Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận về khả năng áp dụng chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế IFRS 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu về khả năng áp dụng chuẩn mực BCTC quốc tế IFRS 1. Tổng quan nghiên cứu nước ngoài Theo IASB năm 2016, có 137 quốc gia và vùng lãnh thổ đã cam kết áp dụng IFRS, trong đó 15 nước cho phép miễn trừ nghĩa vụ lập và trình bày báo cáo tài chính theo chuẩn mực kế toán quốc gia nếu đã sử dung IAS. Các tô chức quan trọng như World Bank, IMF, G20 và một số tổ chức khác cũng ủng hộ việc áp dụng IFRS ở các quốc gia.
Australia đã là một trong những quốc gia đầu tiên áp dung IFRS, và đã chuyền đổi từ chuẩn mực kế toán quốc gia sang IFRS từ năm 2002 và chính thức chuyển sang áp dụng IFRS từ ngày 01/01/2005. Các công ty niêm yết ở Australia và tất cả loại hình còn lại, ngoại trừ những công ty rất nhỏ không niêm yết đều phải áp dụng IFRS. Về Pháp, nước này đã tham gia quá trình hội tụ kế toán thông qua Liên minh châu Âu từ cuối thập niên 1970. Phương thức hội tụ kế toán quốc tế của Pháp là duy trì tồn tại 3 hệ thống áp dụng cho 3 đối tượng khác nhau, trong đó việc hội tụ với chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế IFRS chỉ diễn ra đối với báo cáo hợp nhất các công ty đại chúng.
Đối với các doanh nghiệp không phải đại chúng, các quy định kế toán chỉ được điều chỉnh theo hướng hội tụ khi cần thiết và thích hợp. Trong giai đoạn hội tụ sâu hơn, Pháp có khuynh hướng địa phương hóa chuẩn mực quốc tế dé phủ hợp với yêu cầu và đặc điểm của quốc gia, đặc biệt là đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ. 17 Tương tự như Australia và Pháp, Trung Quốc đã thiết lập chuẩn mực kế toán từ năm 1988. Tuy nhiên, trước áp lực của việc hội nhập kinh tế thế giới, Trung Quốc đã chấp nhận xây dựng hệ thống chuẩn mực kế toán mới theo hướng hội tụ kế toán quốc tế trên cơ sở IFRS gồm 38 chuẩn mực kế toán có hiệu lực từ năm 2007.
Bộ Tài chính Trung Quốc đang tiếp tục sửa đôi chuan mực kế toán quốc gia theo hướng phù hợp hơn với IFRS, tuy nhiên, cơ quan này chưa thông báo bat kỳ kế hoạch nào nhằm áp dụng trực tiếp các IFRS tai Trung Quốc. Như vậy, tại Trung Quốc, việc áp dung IFRS được thực hiện thông qua quá trình ban hành và kết hợp vào hệ thống chuẩn mực kế toán quốc gia. Tại Hàn Quốc, từ tháng 02 năm 2006 đến tháng 03 năm 2007, Hàn Quốc triển khai công việc xây dựng “Lộ trình đưa IFRS vào áp dụng ở Hàn Quốc” song song với việc dịch thuật IFRS, đăng tải và lấy ý kiến tham gia của các đối tượng liên quan. Lộ trình áp dụng IFRS được công bố vào tháng 03 năm 2007, và đến tháng 11 năm 2007 bản dịch nguyên văn IFRS sang tiếng Hàn Quốc được hoàn thành và sau khi các thủ tục hành chính do Ủy ban Giám sát Tài chính Hàn Quốc (FSC) được hoàn tất, K-IFRS chính thức có giá trị pháp lý dé áp dụng tại Hàn Quốc.
Theo đó, các đối tượng bắt buộc và không bắt buộc áp dụng K-IFRS được quy định như sau: Các công ty niêm yết hoặc chuẩn bị niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán Hàn Quốc, các tổ chức tài chính (có hoặc không có niêm yết), doanh nghiệp Nhà nước và các đơn vị có lợi ích công chúng khác đều thuộc diện bắt buộc áp dụng chuẩn mực K-IFRS cho các BCTC riêng và BCTC hợp nhất.