngừng sinh trưởng. Lá: Sau khi bao lá mầm nhú lên khỏi mặt đất, những lá bắt đầu mọc theo thứ tự thời gian. Căn cứ vào hình thái và vị trí trên thân có thể chia làm 4 loại lá: Lá mầm là lá đầu tiên khi cây còn nhỏ, chưa phân biệt được phiến lá với vỏ bọc lá. Lá thân là những lá có mầm nách ở kẽ chân lá hay những lá mọc trên những đốt thân.
Lá ngọn là những lá ở phần trên của bắp trên cùng hay những lá mọc ở trên các đốt ngọn, không có mầm nách ở kẽ lá. Lá bi là những lá bao bắp. Các bộ phận của lá gồm: bẹ lá, phiến lá, thìa lìa hay tai lá. Hoa ngô gồm: Hoa tự đực (bông cờ) bao gồm các hoa đực sắp xếp theo kiểu chùm bông được gọi là bông cờ gồm một trục chính, trên trục chính phân làm nhiều nhánh và trên mỗi nhánh và cả trên trục chính có nhiều giá (hay bông nhỏ, bông chét, nhánh nhỏ).
Hoa tự cái (hay bắp ngô) được sinh ra từ nách lá phần giữa thân. Bắp ngô gồm các bộ phận chính như cuống bắp và lõi bắp. Thời gian sinh trưởng của cây ngô từ khi gieo đến khi chín trung bình từ 90-160 ngày. Thời gian sinh trưởng dài, ngắn khác nhau phụ thuộc vào giống và điều kiện ngoại cảnh.
Sự phát triển của cây ngô có thể chia ra làm hai giai đoạn: + Giai đoạn sinh trưởng dinh dưỡng gồm hai chu kỳ: Ở chu kỳ đầu những lá đầu tiên được hình thành và tiếp tục phát triển. Việc sản xuất chất khô ở chu kỳ này chậm, nó kết thúc khi mô tế bào bắt đầu phân hóa hình thành cơ quan sinh sản. Ở chu kỳ thứ 2, các lá và cơ quan sinh sản phát triển, chu kỳ kết thúc với sự xuất hiện của nhị cái. + Giai đoạn thứ hai là giai đoạn sinh trưởng sinh thực.
Bắt đầu với việc thụ tinh của các hoa cái. Pha đầu của giai đoạn này có đặc điểm là tăng trọng 7 lượng lá và những phần hoa khác. Suốt pha thứ hai trọng lượng của hạt tăng nhanh [5], [16]. Thời vụ và một số yêu cầu sinh thái của cây ngô Gieo đúng thời vụ với ngô là rất cần thiết, gieo quá sớm gặp hạn, rét ngô sinh trưởng phát triển yếu, năng suất kém.
Ở nước ta có thể gieo ngô quanh năm. Tuy nhiên từng vùng có thời vụ chính khác nhau. Thời vụ trồng ngô vùng duyên hải miền Trung có 2 vụ: vụ 1: gieo vào tháng 1, vụ 2: gieo vào tháng 4- tháng 5. Mỗi một giai đoạn sinh trưởng, cây ngô yêu cầu về điều kiện sinh thái khác nhau.
Ngô là cây trồng ưa khí hậu ẩm, nhiệt độ thích hợp vào khoảng 25-300C. Nhiệt độ tối ưu từ 25-300C, nhiệt độ tối thấp nhỏ hơn 100C, nhiệt độ tối cao lớn hơn 400C. Đối với ngô, năng suất cao, phẩm chất của hạt tốt khi trồng trong điều kiện chiếu sáng mạnh. Bên cạnh đó, nước là yếu tố quan trọng đối với ngô.
Một cây ngô trong một vòng đời cần 200 lít nước để sinh trưởng, phát triển và tạo năng suất. Một hecta cần 3000-4000 m3, tương đương với lượng mưa 300 mm-400 mm và được phân bố đều suốt vụ gieo trồng. Nhu cầu về nước và khả năng chịu hạn của cây ngô qua từng thời kỳ sinh trưởng có khác nhau. Ở thời kỳ đầu ngô phát triển chậm, tích lũy ít chất xanh nên không cần nhiều nước.
Ở thời kỳ 7 - 13 lá cây ngô cần từ 28 - 35 m3, nước/ngày/ha. Thời kỳ xoắn nõn, trỗ cờ, phun râu cần 65 - 70m3 nước/ngày/ha [5]. Điều kiện thời tiết khí hậu tại khu vực thí nghiệm Diễn biến một số yếu tố thời tiết cơ bản trong thời gian triển khai thí nghiệm tại nơi nghiên cứu được trình bày ở bảng 1. Diễn biến một số yếu tố thời tiết cơ bản trong thời gian thí nghiệm (Từ tháng 12/2019-3/2020) Tháng Nhiệt độ Lƣợng mƣa Độ ẩm Số giờ nắng trung bình (0C) (mm) (%) (giờ) Tháng 12 /2019 23,5 37,3 79 143 Tháng 01/ 2020 23,6 5,4 84 183 Tháng 02/ 2020 23,2 12,3 84 177 Tháng 03/ 2002 25,8 0,4 85 274,8 (Nguồn: Trung tâm dự báo Khí tượng thủy văn Bình Định năm 2019, 2020) Về nhiệt độ: Trong thời gian triển khai thí nghiệm, nhiệt độ trung bình giữa các tháng chênh lệch không lớn, dao động trong khoảng 23,2-25,80C.
Đây khoảng nhiệt độ phù hợp để ngô nếp nảy mầm, sinh trưởng và phát triển tốt. Về lượng mưa: Lượng mưa của các tháng trong thời gian thí nghiệm đều thấp. Trong đó, tháng 01 là thời điểm chúng tôi tiến hành gây hạn với tổng lượng mưa của tháng 5,4 mm, thuận lời cho việc tiến hành gây hạn cho cây ngô. Độ ẩm: Trong thời gian thí nghiệm, độ ẩm không khí dao động 79%- 85% rất phù hợp với nhu cầu về độ ẩm của cây ngô.
Về số giờ nắng: Tổng số giờ nắng/ tháng trong thời gian thí nghiệm khá cao và khá đồng đều, giúp cây sinh trưởng, phát triển và tạo năng suất tốt. Số giờ nắng dao động từ 143-274,8 giờ. Giá trị của cây ngô 1. Giá trị dinh dưỡng của cây ngô Ngô là loại hạt ngũ cốc rất có lợi cho sức khỏe.
Hạt ngô có giá trị dinh dưỡng cao, trong hạt ngô có chứa tương đối đầy đủ các chất dinh dưỡng cần thiết cho người và gia súc. Hạt ngô có hàm lượng protein và lipid nhiều hơn 9 trong hạt gạo. Ngô giàu chất xơ, nhiều vitamin, khoáng chất và chất chống oxy hóa. Bắp ngô thường có màu vàng, một số loại có màu khác như đỏ, cam, tím, xanh, trắng và màu đen.
Ngô chủ yếu bao gồm carbohydrates, có một lượng nhỏ protein và chất béo. Ngô chứa khoảng 72% carbohydrates, 10% protein và 4% lipid, cung cấp năng lượng khoảng 365 kcal/100 g [4]. Tinh bột là thành phần chính trong ngô, chiếm 28-80% trọng lượng khô. Ngô cũng chứa một lượng đường (1-3%).
Hàm lượng chất xơ của các loại ngô khác nhau, nhưng nhìn chung chất xơ chiếm khoảng 9-15%. Chất xơ chủ yếu trong ngô là chất xơ không hòa tan, như hemicellulose, cellulose và lignin. Tùy thuộc vào giống ngô, hàm lượng protein trong ngô khoảng 10%. Các protein có nhiều nhất trong ngô được biết đến như zeins, chiếm 44-79% tổng lượng protein.
Nhìn chung, chất lượng protein của zeins là nghèo vì nó thiếu một số acid amin thiết yếu, chủ yếu là lysine và tryptophan. Hàm lượng chất béo của ngô nằm khoảng 5-6%, khiến ngô trở thành một loại thực phẩm ít chất béo.